Tiếng Việt :  Diễn Đàn Viện Việt Học
Diễn đàn thảo luận về mọi đề tài liên quan đến tiếng Việt, nguồn gốc tiếng Việt, v.v ... 
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: 12Next
Current Page: 1 of 2
Chữ biểu ý Lạc Việt >4000 năm
Posted by: fanzung (IP Logged)
Date: January 03, 2012 05:41AM
TIN NÓNG ĐÂY CÁC BÁC !

Mạng Trung Quốc vừa đưa tin ngày 26/12/2011 (sau ngày Noel, trước Tết Dương lịch) :
[news.cntv.cn]

Đại ý :
Tại huyện Bình Quả, tỉnh Quảng Tây vừa khai quật được hơn chục mảnh đá có khắc hơn ngàn ký tự biểu ý cổ Lạc Việt.

Các chuyên gia TQ nhận định niên đại của các mảnh đá này là vào thời đại đồ đá mới, cách nay 4000-6000 năm tức là vượt xa niên đại của chữ giáp cốt Hoa Hạ (cách nay khoảng 3000 năm, xem [vi.wikipedia.org]) !




Tại hạ dịch chữ giản thể TQ hiện đại rất kém, nhờ Lí tiên sinh dịch giúp cả bài nhé ? Cám ơn trước !

===
Huyện Bình Quả ở tây bắc Nam Ninh, cách Nam Ninh khoảng 100km, cách Cao Bằng khoảng 150km đường chim bay, các bác vào [maps.google.com] đánh chữ 平果县 vào ô search sẽ thấy.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt >4000 năm
Posted by: fanzung (IP Logged)
Date: January 03, 2012 11:29PM




BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU QUAN HỆ NGÔN N






BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU QUAN HỆ NGÔN NGỮ



CỦA CÁC NHÓM TỘC LẠC VIỆT CỔ


Bài viết đã
gởi hội thảo Nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa, giáo dục Trung Quốc-Việt Nam tại
Nam Ninh, Quảng Tây ngày 16/12/2011


Xem:


[
guangxi.liuxue51.net]; <br>

[
www.chinanews.com]; , </span>


I. Đặt vấn đề :


Việc các nhóm người thuộc các ngữ hệ
khác nhau Choang, Lê (ngữ hệ Thái-Kadai), Di (ngữ hệ Hán Tạng), Việt, Mường
(ngữ hệ Môn-Khmer) đều được sử sách Trung Quốc gọi chung là Lạc Việt hẳn
phải có một lý do nào đó. Về văn hóa thì các nhóm này có đặc điểm nổi bật và
dễ thấy nhất là có sử dụng trống đồng, nhưng còn về ngôn ngữ, chữ viết thì
sao? bài viết này bước đầu sẽ chỉ ra một vài điểm chung trong ngôn ngữ của
các nhóm tộc Lạc Việt, về chữ viết sẽ có một bài khác.


II. Một số tư liệu về quan hệ ngôn
ngữ trong nhóm Lạc Việt:


1. Ngựa (mã
):


 




Phần lớn các nhóm Tai-Kadai (trong đó
tộc Choang là chính) đều gọi ngựa là "Mã", giống với tiếng Hán, nhưng vẫn có
một số nhóm gọi khác ! Hình chụp trên cho thấy Ba Cáp và Lang Giá gọi ngựa
là "nga", Hạn Lạp Cáp đọc là "ihɛ", người Lê gọi là "ka"  (tạm không quan
tâm tới dấu thanh).


Tra trên bản đồ Google thì Lang Giá
郎架
 
ở Quý Châu, còn Ba Cáp
巴哈
ở phía bắc tỉnh Quảng Tây, sát gần địa giới tỉnh Quý
Châu chứ không gần biên giới Việt Nam, cả hai vùng này đều khá xa với vùng
đồng bằng sông Hồng là đất bản bộ của người Việt, vậy mà lại gọi con ngựa là
"nga" rất giống người Việt !


2. Ngủ (thụy
):




Tương tự từ "ngựa" là từ "ngủ". Các
nhóm Tai-Kaidai chính là Choang và Đồng gọi là "nin", "nun" (đọc gần như
"nân"winking smiley người Tày đọc là "nòn" (theo Từ Điển nôm Tày, Hoàng Triều Ân chủ
biên). Nhưng An Thuận gọi là "ngka", Lục Chi và Ba Cáp gọi là "ngu", Lang
Giá là "?u". Thủy Lạp Cáp là "ngau", Hạn Lạp Cáp là "?ow", Lê là "kau"...
Đều có liên hệ gần với tiếng Việt "ngủ", trong đó Lục Chi và Ba Cáp  trùng
hoàn toàn với tiếng Việt "ngu" (nếu không quan tâm thanh điệu). 


Điều đáng quan tâm nữa là, An Thuận ở
ngay gần Quý Dương thủ phủ tỉnh Quý Châu, còn đặc khu Lục Chi ở khoảng giữa
tỉnh Quý Châu giáp với tỉnh Hồ Nam, cũng giống như An Thuận là  rất xa biên
giới Việt Nam hiện nay, còn Ba Cáp tuy ở Quảng Tây nhưng sát địa giới Quý
Châu chứ không gần biên giới với VN (xem bản đồwinking smiley :

[
www.guang.net]winking smiley </span>




Trên diễn đàn Việt học (viethoc.org)
người viết đã dẫn trang WEB của chính người TQ (
[www.12edu.cn] style="font-size: 14.0pt" lang="VI">
), trang đó đã gọi vùng lưu vực sông Tương ở Hồ Nam
là "Cổ Lạc Việt Chi Địa", mà từ Lục Chi xuôi theo dòng Trường Giang không xa
là tới vùng Tương Giang đổ vào Hồ Động Đình, là đất cổ của người Việt (Kinh)
theo truyền thuyết.


Chú ý âm "ngka" của An Thuận có thể
dùng làm trung gian giải thích âm "ka=ngựa" và "kau=ngủ" của người Lê ở Hải
Nam, có thể âm cổ xưa là "ngka" và "ngkau", về sau tiếng Lê đã rụng tiền âm
tiết "ng-".


3. Đầy (mãn
滿):




An Thuận gọi đầy là "tei" (tây), nếu để
ý rằng phụ âm "đ-" của tiếng Việt vốn tương ứng "t-" của tiếng Mường, còn
bảo lưu nhiều tiếng Việt cổ, tức là thời xưa tiếng Việt đọc "đầy" là "tầy",
thì có thể nói rằng tiếng "tây" của An Thuận hoàn toàn giống tiếng Việt Cổ.


4. Về chữ "ngưu" là "bò" hay "trâu" ?


Trích "Đồng-Thái ngôn ngữ dữ văn hóa",
xem  tài liệu tham khảo (3) :



 





Tư liệu sách của TQ ở hình trên thấy
trình bày khá dài, viện dẫn tới cả âm thượng cổ (nguyên thủy Đồng Thái ngữwinking smiley,
xin tóm lược như sau:


- Thủy ngưu là con trâu được xác định
là sản vật riêng của Lĩnh Nam, âm đọc khá thống nhất là "vai" (tiếng Choang)
hay gần như "kuai" (tiếng Thái).  


- Hoàng ngưu tức con bò thì tên gọi có
nhiều sai biệt.

Nhóm 1 : "po, pu, peu..." gần với "bò"
của tiếng Việt

Nhóm 2 : "mo, mua..." gần với âm "mò",
là con bò trong tiếng Mường

Nhóm 6 : "ngu, ngiu..." chắc do ảnh
hưởng của tiếng Hán (ngưu

,
âm pinyin là niu).


Còn các nhóm kia khá lộn xộn, trong đó
có nhóm Choang Liễu Giang gọi bò là "tsw" tức là gần với "tru" của tiếng
Việt-Mường cổ, chính là con trâu, và một nhóm Choang nữa ở Vũ Minh gọi là "
ɕɯ",
cả "tsɯ" và "
ɕɯ"
đều có liên hệ ngữ âm gần với chữ "sửu" trong tên 12 con giáp.


Các thông tin trên cho thấy quan hệ móc
nối dây truyền : Sửu=>Tru=>Trâu=>Ngưu=>Bò mà tác giả Nguyễn Cung Thông từng
đề cập trong thuyết về "nguồn gốc VN của 12 con giáp" không phải không có
căn cứ. 


5. Tư liệu bổ sung về tên gọi con trâu
trong tiếng Di:


Về nhóm người Di (Bộc), vốn là nhóm tộc
bản địa cổ xưa ở vùng trung lưu Trường Giang (Hồ Bắc và Hồ Nam), địa bàn cư
trú khá gần nhóm Lạc Việt (có tài liệu TQ nói lưu vực Tương Giang "cổ Lạc
Việt chi địa" cũng từng có người Di Bộc sinh sống). Ngôn ngữ nhóm này hiện
được xếp vào họ Hán Tạng, nhưng có thể đã có nhiều tiếp xúc trao đổi với các
nhóm Lạc Việt, ví dụ từ "ngưu

"
(trâu-bò) tiếng Di là "lɯ" (đọc gần như lu), khá gần với "t-lu", "tru",
"trâu" trong ngôn ngữ Việt-Mường cổ, xin xem hình chụp lại từ cuốn "Trung
Quốc thiểu số dân tộc ngôn ngữ":




Tên địa danh của các nhóm Di-Bộc cũng
thường có tiền âm tiết "cổ", "cù", "kẻ" giống các nhóm Lạc Việt, xem phần
dưới.


 


6. Thổi
:




Liên Sơn và Phù Tuy gọi "xuy
"
là "tshui" gần với "thổi" của tiếng Việt (xuy hỏa=thổi lửa) .


6.  Hợi, Đồn = Cúi, Lợn.




Các nhóm tộc chính trong ngôn ngữ
Tai-Kadai đều gọi con lợn (heo, dã trư

野猪)
là "mu". Riêng nhóm Choang vùng Liễu Giang và Nghi Sơn gọi là "hjai" gần với
"hợi
",
theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông thì "hợi" có nguồn gốc từ "cúi" của
người Việt. Ngoài ra có các nhóm Ung Bắc, Khâu Bắc còn gọi dã trư là "tun",
"tu:n", cũng gần với âm "đồn" là tiếng gọi con lợn ở một số địa phương VN.


Tra cứu địa đồ lần nữa thì Liễu Giang
và Nghi Sơn đều ở phía bắc của Nam Ninh, thủ phủ Quảng Tây, chứ không phải ở
vùng biên giới tiếp giáp VN.


7. Khâu Bắc gọi ba tiêu
芭蕉
là "chuối" (cây chuối) :




 


8. Vũ Minh gọi "kỵ
"
là "cưỡi":




III. Quan hệ trong các tên địa danh
Lạc Việt.


Tư liệu từ sách “Đồng-Thái ngữ ngôn dữ
văn hóa”, Lý Cẩm Phương, Dân tộc xuất bản xã, Bắc Kinh, 2002.
Trang
289 -290 :


 





Lược dịch:


Các từ chỉ địa danh Câu
(cẩu ), Cô, Giao phân bố khắp cả đông tây của đất Bách Việt như: Câu chương,
Câu dung, Câu ngô, Câu vô, Câu dịch, Câu dương, Câu Dũng đông, Câu dư chi,
Câu đinh, Cô hùng di, Cô phát nhiếp phản, Cô mạc, Cô hạ, Cẩu lậu, Cô tô, Cô
tăng, Cô miệt, Giao chỉ.


Các chữ đầu địa danh có
lúc có thể tỉnh lược, như Câu Dịch, Câu Dũng Đông cũng viết Dịch, Dũng Đông,
điều này cho thấy chữ “câu” là chữ đặc trưng để chỉ tên. Các chữ chỉ tên này
có âm thượng cổ Hán ngữ là : câu=ku9, cẩu=*kugx , cô=*kag,
giao=*kragw. Các chữ đó đều thuộc Kiến mẫu (),
có vận bộ gần nhau, nên âm đọc rất gần, đều là chữ ghi âm tên chỉ làng xóm
trong các nhóm Bách Việt.


Nhóm ngữ tộc Đồng - Thái
có nhiều thứ tiếng, mà đều gọi thôn trại là “bản”, Tráng tộc còn đọc là  ka1baan3,
âm đầu “ka1” (ke) chỉ dùng làm từ đứng đầu tên thôn trong Tráng
ngữ (chứ không dùng đơn), hiện nay thường được viết là "gia": Gia vi, Gia
đảng, Gia đồn, Gia phong, Gia hoà, Gia thị vân vân ...


Các kiểu địa danh này số
lượng không thật nhiều nhưng địa vực phân bố lại rộng, nhiều khả năng là di
tích cổ ngữ.


Tiếng Ngật Ương còn bảo
lưu khá nhiều thành phần Đồng Thái ngữ cổ xưa, tiếng Ngật Lão trong địa danh
cũng thêm tiền âm “qă”. Như An Thuận ở Quý Châu có “qɒ33ɳtçi
13" (Loan tử trại), ở Bình Bá có qɒ33mpau73
(Cẩu trường). Các âm câu, cô, giao với ka, qă khá gần nhau, chính là ghi âm
của từ đầu chỉ địa danh vùng Bách Việt (chủ yếu là tên xóm làng).


Giao Chỉ
về sau viết Giao Chỉ
, người xưa nhìn chữ mà sinh
nghĩa, nên nói “Người phương
Nam
, ngón chân cái cong vẹo, khi đứng thẳng
thì các ngón chân này giao nhau, nên thành danh !”. Phạm Thành Đại đời Tống
trong “Quế hải ngu hành chí” từ rất sớm đã phê phán, bác bỏ cách giải thích
này. Sau đời Hán tại quận Giao Chỉ cũ từng lập các huyện Giao Hưng, Giao
Cốc, chữ Giao đó vẫn là theo từ đầu địa danh trong tiếng Bách Việt mà ra.


Câu còn dùng làm từ đầu
trong tên người vùng Bách Việt, như:  Câu Tiễn, Câu Dư.


Các từ này với các từ chỉ
địa danh vốn bất đồng. Đồng Thái ngữ có một số danh từ chỉ người mà chữ đầu
có âm gần với “câu ”. Chẳng hạn như: Mao Nam có từ  ka6laau4
(trượng phu ), Thuỷ có qa3man1 (tha môn ), Ngật Lão 
có qɒ3tau5 (nam nhân ), qɒ33ʐɒ13
(nữ nhân ). Chữ "câu"  ở đầu các tiếng chỉ người này có khả năng liên quan
với các từ chỉ tên người, chính là chữ thường đặt ở đầu tên người trong Bách
Việt ngữ.


Toàn bộ đoạn trên trích từ
sách của TQ, cho thấy chính các nhà nghiên cứu người Trung Quốc cũng đã
thẳng thừng bác bỏ lối giải thích mang tính miệt thị, rằng tên gọi Giao Chỉ
nghĩa là “ngón chân giao nhau” !


Các địa danh bắt đầu bằng
tiếng Kẻ (như Kẻ Chợwinking smiley, Cổ (như Cổ loa) có mặt dày đặc trên vùng đồng bằng
bắc Bộ và Thanh Hóa, đều có quan hệ với các âm cô, cẩu, giao, gia… của các
nhóm tộc Choang, Di ở TQ.


Sau đây phân tích kĩ hơn
tên gọi Kẻ Chợ:


- Nhiều bài viết (như
bài viết của GS Ngô Đức Thọ trên Văn hóa Nghệ An:




[
vanhoanghean.vn]winking smiley
đã khẳng định Giao Chỉ
chính là
phiên âm của Kẻ Chợ:


Trên trang
WEB :



[
tool.httpcn.com];
 cũng chú chữ “giao
thượng cổ âm là “ke?” (Xem phần “Cơ bản giải
thích”, mục “Âm vận tham khảo”), âm này trùng với âm Việt cổ “kẻ”, gián tiếp
khẳng định “giao chỉ”= “kẻ chợ”
.


- Âm thượng
cổ của

theo Karlgren phục nguyên là 
ko ̆g
, còn Vương Lực phục nguyên là

keô,
có lẽ dạng
ko ̆g
đã đưa đế âm “cổ”, còn dạng

keô
có thể đưa đến cả âm “kẻ” và “cổ”, cả cai dạng này đều cực kì thông dụng
trong các địa danh ở đồng bằng Bắc Bộ, như Cổ Loa, Kẻ Lũ .v.v. xem thêm tư
liệu :



[
vanhac.org] style="font-size: 9.0pt">
 


- Chợ tức
“thị”

Vương Lực khôi phục âm thượng cổ là 

ʑiə
khá gần âm “chợ” của tiếng Việt, “chỉ” “

hay

cũng thế, Vương Lực khôi phục âm thượng cổ là

tɕiə ,
Baxter khôi phục là

tjəʔ
, cũng gần với âm “chợ” của người Việt.


- Nảy ra
câu hỏi vì sao người TQ khi lập chính quyền đô hộ lại đặt tên nước ta là
“Giao Chỉ
交阯”.
Theo phân tích của chúng tôi thì tên Giao Chỉ= Kẻ Chợ là do người ở vùng đất
Ngô-Sở-Việt đã dùng để gọi đất nước Văn Lang từ lâu trước thời Tần, dựa theo
tên của vùng kinh đô Văn Lang mà người Văn Lang gọi là Kẻ Chợ, người vùng
Ngô-Sở-Việt thời Tiên Tần đã ghi âm “chợ” bằng chữ Hán “chỉ”, đến thời Hán
khi thôn tính Văn Lang và đặt thành quận huyện thì người Hán cũng chỉ dùng
lại tên và chữ có sẵn thời tiên Tần đó thôi. Chú ý là Sử Ký của Tư Mã Thiên
và sách Quế Hải Ngu Hành Chí của Phạm Thành Đại đời Tống đều dùng chữ chỉ bộ
phụ
,
không phải chữ chỉ

là chân. Còn nghĩa “ngón chân” của


thì tra Khang Hy tự điển cũng không hề có, không hiểu
từ thời nào có cách giải thích tầm bậy “chỉ là ngón chân, nên giao chỉ là
ngón chân giao nhau”. Phải chăng vì đã có chữ chỉ bộ thủ


ngón tay nên người ta liên tưởng ra chỉ


bộ túc phải là ngón chân? trong khi thực ra nó có
nghĩa là chân chứ không phải riêng ngón chân.


Chú ý câu
"Mầy ở kẻ nào?" đã có trong Từ điển Việt Bồ La của A.D. Rhode, 1651 - nghĩa
là "Quê bác ở đâu? ...", rõ ràng kẻ có nghĩa là “vùng”, “xứ”. Còn chợ thì
Chỉ Nam Ngọc Âm có chú “Bang Kỳ - Kẻ Chợ khỏe bền muôn thu”, tức chợ là chỗ
kinh đô, tương đương thị


trong chữ thành thị
城市,
chứ không phải chỉ có nghĩa hẹp “chợ là chỗ mua bán”.






 






Bang kỳ: KẺ CHỢ khoẻ bền muôn
thu



邦畿:几助劸卞門秋



(Ảnh từ các bản
Chỉ Nam Ngọc Âm do GS Ngô Đức Thọ công bốwinking smiley



 


- Nhân tiện
bàn thêm về tên thành "Cổ Loa

古螺"
thời An Dương Vương, đây chắc chỉ là phiên âm Hán của một tên Nôm, chữ Cổ ở
đầu là từ chỉ địa danh, cũng là một dạng phiên âm của “kẻ”, chứ không có
nghĩa là "cổ, cũ" như nhiều người hiểu lầm (thời An Dương Vương thành vừa
mới xây xong, làm sao lại cổ được ?)


 




Tài liệu tham khảo:



  1. "Về niên đại ra đời chữ Nôm Choang
    và chữ Nôm Việt" [Discussing about the history arising of Zhuang script
    and Nôm script], Tạp chí Hán Nôm [Han Nom Research Quartely], No. 1
    (104)/2011.

  2. “Đi tìm lý giải khoa học về con số hơn bốn ngàn
    năm lịch sử Việt Nam
    [In search for a scientific evidence for the 4,000 year history of
    Vietnam
    ], Tạp chí Nghiên Cứu và Phát
    Triển [Journal of Research and Development], No. 5(82)/2010

  3. "Đồng-Thái ngôn ngữ dữ văn hóa", Lý Cẩm Phương,
    Dân tộc xuất bản xã, Bắc Kinh - 2002.

  4. “Từ điển chữ Nôm Tày”, Hoàng Triều Ân chủ biên,
    Trung tâm khoa học xã hội và nhân vǎn quốc gia, Viện nghiên cứu Hán Nôm,
    NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - 2003.

  5. Cổ Tráng tự tự điển “古壯字字典”,
    tổ trưởng tổ biên tập Tô Vĩnh Cần
    苏永勤, Quảng Tây
    Dân tộc Xuất bản xã. 1989. Bản điện tử (PDF). 


  6. 中国音韵学研究(

    高本汉
    法语原著)Bernhard
    Karlgren Etudes Sur La Phonologie Chinoise (Stockholm 1915 - Gotembourg
    1926). Bản PDF. 


  7. 中上古汉语音的纲要、

    高本汉、
    齐鲁书社、
    济南。
    1987

  8. The Austroasiatics in Ancient South China,
    梅祖麟言语学论文集。
    商务印书馆出本。2000

  9. Trung nguyên âm vận (Chu
    Đức Thanh, 1324, bản scan không có thông tin  năm
    in lại)

  10. "A Handbook of Old Chinese
    Phonology" GS William Baxter (1992, New York, Berlin)
    .




  11.  “


    字典”,Vương
    Lực
    “Cổ Hán ngữ tự điển”.

  12. 從原始漢藏語到上古漢語-以及原始藏緬語的韻母演變
    . 龔煌城
    Cung Hoàng Thành
    中央研究院
    ,
    第㆔屆國際漢學會議論文集語言組
    2003.


  13. 中国少数民族语言
    Trung Quốc thiểu số dân tộc ngữ ngôn, Tứ Xuyên Dân tộc
    Xuất bản xã. 1987. Bản điện tử (PDF). 


  14. 中国少数民族语言
    Trung Quốc thiểu số dân tộc văn tự. 1991, không có thông
    tin NXB và tác giả vì không có trang bìa. Bản điện tử (PDF).

  15. Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nguyễn Tài
    Cẩn, NXB Giáo Dục, Hà Nội. 1995

  16. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán
    Việt. Nguyễn Tài Cẩn. NXB Đại học Quốc gia , Hà Nội. 2000


Các trang mạng :





  1. [
    www.guang.net];
    bản đồ tỉnh Quý Châu




  2. [
    vanhoanghean.vn];



  3. [
    vanhac.org];



  4. [
    www.viethoc.org];


  5. [
    baike.baidu.com] lang="FR"> trang
    nghiên cứu về chữ Choang




  6. [
    www.12edu.cn] lang="FR"> 


 






Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Trần Anh Mỹ (IP Logged)
Date: January 14, 2012 03:26PM
Đặt vấn đề đã sai ngay trong đầu rồi.
Sai ở chỗ tiên đề là mấy ngôn ngữ khác nhau thuộc các ngữ hệ
khác nhau. Thế mà lại có "chung" thì chung làm sao được?
Phải đặt vấn đề là "giống" mới đúng chứ!
*
Hay là tác giả có ý đồ gộp chung lại để nhét cho vừa cái "Lạc Việt?"
*
Nếu đi tìm sự giống nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh, thì sẽ
ra nhiều chuyện rất hay để cười với nhau, nhưng tìm những cái
chung của tiếng Việt và tiếng Anh thì thật vô nghĩa.
*
Đi tìm cái chung của 3 ngôn ngữ gốc Kh'Me, Hán, và Thái thì
để tìm chuyện cười chăng? Hay tìm về khi người từ châu Phi
đến Đông Nam Á thì nói tiếng gì?
*

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: fanzung (IP Logged)
Date: January 14, 2012 03:42PM
Chỉ là cách nói thôi, đúng Choang và Việt thuộc hai ngữ hệ khác nhau, nhưng có những từ vay mượn của nhau, hoặc cùng vay mượn của tiếng Hán, tại hạ gọi đó là những từ chung gốc, còn các chuyên gia ngôn ngữ gọi là cái khỉ gì thì tại hạ không rõ.

Ví dụ: Vũ Minh gọi Kỵ là Cưỡi, GIỐNG tiếng Việt. Tại hạ nghĩ là CHUNG gốc, có thể xuất phát từ KỴ của tiếng Hán, âm thượng cổ Hán theo Vương Lực là "giai" (không đọc như "dai" của các bác Bắc Kì mà gần như "kưai" ).

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Trần Anh Mỹ (IP Logged)
Date: January 17, 2012 01:21PM
Tôi là Bắc Kỹ đặc đây, mà bác fanzung lại chừa tôi ra thì không công bằng.
Tôi vẫn nói "giai" được mà, ví dụ "con trai" thì có lúc nói là "con giai."
Đẹp Trai thì đôi lúc nói là Đẹp Giai.
Dân Bắc Kỳ còn có truyện cổ nởi tiếng mà bác là người Nam Kỳ chưa biết.
Ấy là truyện "Ba Giai Tú Xuất."
Có lẽ sau này người ta in lỗi chính tả, nên bị thất truyền.
*
Còn luận thuyết CHUNG của bác thì là vết xe của bác Nguyễn Cung Thông rồi.
*
Theo thuyết này, thì tiếng Hán vốn không có Kỵ, mà học lại từ Cưỡi của
Việt Nam.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &amp;gt;4000 năm
Posted by: Hồng Hà (IP Logged)
Date: February 09, 2012 05:45PM
sao lại có chuyện ngôn ngữ thuộc hệ Hán Tạng thì phải có chung gốc vậy tiên sinh?

hệ ngôn ngữ Hán-Tạng là hệ ngôn ngữ được phân định bởi người Trung Quốc được xác định là gồm nhiều ngôn ngữ mà người Trung Quốc gọi là phương ngữ hay là giọng, Accent, v.v... mặc dù về mặt ngôn ngữ những ngôn ngữ chính của Trung Quốc đều khá tách biệt.

Việc Trung Quốc phân loại các ngôn ngữ ở Trung Quốc sang hệ Hán Tạng hoàn toàn không chứng minh được 500 năm trước, 1000 năm trước, hay 2000 năm trước các ngôn ngữ này xuất thân cùng gốc. Nó chỉ phản ánh sự giống nhau nào đó trong ngôn ngữ trong thời điểm HIỆN TẠI tuy nhiên điều này không phản ảnh được nguồn gốc của các loại ngôn ngữ này. Phải xét tới ảnh hưởng của tiếng Quan Thoại trong suốt triều dài cai trị của các triều đình đặc biệt là sau thời điểm dời kinh đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh, một vùng rất gần biên giới mà ở VIệt Nam có thể so sánh tưởng tự như chuyện dời thủ đô từ Huế lên Lạng Sơn.

Việc Trung Quốc xếp rất nhiều ngôn ngữ của mình vào trong hệ Hán Tạng là một việc làm rất mập mờ. Cho nên không thể xem chuyện đó là nghiêm túc, tương tự như việc đưa bản đồ Biển Đông vào trong bản đồ của Trung Quốc trong các tạp chí khoa học nổi tiếng trên thế giới.

Việc can dự vào các vấn đề khoa học cho mục đích chính trị không hề hiếm mà ngược lại rất phổ biến trong nghiên cứu của Trung Quốc.

Chúng ta không khó phát hiện điều này, ngay cả trong những tài liệu về các bài Journal, nghiên cứu thịnh hành trên mạng được phát triển bởi người Trung Quốc hoặc do hợp tác với nước khác.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &amp;amp;gt;4000 năm
Posted by: Hồng Hà (IP Logged)
Date: February 09, 2012 05:54PM
Thêm nữa, các đây 30 năm Trung Quốc mới chịu bỏ cho Việt Nam cái gông là ngôn ngữ thuộc hệ Hán Tạng

Trong nửa thế kỷ trước đó Trung Quốc luôn muốn chứng minh rằng ngôn ngữ tại Việt Nam không thuộc hệ Nam Á như được công nhận tại thời điểm hiện tại.

Điều hiển nhiên đó chứng minh điều gì?

Nếu ngôn ngữ Việt có liên hệ với Hán Tạng, tức là giống của người Choang vốn bị ghép vào với Hán Tạng

Nếu ngôn ngữ Việt không có liên hệ với Hán Tạng, mà trong lịch sử bị ghép vào dòng Hán Tạng, vậy ngôn ngữ Choang và các ngôn ngữ Nam Trung Hoa không hề nằm ngoài khả năng này.

Đặc điểm nổi bật là cộng đồng ở đây trực thuộc nước tự gọi là Trung Hoa, cho nên phản ứng về mặt khoa học cũng như dân tộc không thể mạnh mẽ bằng nước Việt Nam được.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &amp;amp;amp;gt;4000 năm
Posted by: bacle (IP Logged)
Date: February 09, 2012 06:02PM
Xem Sino-Tibetan languages.

Không phải là TQ, mà toàn là các nhà ngôn ngữ học Tây Phương đã xếp hạng từ hồi thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Hồng Hà (IP Logged)
Date: February 09, 2012 06:06PM
Trong khi đó cách phân loại Nam Á, Việt Mường, v.v... được xây dựng bởi những người vốn ít liên quan tới chính trị, cái phán xét cần có trong quyết định của họ chính xác hay không chủ yếu là do các nghiên cứu của họ có đủ độ rộng, sâu và đủ bằng chứng để chứng minh hay không mà thôi.

Đã có không ít bài nghiên cứu của Phương Tây trong quá khứ nói dựa vào phân loại của Trung Quốc nói ngôn ngữ Việt Nam thuộc Hán Tạng, và đã bị lịch sử đào thải. Tương tự như vậy hiện nay cũng có những bài nghiên cứu mà thiếu đầu tư.

===========

Kết luận lại là việc Fanzung tiên sinh cố gắng tìm hiểu những từ ngữ như vậy là việc làm rất có ích, đáng được hoan nghênh và luận điểm vì KHÔNG GIỐNG HỆ (hệ thì do Trung Quốc làm, các nước khác ậm ừ cho qua, trước đó cố ghép Việt Nam vào trong cái hệ đó nhưng không thành) là luận điểm thiếu tính khách quan lịch sử và thiếu biện chứng.

Luận điểm đó chỉ đúng nếu hoàn toàn công nhận những nghiên cứu của Trung Quốc mà không suy xét cũng như đánh giá công tâm tới khả năng vô tình, cố ý, v.v.. chèn thêm những tư tưởng phi khoa học vào trong các luận án khoa học.

Suy cho cùng, điều đó cũng tác động không hề nhỏ tới khác luận án khoa học khi phải suy luận ít dựa trên bằng chứng rõ ràng.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &amp;amp;amp;amp;gt;4000 năm
Posted by: Hồng Hà (IP Logged)
Date: February 09, 2012 06:12PM
Đúng vậy, và cũng chính những người đó xếp hạng Việt vào trong Hán Tạng.

Và người Trung Quốc (đúng hơn là lãnh đạo) hoàn toàn ủng hộ những Việc như vậy, nghiên cứu của Trung Quốc chủ yếu theo hướng như vậy.

Những năm 80, may mắn cho Việt Nam là lại được xếp ra Nam Á chứ không phải Hán Tạng sau những nghiên cứu của cả Việt Nam và Phương Tây (chứ không phải nhờ người Trung Quốc)

Những điều đó cho thấy thiếu sót của ngôn ngữ học Phương Tây bị khai thác triệt để (cố tình/vô ý).

Hiện tại việc khoanh vùng Hán Tạng chủ yếu là do tác động qua lại của các ngôn ngữ trong quốc gia này tạo ra những điều tương quan giống nhau (nhiều/ít), chứ không phải là do nguồn gốc của chúng.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Trần Anh Mỹ (IP Logged)
Date: February 09, 2012 08:19PM
Trong diễn đàn thì có bác Nguyễn Cung Thông đang cố chứng minh tiếng
Việt và tiếng Hán có nhiều chỗ giống nhau.
Điều khác lạ của bác Nguyễng Cung Thông là bác ấy đang chứng minh nhiều
hiện tượng trong tiếng Hán vốn bắt nguồn từ tiếng Việt.
Nhìn lại lịch sử, thì dân Việt chúng ta có lịch sử ngắn hơn dân Hán.
Cái đoạn thời gian tiếng Hán đã có chữ thì tiếng Việt không được ai ghi
chép lại.
Như vậy, nếu Bác Thông làm được việc chứng minh tiếng Hán và tiếng Việt
có nhiều chỗ giống nhau, mà không chứng minh được tiếng Việt lâu đời hơn
tiếng Hán, thì hậu quả không biết sễ về đâu, có lợi cho học thuyết của
bác không, hay là có hại?

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Nguyễn Cung Thông (IP Logged)
Date: February 09, 2012 09:32PM
Bác Trần Anh Mỹ kính,

Không phải cái gì của Hán là bắt nguồn từ Việt (thượng cổ) hay ngược lại - vấn đề giao lưu văn hoá và ngôn ngữ rất đa dạng (và đa chiều). Mời bác đọc bài viết "Tản mạn về từ Hán Việt (phần 2)" trong Hội thảo quốc tế Ngôn Ngữ Học (Hà Nội, 11/2011), hi vọng cảm nhận được ý trên

Trang này [khoavanhoc-ngonngu.edu.vn] hay [khoahocnet.com] ...v.v...

Vài hàng thân gởi và cùng đóng góp

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: fanzung (IP Logged)
Date: February 13, 2012 04:45AM
Thêm thông tin:

Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn mới sưu tầm thêm được một chiếc xẻng
đá lớn do một người dân tìm thấy trong lòng đất tại thôn Nà Pò, xã Vĩnh Lại
(huyện Văn Quan) từ năm 1979 trong khi đi làm ruộng.

Xẻng chế tác bằng đá, có kích thước khá lớn: dài 30 cm, rộng vai 24 cm; dày lưỡi 2 cm. Chuôi xẻng có hình chữ nhật - nhỏ và ngắn dùng để tra cán, vai ngang - vuông góc với chuôi. Từ đầu vai, cạnh xẻng lượn cong, hơi lõm vào và đến giữa phình rộng ra. Lưỡi xẻng cong tròn hình chữ U mui vát đều hai bên. Toàn thân nhẵn mịn, phủ một lớp patin màu ngà vàng.
Căn cứ vào hình dạng, kiểu dáng, có thể xếp chiếc xẻng này vào loại xẻng đá loại 2 – theo sự phân loại của các nhà khảo cổ học, niên đại thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới (khoảng 4.000-5.000 năm). Xẻng đá lớn là loại di vật khảo cổ rất độc đáo, vừa là công cụ lao động, vừa là vật nghi lễ của cư dân nông nghiệp với ý nghĩa cầu mong mùa màng tươi tốt, bội thu. Loại di vật khảo cổ này phát hiện ở Việt Nam chưa nhiều, chủ yếu là ở các tỉnh thuộc vùng Đông
Bắc và cực Bắc nước ta.
CHU QUẾ NGÂN
(Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn)
Nguồn : [www.baomoi.com]

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &amp;gt;4000 năm
Posted by: fanzung (IP Logged)
Date: February 13, 2012 04:47AM
Ảnh:

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Đinh Tuấn (IP Logged)
Date: February 13, 2012 05:20AM
Sao lại không có chữ gì cả! Tiếc quá nhỉ, nếu không thì ...smiling smiley

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Trần Anh Mỹ (IP Logged)
Date: February 13, 2012 11:41AM
Tôi viết "nhiều hiện tượng" chứ không có ý nói "bất cứ cái gì."
*
Chuyện giống nhau giữa các tiếng đơn âm là rất phổ biến, vì Toán
học có thể chứng minh được. Đó là hiện tượng tần số ngẫu nhiên,
hay xác suất. Ví dụ đi đêm nhiều thì ắt gặp ma. Cờ bạc lắm thì ắt
phá sản. Ta có thể làm một luận án tiến sỹ về các từ gần như cùng
âm mà có cùng nghĩa giữa tiếng Việt và tiếng Hàn, và thành công.
Có diều chứng minh luận thuyết đó đưa ra được kết luận gì? Tiếng
Hàn cóp nhặt nhiều từ ngữ tiếng Việt? Hay ngược lại?
*
Dựa vào Một tần suất ngẫu nhiên để rút ra một kết luận có nghĩa?
Mong rằng bác Nguyễn Cung Thông và mọi người nắm được ý tôi muốn nói.
*

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: quang lê (IP Logged)
Date: February 19, 2012 12:08PM
Đọc bài viết của bác Fanzung thật là hứng thú. Một công trình hiếm có.
kính
Quang Lê

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Mr Tung (IP Logged)
Date: April 01, 2012 02:59PM
Chữ "Giao" trong từ Giao Chỉ theo mình ý là nơi giao nhau, kiểu như ngày nay gọi là khu vực trung tâm nào đó. Giao Chỉ là chỉ địa danh nơi mà nhiều hướng đổ về. Như kiểu mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Thực tình tôi thấy nhiều ý kiến ở diễn đàn rất không có lý. Nhất là lấy tiếng Mường coi làm tiếng Việt cổ rất vô lý. Thực sự rất ít có sự lan truyền văn hoá từ một tộc người nhỏ sống khép kín sang một tộc người rộng lớn có nhiều giao lưu kinh tế văn hoá ở tầm quốc gia. Mà ngược lại thì hợp lý hơn. Tiếng Việt thì cũng có thể do người Việt do tinh thần tự chủ muốn độc lập lâu dài sáng tác ra dựa trên chữ Hán cũng là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thực tế việc sáng tạo ra một tiếng nói mới dựa trên một tiếng nói cũ bằng cách đọc chệch đi hoặc thêm vài từ địa phương không phải là khó trong những hoàn cảnh thuân lợi

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &amp;gt;4000 năm
Posted by: Mr Tung (IP Logged)
Date: April 01, 2012 03:07PM
Chữ Kẻ mình nghĩ không thể lấy trên một bản đồ của người phuơng tây sang buôn bán ở Việt Nam nghi là "Ke" để đọc thành Kẻ được. Mình nghĩ có thể là chữ khác mà người phuơng tây ghi lại theo cách phát âm một chữ khác chẳng hạn như chữ "Kinh" trong từ Kinh đô. Ở quê mình thuộc đồng bằng Bắc Bộ, không thấy có địa danh bắt đầu bằng chữ Kẻ

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Trần Anh Mỹ (IP Logged)
Date: April 02, 2012 12:20AM
Mr. Tung nghĩ
Quote:
sự lan truyền văn hoá từ một tộc người nhỏ sống khép kín sang một
tộc người rộng lớn có nhiều giao lưu kinh tế văn hoá
thì sai rồi.
*
Mời Mr. Tung nghĩ rằng trưóc kia không có Kinh và Mường, mà chỉ có một
dân tộc nói một thứ tiếng, một văn hoá thôi. Sau đó mới tách ra Kinh
và Mường, trong đó Kinh thì học nhiều tiếng Hán hơn.
*
Lần ngưọc lại trước gia đình Kinh Mương, thì còn có Rục, Xá, Arem nữa,
cũng cùng một nhà, một tiếng nói, một văn hoá. Sau này mới chia ra.
Vì thế, tiếng Arem còn đượ coi là tiếng Việt cổ hơn tiếng Mường nữa
kia.
*
Chỉ vì Mr. Tung chưa tìm hiểu kỹ về chuyện Arem, Mường, Kinh, nên mới
hiểu nhầm các dân tộc anh em "lan truyền" tiếng sang người Kinh thôi.
*

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: quang lê (IP Logged)
Date: April 09, 2012 03:43AM
Re: Chữ biểu ý Lạc Việt >4000 năm
Posted by: Đinh Tuấn (IP Logged)
Date: February 13, 2012 05:20AM
Sao lại không có chữ gì cả! Tiếc quá nhỉ, nếu không thì ...

nếu có thì bác đọc làm sao? giáp cốt văn à? đăng vài bài giáp cốt xem nào. Có ai mà làm thơ vào cuốc với xẻng nhỉ? Nếu Sở Khanh viết "tích việt" vào cái xẻn tặng nàng kiều thì hay biết mấy!
Khúc Thần

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: BaiYue (IP Logged)
Date: October 20, 2012 11:28AM
Quote:
Trần Anh Mỹ
Mr. Tung nghĩ

sự lan truyền văn hoá từ một tộc
người nhỏ sống khép kín sang một
tộc người rộng lớn có nhiều giao lưu
kinh tế văn hoá
thì sai rồi.
*
Mời Mr. Tung nghĩ rằng trưóc kia không
có Kinh và Mường, mà chỉ có một
dân tộc nói một thứ tiếng, một văn
hoá thôi. Sau đó mới tách ra Kinh
và Mường, trong đó Kinh thì học nhiều
tiếng Hán hơn.
*
Lần ngưọc lại trước gia đình Kinh
Mương, thì còn có Rục, Xá, Arem nữa,
cũng cùng một nhà, một tiếng nói, một
văn hoá. Sau này mới chia ra.
Vì thế, tiếng Arem còn đượ coi là
tiếng Việt cổ hơn tiếng Mường nữa
kia.
*
Chỉ vì Mr. Tung chưa tìm hiểu kỹ về
chuyện Arem, Mường, Kinh, nên mới
hiểu nhầm các dân tộc anh em "lan
truyền" tiếng sang người Kinh thôi.
*
Có chắc là Kinh học nhiều tiếng Hán hơn?
Sao lại không nói Kinh và Hán đều chịu ảnh hưởng của nhau?

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Kẻ Kiếm Tìm (IP Logged)
Date: February 19, 2015 04:39AM
Em xin có ý kiến:

1. Cách đặt vấn đề của bác Fan có vẻ không thuận lắm: Bác viết rằng: Những tộc người được sử tàu gọi chung là Lạc việt hẳn có 1 lý do nào đó? Có khi không hoàn toàn như vậy: Chẳng hạn như mấy sử gia tàu viết sai thì sao?

2. Bác đưa ra quá ít, tôi xin nhắc lại rằng: Quá quá ít những điểm mà bác cho rằng là điểm chung. Và kể cả bác có đưa ra số lượng dẫn chứng gấp 10 lần, tôi e rằng vẫn còn quá ít.

Tôi lang thang trên mạng và biết được 1 đường link, nghiên cứu về Tiếng Việt rất thú vị. Có thể các bác, có người biết có người chưa, nên tôi xin giới thiệu: [www.art2all.net] Tôi tin rằng 1 tác phẩm kỳ công như thế này mới có thể cho chúng ta 1 cái nhìn toàn diện nhất về Tiếng Việt.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: huongho (IP Logged)
Date: February 19, 2015 05:09AM
Quote:
Kẻ Kiếm Tìm
...
Tôi lang thang trên mạng và biết được 1 đường link, nghiên cứu về Tiếng Việt rất thú vị. Có thể các bác, có người biết có người chưa, nên tôi xin giới thiệu: [www.art2all.net] Tôi tin rằng 1 tác phẩm kỳ công như thế này mới có thể cho chúng ta 1 cái nhìn toàn diện nhất về Tiếng Việt.

1-
Tết là gì?
BS Nguyễn Hy Vọng
Nguồn : [www.gio-o.com]


Tết là tên riêng [nom propre] gọi ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân
ở khắp miền đông nam Á, còn tiết chỉ là một tên thường [nom commun] của Tàu gọi những
thời tiết thay đổi trong một năm.

Chỉ có ngừời Việt gọi là Tết , trong khi cả ngàn triệu nguời Tàu gọi ngày đó là duỳn tản
[nguyên đán] hay là xin nển [tân niên]

Vậy tại sao họ không gọi là Tết ? vì Tết không phải là tiếng của họ
Giờ ta hãy trở lại với cái tên gọi là TẾT.

Có một cách hợp lý để tìm cho ra nguồn gốc của ngày Tết và ý nghĩa ấy.

Hãy đi tìm trong tất cả các ngôn ngữ khác nhau ở miền nam Á châu xem thử có ngôn ngữ nào
cũng có cái tên là tết và cũng có cái cách phát âm cách đọc cách nói và cũng có cái nghĩa là
ngàylễ ăn mừng đầu năm không ? Dù cho tiếng ấy không phải là tiếng Việt hay là tiếng Tàu
Nếu không có thì đành vậy chứ sao!

Vậy mà có đấy mà lại có rất nhiều và rất giống nhau gần y hệt, các bạn ơi!
...
2-

Sêu Tết
Lê Hữu Mục
Nguồn : [hoinhavanvietnamluuvong.info]


Trong hai từ cổ "sêu tết" này, từ Tết được biết nhiều hơn về nghĩa cũng như về âm bởi vì nguồn gốc cấu tạo của nó gắn với một từ Hán quen thuộc là từ tiết. Tôi sẽ chứng minh rằng từ Tết của ta không có liên hệ ngôn ngữ học với từ tiết. Đi đôi với từ sêu càng ngày càng bị chìm vào bóng tối của lịch sử, từ Tết tuy dễ bị lầm với từ dạng của từ tiết, vẫn để lộ cho ta thấy nhiều bằng cứ có thể chứng thực tính Việt Nam sâu xa của nó.


Tết là tiết


Tiết , trong cấu tạo từ nguyên, liên hệ tới tre pheo, chỉ những đốt tre xuất hiện đều đặn trên cật tre như nói trúc tiết (đốt tre) rồi nói rộng ra về cốt tiết (đốt xương); tiết túc động vật là những con vật sống có nhiều đốt như con tằm. Hiểu theo nghĩa không gian, từ tiết biểu hiện một độ dài đều nhau gọi là gióng, do đó, diễn tả những qui tắc xảy ra một cách có tổ chức (nghi tiết), những vị thứ trải ra trước sau (tình tiết) một cách có kỷ luật (tiết mục), những trình độ cao thấp (âm tiết), mau chậm của nhạc điệu (tiết tấu). Áp dụng vào thời gian, tiết đề cập tới những chu kì đều đặn (tiết nhật) của thời tiết (xuân tiết, hạ tiết, thu tiết, đông tiết); hiểu theo thời gian tâm lý, tiết mô tả những giá trị bất biến của tinh thần (tiết tháo), của đạo đức (tiết nghĩa), thái độ kiên trinh của người con gái (tiết trinh), của người đàn bà có chồng (tiết phụ), của người bề tôi trung thành với quân vương (tiết trung), của người tu thân đắc đạo mà hàng động nào cũng hợp với đạo lý (trung tiết). Trong những nghĩa này của từ tiết, ta lưu ý đến những ý nghĩa thời gian làm cho từ tiết rất gần với từ tết của ta, gần gũi đến nỗi có người, như giáo sư Lê Ngọc Trụ chẳng hạn, đã không ngần ngại chủ trương rằng từ Tết là do từ tiết, và ngữ tết nhất là do ngữ hán tiết nhật.

Thực ra, tiết nhật phải được dịch sang tiếng Việt là ngày lễ, vì từ tiết của người Hoa chỉ có nghĩa là lễ; từ nguyên đán hay nguyên nhật của họ được định nghĩa là: Hán tộc truyền thống tiết nhật (1), ngày lễ truyền thống của tộc Hán, bởi vì theo truyền thuyết, Chuyên Húc gọi tháng giêng âm lịch là nguyên, và ngày mồng 1 là đán, nhà Hạ theo đúng như vậy, nhưng nhà Thương đến sau lại đổi thành ngày mồng 1 tháng chạp, nhà Chu đổi một lần nữa vào ngày mồng 1 tháng một tức tháng mười một, mãi đến đời Vũ đế nhà Hán mới qui định dứt khoát nguyên đán là ngày mồng 1 tháng giêng, còn gọi là ngày sóc tháng giêng. Từ nguyên đán chỉ được dùng trong một giới người nhất định, còn dân chúng thì chỉ biết đến chữ năm mới (tân niên); ngay chữ năm mới này của dân chúng, giới trí thức cũng cho nó một cái tên rất ngoạn mục là xuân tiết, nhưng nếu đã nói là năm mới, thì năm nghĩa là gì? Về danh xưng này, các thời đại không đồng ý với nhau. Nhà Hạ thì gọi là tuế, nhà Thương gọi là tự, nhà Chu là niên, Đường Ngu gọi là tải. Từ năm của ta, có người cho là xuất phát từ chữ hán niên, nhưng đó chỉ là một ngộ nhận vì tự dạng. Hình thức cổ của năm là nam (như còn thấy thông dụng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi), cho biết từ năm gần với từ th'nam của ngôn ngữ Nam Á (như Cao Miên) hơn là từ niên của nhà Chu quá xa về không gian cũng như thời gian. Như vậy, trở về với từ tiết nhật, ta có bằng cứ chắc chắn để chứng thực nó không là mẹ đẻ của từ tết nhất. Trong câu nói thường ngày của chúng ta: "Tết nhất sắp đến nơi rồi", người nói khẳng định từ tết nhất chỉ liên hệ tới ngày đầu năm, trong khi đó từ tiết nhật của Trung Hoa được dùng để chỉ tất cả mọi ngày lễ trong năm chứ không cứ gì chỉ nói tới ngày tết. Sau đây là những ngày lễ mà sách vở Trung Hoa ghi là tiết và định nghĩa là tiết nhật theo truyền thống dân gian.



Tiết nhật

Gồm:
Phá ngũ tiết
Nhân thắng tiết
Kính bát tiên tiết
Nguyên tiêu tiết (Thượng nguyên tiết,Nguyên tịch tiết, Đăng tiết)
Yên cửu tiết (diên cửu tiết)
Điền thương tiết
Trung hoà tiết
Xuân tiết
Đạp thanh tiết
Hoa triều tiết
Hàn thực tiết
Mộc bả tiết
Thanh minh tiết
Dục Phật tiết
Mang chủng tiết
Đoan ngọ tiết
Hồi nương gia tiết
Tiếp thái dương tiết
Tế Mã vương tiết
Tế Quan đế tiết
Thất tịch tiết
Trung nguyên tiết (Vu lan bồn tiết)
Trung thu tiết
Thời điểm (theo âm lịch) 5.17.18.115.119.125.11.21.22.215.21.316.35.48.455.56.619.623.67.715.715.8

Trong danh sách tiết nhật nói trên, tất cả mọi tiết nhật đều được ta dịch ra là lễ hay ngày lễ, hoặc giữ nguyên chữ tiết (như tiết thanh minh), hoặc thêm vào chữ hội (hội đạp thanh), trừ hai tiết nhật đặc biệt là Đoan ngọ tiết (tết Đoan ngọ), Trung thu tiết (tết Trung thu). Về chữ tết Đoan ngọ, dân chúng dùng chữ tết có lẽ dưới sức ép của câu ca dao quen thuộc: ăn tết Đoan ngọ trở về tháng năm. Còn chữ tết Trung thu, sự xuất hiện của nó sớm lắm là vào thời kết thúc đệ nhị thế chiến.

So với tiếng Pháp, chữ tiết nhật được dịch là fête hay jour de fête; cố định tiết nhật: fêtes fixes; phi cố định tiết nhật: fêtes mobiles. Có khi chữ tiết nhật được thay bằng chữ lễ nhật hay chiêm lễ nhật, đối với những ngày tiết nhật tôn giáo như: fête de la Vierge được dịch là Thánh mẫu thăng thiên chiêm lễ nhật (hay lễ tiết).

Tóm lại, trong những trường hợp nêu trên, từ tiết của hán văn tuy có nhiều điểm giống từ tết của ta, nhưng thật là khó chứng minh rằng từ tết của ta là do từ tiết mà ra. Nếu hiện nay ta thường dùng từ tết thay vào từ lễ (tỉ dụ tết Đoan ngọ, tết Trung thu) thì đó là vì ta hiểu lầm ý nghĩa của từ tiết, rồi sự hiểu lầm tạo ra thói quen, thói quen làm mờ nhạt sự sáng suốt của lý trí, thế là lần hồi ta lẫn lộn chữ nọ với chữ kia, cứ thế mà bị lôi cuốn vào cơn lốc từ ngữ khó lòng chống lại. Muốn tìm bộ mặt thực của từ tết, ta phải trở về nguồn gốc tiếng nói và chữ viết của ta. Muốn vậy, ta phải tìm hiểu chữ sưu mà ta thường thấy đi đôi với chữ tết.

Đầu tiên, nghĩa của từ sêu rất rõ ràng; là danh từ, nó có nghĩa là lễ vật mà nhà trai, sau khi chính thức giao tiếp với nhà gái, có bổn phận mang đến biếu song thân của cô dâu tương lai, vào dịp tết nguyên đán. Việc biếu xén này gọi là sêu, động từ, và chỉ diễn ra vào ngày tết đầu năm, trong thời gian chưa tổ chức lễ cưới. Sau khi cưới, việc biếu xén có thể vẫn còn tiếp tục, nhưng không có tính cách đơn phương nữa và không cứ gì phải vào ngày tết; việc biếu xén như vậy không gọi là sêu, càng không gọi là sêu tết. Đến đây, ta phải tự hỏi chữ sêu ở đâu mà ra, và tại sao nó lại đi song song với chữ tết như một đôi uyên ương vậy?

Nguồn gốc của từ sêu tết được ghi trong Lĩnh Nam chích quái của nhà việt nho Trần Thế Pháp. Đó là hai chữ Tiết Liêu trong Truyện bánh chưng (2). Vào năm 1957, chúng tôi được phép vào tu viện Thiên An, đọc và tra cứu sách vở, bút tích của linh mục học giả Léopold Cadière trong thư viện nhà dòng. ễ đây, tôi tìm được cuốn Lĩnh Nam chích quái, sau đó bỏ ra ba năm để dịch tác phẩm này ra việt văn và được nhà Khai Trí xuất bản tại Sài gòn năm 1960. Qua hai chữ Tiết Liêu mà bây giờ tôi đọc là Tét Seo, tôi xin nói về hai từ cổ của Việt Nam là tết sêu, biến thể của tét seo.

Như trên đã nói, từ tết của ta không hề do từ tiết của chữ hán. Sở dĩ ta nghĩ tết do tiết vì tự dạng và ý nghĩa của hai chữ rất giống nhau, vì ảnh hưởng của các học giả Việt Nam học cỡ giáo sư Lê Ngọc Trụ rất lớn và rất quyết định đối với giới trí thức trẻ thời đó, sau này là những nhà giáo, nhà văn, nhà báo, nhà phê bình văn học có uy tín, dễ chi phối nếp suy nghĩ nhiều khi thụ động của đám đông. Nguyên nhân cơ bản của sự ngộ nhận tiết/tết nằm trong tính huyền bí sâu xa của chữ nôm là thứ văn tự dùng hán tự để biểu âm nhưng lúc nào cũng muốn phá vỡ sự cấu tạo của chữ hán để phục vụ những mục đích và những qui tắc riêng biệt do người Việt tự đặt ra hầu giải quyết vấn đề văn tự và ngôn ngữ của nước mình. Phong trào giải hán là một phong trào lớn của văn hoá Việt Nam, lúc nào cũng tích cực đề xuất mọi biện pháp giải trừ ảnh hưởng của Trung Hoa về mọi mặt như lịch sử, địa lý, kinh tế, giáo dục, chính trị, học thuật, v.v. Việc sáng chế chữ nôm nằm trong kế hoạch giải hán; từ một phong trào dân tộc, với việc sáng chế chữ nôm, công cuộc giải hán trở thành một tổ chức gần như tôn giáo, có các thánh tử đạo để bênh vực chính nghĩa của nó, như Hồ Quí Ly, Nguyễn Phi Khanh, và nhất là Nguyễn Trãi. Hiện nay việc nghiên cứu chữ nôm phải được đặt trọng tâm trong việc học tập các nhà việt nho như Trần Thế Pháp, Nguyễn Trãi*.

Nếu chỉ căn cứ trên bản văn của Trần Thế Pháp mà ta có trong tay hiện nay, ta không hội đủ điều kiện văn bản học để quyết định việc giải mã hai từ này, nhưng ta có những văn bản khác như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, kinh Cả blả ơn áng ná cực nặng mà tôi khẳng định là của Nguyễn Trãi, cuốn tự vựng Hoa di dịch ngữ,.v.v.. có thể giúp ta đọc được hai chữ Tiết Liêu.


Tiết là tét

Hai chữ hán Tiết Liêu ghi danh tính hoàng tử thứ 9 của vua Hùng Vương thứ 18. ìng vua này có tất cả 22 người con, gọi là công tử theo hán tự, và gọi là lang theo chữ nôm. Theo truyện mà tôi đã dịch năm 1959, Tiết Liêu, còn gọi là Lang Liêu (3) (hoặc Liệu, vì chữ hán này có hai cách đọc) là con của một bà phi đã chết sớm vì sự ghẻ lạnh của vua Hùng. Lang Liêu mồ côi mẹ, sống một mình trong sự nghèo nàn. Nhưng chàng có một điểm son là sống rất trong sạch, rất đạo đức nên dễ cảm thông được với thần linh. Việc chàng biết làm bánh chưng, bánh giày (4) là do thần nhân mách bảo; và sáng chế của chàng chẳng những được vua cha chấp nhận mà còn được dân chúng ưa thích bắt chước làm vào dịp tết để thờ cúng tổ tiên.

Trong nguyên bản hán văn, có một câu mà tôi không hiểu rõ, và trong bản in năm 1960, tôi chỉ dịch thoát, đó là câu: "dĩ kì danh Lang Liêu, cố hô vi tiết liệu vương"; tôi dịch là: lấy tên của Lang Liêu để gọi là tiết liệu. Liêu thành Liệu.

. Bản dịch của Hà Nội, tôi đọc được năm 1992 tại Montre1al, dịch là: nhân tên Tiết Liêu mà gọi là Tiết Liệu, giải thích từ sau cùng này là: tiết liệu có nghĩa là các thức ăn vật liệu trong ngày tết nhất. Rõ ràng là các nhà nghiên cứu cộng sản từ trước đến nay vẫn đọc Tiết Liệu là hai chữ hán và giải thích một cách rất tùy tiện.

Trước đó, từ năm 1968, tôi đã hiểu được câu văn bí hiểm nói trên. Số là vào thế kỷ XV, sự tranh chấp giữa các nhà nho diễn ra một cách rất tàn bạo. Chỉ vì chống Khổng Tử mà nhà việt nho Hồ Quí Ly bị các nhà hán nho cô lập hoá, bị tố cáo là phản động, các kế hoạch văn hoá hoàn toàn thất bại. Sự tàn bạo của hán nho càng khốc liệt hơn nữa đối với Nguyễn Trãi, nhà trí thức đã chết một cách can đảm để phản đối tính độc tài của ý thức hệ nho giáo (5). Riêng đối với Trần Thế Pháp, sự hận thù của các hán nho Vũ Quỳnh và Kiều Phú đối với ông vẫn được cộng sản tán thành và tiếp tay. Bản dịch Lĩnh Nam chích quái của Hà Nội, tái bản năm 1990, được long trọng đề ngoài bìa là của Vũ Quỳnh và Kiều Phú. Tên của việt nho Trần Thế Pháp đã bị xóa bỏ như cộng sản đã xoá bỏ tên già Lý để thay thế bằng tên Hồ Chí Minh trong cuốn Ngục trung nhật ký (6). Bản văn gốc của Trần Thế Pháp đã bị cắt xén, sửa đổi, bị xuyên tạc trầm trọng đến nỗi ta không thể có tiêu chuẩn để phân biệt đâu là văn bản của Trần Thế Pháp, đâu là những phần thêm bớt của Vũ Quỳnh. Câu văn hán mà tôi đọc không hiểu, và các học giả Hà Nội cũng không hiểu nốt dù trong tay có sẵn nhiều lục Lĩnh Nam chích quái, là công trình của Kiều Phú và Vũ Quỳnh. Chính sự sửa chữa của hai ông hán nho này đã cho tôi chìa khoá để phát hiện ra chữ Liêu có âm nôm là seo và chữ Tiết có âm nôm là tét. Hai chữ này đi với nhau quá sít sao cho nên tôi không thể nói tới chữ này mà không nói tới chữ kia. Sự thực, tôi đã tìm ra âm seo trước, rồi mới căn cứ vào đó tìm ra âm tét.

Từ Tết của ta do từ tét và bây giờ ta còn hiểu là một thứ bánh chưng làm theo hình trụ mà cách làm còn rất thông dụng ở miền trung là vùng vẫn lưu trữ được ngôn ngữ cổ của tiếng Việt. Đồng bào ở đây từ miền Bắc di cư vào từ thế kỷ XIII, họ còn duy trì được nhiều từ cổ vô cùng quí giá đối với các nhà ngôn ngữ học, nhất là những nhà ngữ âm học lịch sử tiếng Việt thời trung cổ. Trong số từ cổ đó có từ tét tuy đã biến khỏi ngữ vựng của người Bắc Việt với ý nghĩa là bánh, nhưng vẫn tồn tại với tính cách động từ trong ngữ tét bánh chưng, tức là dùng dây gói bánh để cắt bánh.

Việc lưu dụng từ tét theo nghĩa này cho biết từ này là một từ có thật, đã được sử dụng vào một thời xa xưa nhưng vì từ bánh chưng xuất hiện cho nên từ bánh tét bị cạnh tranh, bị đuổi ra ngoài địa bàn ngữ vựng và chỉ sống sót ở những vùng ngoại vi như miền Trung ngày nay. Xét chữ bánh chưng, ta thấy rõ đó là một từ hán, do các hán nho thêm vào để nói về cách nấu bánh tét. Việc lấy bánh chưng thay cho bánh tét rõ ràng là một việc làm nửa vời, do ý đồ của các nhà nho sính lễ nghĩa của Trung Hoa không muốn dùng từ tét của quần chúng vì nó thô tục. Hình bánh tét giống hình gì? Đó là hình một cái giò, nói trắng ra là hình của cơ quan sinh dục nam giới. Phải có cái đó, đặt trên tấm bánh giày màu trắng mới nói được chuyện "dĩ tắc thiên địa bao hàm vạn vật chi trạng, ngụ vạn vật phát dục chi ân" (7), tức là "để bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý cái ơn trời đất phát dục vạn vật" (theo bản của tôi, LHM) hoặc "để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ" (theo bản Hà Nội). Nói phát dục, hay nói sinh thành thì đều phải cần tới cái bánh tét đặt trên cái bánh giày, chuyện mà cái bánh chưng dù vuông vắn vĩ đại đến đâu cũng không thể làm được. Khi chữa lại câu văn của Trần Thế Pháp, các ông hán nho Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã làm một công việc mâu thuẫn và phi lý. Các ông hoàn toàn không đếm xỉa tới phong tục thờ cúng cái linga, cái giống của người Việt mà bánh tét là một tượng trưng. Câu chuyện thần nhân chỉ dẫn cho Tiết Liêu đâu phải là chuyện đùa, muốn hiểu sao thì hiểu! Nội dung của truyện Bánh chưng bánh giày, đúng ra là Bánh tét bánh giày, diễn giải lòng hiếu của người Việt Nam cổ, lòng hiếu ấy cốt yếu ở việc lưu truyền dòng dõi, hình thành trong việc lập gia đình và có con cái. ẽm tét của bánh tét được tìm thấy trong chữ tiết, điều đó chứng thực sự bất diệt của tinh thần dân tộc. ẽm tét này còn tồn tại được một cách vinh quang nhờ người ta hiểu lầm chữ tiết mà biến nó ra thành tết. Vậy từ tết của ta là do từ Tét, tên của ông Hoàng mà lịch sử ghi là Tiết nhưng phải đọc theo nôm là Tét hay Tết.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: huongho (IP Logged)
Date: February 19, 2015 05:28AM
Quote:
Kẻ Kiếm Tìm
...
Tôi lang thang trên mạng và biết được 1 đường link, nghiên cứu về Tiếng Việt rất thú vị. Có thể các bác, có người biết có người chưa, nên tôi xin giới thiệu: [www.art2all.net] Tôi tin rằng 1 tác phẩm kỳ công như thế này mới có thể cho chúng ta 1 cái nhìn toàn diện nhất về Tiếng Việt.

Đây là cung cách ông lang Nguyễn Hy Vọng nghiên cứu tiếng Việt và các ngôn ngữ láng giềng !
Huongho.


Dính Líu Giữa
Tiếng Việt và Tiếng Lào Thái

BS NGUYỄN HY VỌNG

Nguồn : [www.gio-o.com]

ngập ngừng xngập to stop
thật thà thè sure, really, certainly
cuồn cuộn khuông to billow
làm nhỏ lại giỏ to diminish, reduce
mịt mùng kmùng obscure, spread out
thòng lọng klọng to lasso
khắm khắm to stink, foul smelling
làm cho rã rời krả to decompose
rạc rài krạc scattered
mông lung kmung vast, immense
lóp ngóp lóp khóp timorously cautious
lưng khòm lăng khòm hunched back
khơi khơi khơi khơi superficial, vaguely
nghẹt cổ tịt khổ constricted [throat]
bóp cổ bịp khổ to strangle the neck
lội ngóc cổ lên lội khổ to swim with emerged head
nghiêng cổ iêng khổ to tilt the neck
Trên đây chỉ là vài chục thí dụ trong số 5000 tiếng Thái giống với tiếng Việt.
Muốn xem cho hết thì xin vào: "Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt"*, trong đó có chừng trên 10 ngàn tiếng, từ, âm và giọng giống nhau giữa Thái Lào và Việt hiện nay. Chúng là 10 ngàn cành nhánh của một cây cổ thụ "ngôn ngữ" khổng lồ chằng chịt đan chéo qua lại với nhau từ hàng chục ngàn năm về trước.
Chúng nó là 275 ngàn cái bằng chứng rằng các tiếng nói Thái Lào Mường Việt Tày, Nùng Thổ, … xưa đều thuộc giòng ngôn ngữ AA [Austro Asiatic] cùng nhành Mòn -Tai [kết hợp giữa Mòn Khmer và Tai cổ xưa].
Hai ngàn năm văn hóa tiêm nhiễm của đàn anh Ấn Độ đã phủ đầu các dân Thái Lào Khmer, Mòn, Miến v ..v..nhưng vẫn chẳng làm gì được cái vốn liếng chung của các tiếng nói ấy.
Cũng như 2000 năm dạy dỗ văn hoá đô hộ và áp đặt của Tàu cũng chẳng tiêu diệt được tiếng Việt.
Nhưng vì vậy mà hai dòng anh em ngôn ngữ này đã lạc đường tìm kiếm nhau [theo Bernard Groslier, nhà khảo cổ Đông Nam Á].
Liên hệ nguồn gốc giữa các tiếng nói trên đây với tiếng Việt đã bị lu mờ đi, nhưng mà dính líu nguồn cội giữa các ngôn ngữ ấy mới thật là cái hiện tượng văn hoá triền miên nhất để tìm họ tìm hàng, chắc ăn hơn tất cả những nét văn hoá khác như phong tục, cách ăn mặc, nếp sống xã hội, lịch sử vua chúa, chiến tranh, tôn giáo, chữ viết ….
Xưa, cố đạo Sovignet đã tìm đuợc gần một ngàn tiếng Thái Lào giống âm giống nghĩa [cognatic] với tiếng Mường Việt. Thật ra có đến hàng chục ngàn tiếng như thế giữa Thái Lào và Mường Việt.
Mục đích bài này là để giúp ta bỏ đi cái ý nghĩ sai lầm của phần lớn các nhà học giả Hán Việt xưa nay đã tiêm nhiễm vào đầu óc họ, cho là "tiếng Việt do từ tiếng Tàu mà ra [sic] @ Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Phương, Huệ Thiên …và hàng tá các ông khác nữa.
Ngôn ngữ học hiện đại đã nhận xét ra cái đó sai, ê kíp ngôn ngữ của Encyclopedia Britannica cũng nói:
Tiếng Việt thuộc một nguồn gốc khác hẵn tiếng Tàu
Dân Việt xưa cũng thuộc một giòng họ khác hẵn dân Hoa-Hán
Nếp sống người Việt cổ xưa cũng rất khác với nếp sống của dân Tàu
Mặc dù phải mang lấy một cái áo choàng ngôn ngữ và văn hoá chật đến nỗi gần như bó chặt lấy thân hình, ta vẫn thấy rõ đó là cái áo chứ không phải là da thịt của ta. Thí dụ như:
giòng nước trong / giòng thanh thủy
chết vì nước / hy sinh vì tổ quốc
người tình cũ / cựu tình nhân
bến cũ / cổ độ
trời đất / thiên địa
Cả trăm ngàn thí dụ như vậy, ai cũng tìm ra được, cho thấy là ta có "cái của ta" nhưng cũng học đòi bắt chước nói thêm "cái của người" cho nó le, cũng như mấy kẻ hay khoe tiếng Tây tiếng Anh vậy thôi.
Ta chỉ mượn thêm chừng > 2000 tiếng "con nuôi" [trong số # 10 ngàn tiếng một của Tàu] qua > 2000 năm để làm giàu cho # 9500 tiếng một [tiếng Việt con nhà] của ta đã có sẵn từ hàng mấy ngàn năm trước đó nữa.
Đổ đồng một năm ông bà ta chỉ mượn # hai tiếng, có chi mà gọi là nhiều! Ta chỉ mượn thêm chứ đâu có đánh đổi luôn cả tiếng nói của ta hồi nào đâu! Một tiếng cũng không mất!
Sự thật là thế này: tiếng Mường, tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Khmer, tiếng Mòn bên Miến Điện, ngay cả tiếng Chàm [Chăm], tiếng Malay-Indonesian nữa… đều dính líu với nhau như một mớ bòng bong, dây mơ rễ muống, trong một màng lưới rộng mênh mông mà người nói cũng như kẻ nghe khó mà tìm ra đầu đuôi gốc ngọn trước sau,
Tuy nhiên, không phải là không tìm ra được.
Qua thời gian và lối làm việc có khoa học và phương pháp của các nhà ngữ học hiện nay, đang có một ngọn đuốc soi rọi rõ ràng và hợp lý vào từng đường tơ kẻ tóc, vào từng chi tiết của cái màng nhện ngôn ngữ đầy bí mật và thích thú cuả các tiếng nói [hàng trăm thứ tiếng] ở Đông Nam Á.
Thật ra vấn đề này không mới mẻ gì. Cách đây 150 năm, nhà ngữ học Logan đã nhận xét trước ai hết về tiếng An Nam hồi đó là rất giống với tiếng Mòn bên Miến Điện, mà ông gọi cả hai là "Mon-Annam formation".
Các nhà ngữ học cũng tìm kiếm về những tiếng nói ít người nói như:
tiếng Mon bên Miến điện
tiếng Khasi ở trên Bangladesh
tiếng Nicobarese ở trên mấy hòn đảo nhỏ li ti ngoài biển phiá nam Miến Điện
tiếng Munda bên Đông Bắc Ấn Độ [tổng cọng 40 triệu người]
tiếng Tai [có nhánh Zhuang, nhánh Kadai, …] chừng 30 triệu ở ngay trên đầu Bắc Việt
và thấy rằng chúng nó cũng đã pha trộn với nhau và với tiếng Mường từ ngàn xưa,
trong khi tiếng Tàu chỉ là cái áo vừa hoa vừa hoè mà 2 ngàn năm bắt người Việt phải mặc vào.
Nếu ai muốn làm quan cho Tàu, nó cũng là cái dù che lấp đi lấn át những cách nói năng dễ hiểu của ông bà ta, thí dụ như non sông đất nước …. thì chúng nó dạy cho là phải nói thêm là sơn hà xã tắc vân vân.
Cả ngàn ngàn những cách ăn nói dễ dàng và dễ hiểu của người Giao Chỉ lại phải học kèm thêm những cách ăn nói gọi là văn hoa văn chương đó, có thêm sự thúc giục của mấy trăm đời những kẻ làm quan cho Tàu, bảo sao ta không "chết mệt" với tiếng Tàu.
Chúng ta gần như quên mất rằng "xương tóc của cha, thịt da của mẹ" …ông bà chúng ta đã có một gốc gác khác hẵn với người Tàu hiện nay cũng như hai ngàn năm về trước.
Khó mà nói hết đuợc những giống nhau về tiếng nói giữa các dân Việt, Miên, Lào, Thái, Chàm, Mã Lai từ ngàn xưa cho đến hiện nay [xin vào Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt nói trên có đũ chi tiết từng từ từng chữ một].
Thí dụ một người con gái có dáng đi đủng đỉnh thì người Lào Thái cũng nói là:
kđuk kđik y hệt như ta
Có hàng ngàn chữ lấp lánh như thế, nhấp nha nhấp nhổm như thế giữa Thái và Việt.
Đó chỉ là những hình thức đọc trẹ hay đảo qua đảo lại cách phát âm giữa các thứ tiếng một, tiếng đôi, tiếng ghép ba ghép bốn nữa giống nhau giữa Việt, Thái, Lào, Miên v.v.. mà thôi.
Nếu ta bảo là thiết tha tha thiết …thì người Thái cũng nói y hệt là thiêt tha tha thiêt. Họ cũng đảo qua đảo lại như thế nhưng hơi khác là họ nói thì họ hiểu nghĩa của hai chữ ấy là cái gì "kéo dài" trong khi ta nói như vẹt và hai chữ thiết tha có thể hiểu cả mấy chục cách vì ta đã "đánh mất" cái nguồn gốc ý nghĩa ban đầu vì bị cái tiếng Tàu nó đánh tráo, nhìn lạm và đánh lộn sòng chữ nghĩa với chúng ta.
Có cả hàng ngàn những chữ lấp lánh như thế mà người Thái, Lào, Khmer giữ cái chìa khoá ý nghĩa còn ta thì bị ép học tiếng Tàu nên không còn hiểu mình nói gì khi ta nói :
đẹp đẽ, sạch sẽ, mới mẻ, vui vẻ,
khỏe khoắn, băn khoăn, xuề xoà,
sớm sủa, rộn ràng, rộn rịp, rộn rã,
rảnh rang, nhẹ nhàng, vội vàng, lỡ làng
sáng sủa, sáng lạng, sáng trưng, sáng quắc,
xinh xắn, sốt sắng, tươi mươi, tươi tắn,
nhỏ nhắn, mau mắn, may mắn
Chừng 5000 tiếng như thế có trong tiếng Việt, ta nói như vẹt, không hiểu tại sao.
Nhưng nếu ta học tiếng Thái, Lào, Mòn Khmer, Chàm v.v.. thì ta biết âm biết nghĩa của chúng dễ dàng [xin đón xem Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt].
Vậy mà qua hơn hai ngàn năm tiếng Việt vẫn không chết vì nó lợi dụng tiếng Tàu để mà sống còn.
Nó làm ra cái thứ tiếng ghép lạ lùng tôi gọi là Hán Việt mà mấy ông "Hán Việt" phủ nhận mà cho là đương nhiên phải có như thế:
xuất ra, nhập vào
thượng lên, hạ xuống,
cọng thêm trừ bớt
sinh sống già lão,
truy lùng, đánh chiếm
..............
Tôi chấp luôn cả 1300 triệu người Tàu, có ai, dù là một người thôi, viết được, đọc được, hiểu được, nghe được, nói được, phát âm được, đánh vần cho được, nhấn giọng cho được mấy ngàn tiếng ấy tôi xin trả cho họ 10 ngàn đô la xài chơ i!
Còn khuya! Từ Khổng Tử cho đến Mao trạch đông cũng phải chào thua, không đọc ra được
Cả ngàn ngàn tiếng cặp đôi như vậy mà ông Đào Duy Anh lại không cho đó là "Hán Việt" mặc dù rõ ràng là một tiếng Tàu ghép với một tiếng Việt mà lại xem chúng nó đương nhiên [sic] như là tiếng Việt 100%].
Trái lại, những tiếng 100% Tàu thì ổng lại cho là "Hán Việt" chỉ vì đọc trẹ đi như
tổ quốc, thiên hạ, đài thọ, rồi ổng làm từ điển Tàu mà lại gọi là từ điển Hán Việt.
Cả ngàn tiếng như vậy có gì là Việt đâu ngoài cái cách đọc không giống Tàu thôi.
Nhà ngôn ngữ học Mark Alves đã viết một bài có ý thức "để đời" về tiếng Việt, "What's so "Chinese" about Vietnamese?" # tiếng Việt có gì "Tàu" lắm đâu!
Ý nghĩa của nó là của Tàu, mình mượn mà nói rồi quỵt luôn, không trả lại nữa.
Hơn nữa, có cả chục ngàn tiếng Tàu mà không bao giờ người Việt mình dùng hay nói suốt 2000 năm bị đô hộ rồi bị ảnh hưởng, vậy mà mấy ông viết từ điển hán việt cho vào từ điển của mấy ổng tuốt luốt luôn.
Hàng ngàn chữ Tàu mà chưa chắc người Tàu đã biết là cái quái gì, làm ra cái vẻ ta đây hay chữ thí dụ như trong từ điển Việt Anh Nguyễn văn Khôn, 1966.
khoa đẩu, tri thù, điểm đăng, điểm lệ
điên dâm, điền kê, điền khách,
điện lãng, điện linh, điện lô
chế pháp, chế phục, chế trị, chi lộ,
chi kháng, chi lộ, chí ư, chí nhựt, chỉ vọng ...
Trời đất, đọc mà thấy chóng mặt luôn!
Tiếng Việt là một cái vòng khoen trong cái dây chuyền ngôn ngữ của miền Nam Á, vùng rộng mênh mông từ trung tâm Ấn Độ qua đến vùng bao la bát ngát phía nam Trường giang.
Đó là nơi sống xưa của giống người RMon, Rman có nghĩa là "người" / people, person, man, men.
HMong cũng có nghĩa là người [phát âm cho đúng là hMonk], tên gọi là Man bị hiểu lầm, cũng có nghĩa là người.
Người Tàu không có nói Man nghĩa là dã man hay man rợ gì, chữ man của họ để diễn âm, tình cờ mà có nghĩa đó, chỉ là một tình cờ về phiên âm, tình cờ trùng về ý nghĩa đó thôi và người Mường còn tự gọi họ là Mòl / Mỏl … lại cũng là "người".
Người Việt xưa với người Mòn người Thái xưa cũng như ba anh em cùng một giòng họ, ta ở vùng châu thổ Bắc, họ ở gần đó [mạn ngược], còn người Mòn / Rman thì ở tuốt bên Miến Điện, vậy thì tại sao tiếng nói lại giống nhau?
Tại vì từ xưa, miền Đông Bắc Ấn Độ qua đến chiều dài sông Dương Tử có một giống người nói một thứ tiếng gốc tạm gọi là Mòn-Tai, mà tiếng Mường xưa là một phần của nó.
[Mãi sau này ta mới bị ảnh hưởng Tàu.]
100% tiếng xưa chung của ông bà vẫn còn nhưng cũng như chia gia tài, mỗi con cháu sau này giữ một phần cái của cải đó nên sinh ra nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Ai đâu ở đó, không có di chuyển lên xuống qua lại tới lui như họ tưởng lầm nhưng trao đổi và góp nhặt cũng như tỉa lảy, lặt bớt đi tiếng này tiếng nọ là chuyện phải có.
Sông núi đâu có hề ngăn cách 100%? Ai cũng biết giòng sông là giòng sống và dãy núi nào lại chẳng có đèo và thung lủng để qua lại. Dọc Trường Sơn cũng có 7 cái đèo mà con người xưa đã qua lại với nhau.
Lẽ dĩ nhiên tiếng Mường xưa không bao giờ lại dính chi đến tiếng Esquimaux hay tiếng Gaulois vì ở quá xa, nhưng các nhóm người xưa ở Đông Nam Á thì quá gần nhau về chỗ ở nên tiếng nói giống nhau nhiều là điều dễ hiểu.
Giống nhau vài ba tiếng thì là hoàn toàn do tình cờ như là giữa tiếng Anh Pháp Mỹ và tiếng Việt:
giật, giựt / to jerk
giằng lấy / to yank
bé tí / petit
vestiges / vết tích
diarrhea / đi ỉa re!
Chứ còn giống nhau đến 42% giữa tiếng Thái Việt thì làm sao mà tình cờ cho được?
Ắt phải có chung nguồn gốc là cái chắc.
Còn như bảo trong tiếng Việt có xài, có dùng, có mượn 3500 tiếng Tàu để mà nói, thì sao lại chẵng chung gốc?
Nhưng mà ai cũng biết đó chỉ là tiếng vay mượn, có cũng được mà không cũng thế thôi, vì là vay mượn, có trả hay không thì cũng thế thôi, không phải là đồng tiền vốn do mình làm ra mà có.
Mà đã vay mượn thì sao là nguồn gốc được? Hơn nữa ăn uống, chạy nhảy, iả đái leo trèo … thì vay mượn ở đâu vậy cà? Hỏi tức là trả lời.
Nó là tiếng gốc gác của miền Nam Á, có nhiều ngôn ngữ khác cùng nói thế, không riêng chi cho Thái, Lào, Mòn Khmer, Chàm hay Malay.
Thí dụ tiếng Khasi, ở trên Bangladesh, giống tiếng Việt cả câu dài chứ không những chỉ là từng tiếng mà thôi :
mi sống ở mô thì họ nói mi shông h-ơ mô ? Where do you live?
tao sống ở đây thì họ nói nga shông h-ơ ni I live right here.
[Xem bảng kê tất cả những tiếng đồng nguyên Khasi-Việt trong một bài khác. Họ cũng viết abc như mình đã mấy trăm năm rồi!]
Cái gốc tiếng của ông bà của ta vẫn còn nguyên và ông bà ta là những quyển từ điển sống, nói tiếng xưa của họ và cũng nói tiếng nói hiện nay của chúng ta.
Ta thường cho là miền Bắc Việt là cái nôi ngôn ngữ lịch sử và nhân chủng của giòng giống Việt. Cái đó chỉ đúng một phần. Riêng về tiếng nói thì không đúng.
Ai cũng biết về chỗ ở của người Mường hiện nay gần với vùng Thanh Nghệ Tĩnh hơn [xem hình].
Ai cũng biết là tiếng nói của miền ấy xưa hơn, nặng hơn, quê mùa hơn tiếng Bắc vì có hàng trăm tiếng xưa của miền Thanh Nghệ Tĩnh giống tiếng Mường, tiếng Thái Lào hơn mà người Bắc không còn biết đến nữa vì họ đánh mất chúng nó đi rồi qua hơn 2000 năm đứng mũi chịu sào, sống chung đụng với Tàu, vừa chung vừa đụng … nên tiếng Bắc đã bị Tàu hoá khá nhiều.
Khốn nạn hiểu theo nghĩa Tàu là khốn khổ trong khi Trung và Nam hiểu theo nghĩa riêng là "phá làng phá xóm, vô tư cách, đểu cáng".
piệu ziễn … tiếng Tàu Quảng Đông 100% đó, các bạn ơi [to demonstrate].
Trong khi tiếng miền Trung từ Thanh Hoá xuống đến Thừa Thiên chung một gịọng, trầm, đục, nặng, quê, mùa, và còn có chung rất nhiều tiếng cổ.
Có một quyển từ điển Nguồn Gốc Tiếng Nghệ Tĩnh của Trần Hữu Thung và Thái Kim Đỉnh rất có giá trị khảo cứu nhưng mà khi xin in ở ngoài Hà Nội thì bị mấy tên văn nô ngoài đó từ chối khéo, bảo với họ rằng: “Chỉ phải các ông nói tiếng ngoại quốc trong đó!”
Nên rốt cuộc phải đành in ngay ở nhà in nhỏ ở Vinh, Nghệ An chỉ vì cái ý thức hủ nút của bọn chúng.
Ảnh hưởng Tàu không xuống đến đó [vùng Cữu chân xưa] nhiều vì phải đi qua cái biển người Bắc Việt trước đã !.
Cũng như tiếng miền Nam quá mới thì lại xen lẫn nhiều tiếng gốc Kampuchia hiện nay mà Trung và Bắc không có, vì chúng ta đâu có tiếp xúc nhiều với Khmer cho bằng người Nam đâu?
Cách đây 300 năm biên giới giữa Khmer và Việt rất lỏng lẻo gần như không có, cho
nên miền Nam có từ ngữ như là:
cà chớn [k-châl ……………là làm biếng] người Việt miền nam hiểu theo nghĩa khác là không tin cậy được.
giỏ cần chóp, giỏ cần xé v.v..
chân nam đá chân chiêu [châng chuyênh là tiếng Khmer [# phía bên trái ]
Ta và Khmer đã chung nhau tiếng đó từ mấy ngàn năm về trước.
xí quách < chi-wích / life / đời sống >
Thí dụ: hết xí quách, tan tành xí quách cũng là tiếng chung của Thái, Lào, Miên [gốc Sanskrit].
Sự tiếp xúc làm cho tiếng nói thay đổi, không qua lại với nhau thì sẽ chết [tử ngữ].
Tiếng Việt năm 2012 vẫn còn giữ lại rất nhiều tiếng một xưa, phát âm xưa, ý nghĩa xưa, không những là của tiếng Mường / tiền Việt, mà còn là ngôi nhà rông chung sống của biết bao nhiêu người anh em ngôn ngữ xa gần nhưng mà đều ở quanh ta, vùng ĐôngNam Á.
Cho nên tiếng Việt được các nhà ngữ học cho là rất xưa, mà cũng rất nay, già nhất mà cũng là em út nhất của miền Đông Nam Á.
Xét đến những tiếng láng giềng như Lào, Thái, Miên, Chàm, Mòn, Mã Lai, Indonesia, Nùng, Thổ, Tày, Thái đen, Thái đỏ, Thái trắng, Hmong, Yao, Zhuang và 50 bộ lạc Mòn Khmer của dãy Trường Sơn hoang dại thì ta thấy họ cũng giữ lại được rất nhiều những tiếng Việt xưa, tiếng Mường xưa mà họ cũng như ta không ngờ đến … xưa rất xưa, nay rất nay mà luôn cả những hình thức trung gian cũng em em, man mán, na ná, giông giống giữa ta với họ nữa.
Đúng là "mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai".
tlan > tràn và lan ra
tlong > trong và lòng
tlên > trên và lên
tlôn > trôn và lồn
tlồi > trồi và lồi
tlẽn > trẽn và bẽn lẽn
tlõm > trõm và lõm
Tiếng Mường hiện nay đó, các bạn ơi, tiếng nói xưa của Lê Lợi mà cũng là của Nguyễn Trãi đó !
Ta có chừng 150 người anh em ngôn ngữ khắp miền Nam Á Châu này mà chỉ có một ông thầy là Tàu, mấy người kia thì học ông thầy Ấn Độ vì thế khác trường và lạc đuờng đi tới với nhau, dù cho hồi nhỏ chưa đi học thì sống chung trong một nhà, cái nhà chung của ngôn ngữ Nam Á.

trích Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: huongho (IP Logged)
Date: February 19, 2015 05:37AM
Quote:
Kẻ Kiếm Tìm
...
Tôi lang thang trên mạng và biết được 1 đường link, nghiên cứu về Tiếng Việt rất thú vị. Có thể các bác, có người biết có người chưa, nên tôi xin giới thiệu: [www.art2all.net] Tôi tin rằng 1 tác phẩm kỳ công như thế này mới có thể cho chúng ta 1 cái nhìn toàn diện nhất về Tiếng Việt.

Đây là cung cách ông lang Nguyễn Hy Vọng nghiên cứu tiếng Việt và các ngôn ngữ láng giềng !
Huongho.


Dính Líu Giữa
Tiếng Việt và Tiếng Lào Thái

BS NGUYỄN HY VỌNG
[www.gio-o.com]

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &amp;gt;4000 năm
Posted by: bacle (IP Logged)
Date: February 19, 2015 11:56AM
Ôi ngôn ngữ ....


Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Kẻ Kiếm Tìm (IP Logged)
Date: February 19, 2015 06:15PM
Thưa bác Huongho, em rất vui vì bác cho ý kiến, nhưng em chẳng vui tí nào vì cái ý kiến của bác!

1. Bác gọi ông Nguyễn Hy Vọng là cung cách ông lang. Sao em thấy nó có gì đó mỉa mai trong cách nói của bác vậy. Ừ thì em chấp nhận ông ấy sai trong các nghiên cứu về Tiếng việt đi, nhưng rõ ràng việc ông ấy sai trong lĩnh vực ấy, đâu có ảnh hưởng gì tới tay nghề bác sĩ của ông ấy, có khi ông ấy có tâm và là 1 bác sĩ giỏi thì sao? Vì sao họ nói sai có 1 câu mà bác đã cho rằng tất thảy họ đều sai, thôi thì bác ghét mình người ta thôi cần chi bác ghét cả họ của người ta. Em nghĩ rằng hai người cãi nhau với hai người tranh luận cũng khác nhau một khoảng cách hẹp như vậy, chỉ đủ để sự mỉa mai chen vào.

2. Vào với nội dung chính: Theo em thay vì bác trích dẫn cả nội dung bài viết bác chỉ cần paste cái đường link là được. Cái khoảng mà bác dán nội dung của bài lên thì bác nên dành để viết, phân tích những điểm đúng, sai, chưa được, chưa hợp lý trong cuốn Từ điển của ông Nguyễn Hy Vọng. Như thế em mới có thể đồng ý với ý kiến của bác.

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &amp;gt;4000 năm
Posted by: huongho (IP Logged)
Date: February 20, 2015 04:57AM
Bác Kẻ Kiếm Tìm kính ,
1- Tôi không gọi ông Nguyễ Hy Vọng là " CUNG CÁCH ÔNG LANG " . Tôi gọi ông Nguyễn Hy Vọng là " ÔNG LANG " , bởi vì ông Nguyễn Hy Vọng có bằng M.D. . Ở tại USA này , muốn hành nghề chữa bệnh cho người ta , tối thiểu phải có bằng M.D. Ở Việt Nam trước đây , ÔNG LANG cũng là người chữa bệnh cho người ta .

2- ' ... Theo em thay vì bác trích dẫn cả nội dung bài viết bác chỉ cần paste cái đường link là được. Cái khoảng mà bác dán nội dung của bài lên thì bác nên dành để viết, phân tích những điểm đúng, sai, chưa được, chưa hợp lý trong cuốn Từ điển của ông Nguyễn Hy Vọng. Như thế em mới có thể đồng ý với ý kiến của bác. "

Vậy thì xin mời bác đọc ý kiến của tôi về ông Nguyễn Hy Vọng .


{ Từ Maspero Đến Nguyễn Hy Vọng: Một Bước Khổng-Lồ Tìm Về Nguồn
GS. Nguyễn Ngọc Bích
October 2, 2014
Nguồn : [www.vietthuc.org]
2 Comments »

• Quang Nguyễn says:
October 18, 2014 at 9:23 pm
Trích :
{ Hai chữ “song viết” (đọc theo cách Hán-Việt) tìm thấy trong thơ Nguyễn Trãi, Hồng-đức Quốc-âm thi-tập, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Trong một thời-gian dài, không ai biết đọc thế nào là đúng và nghĩa là gì. Người đề nghị đọc là “rong vát,” người thì cho phải đọc là “song nhật,” người thì lại nghĩ phải đọc là “suông nhạt” hay “sớm hôm, sớm tối” song nghĩa chắc chắn là gì thì không ai biết. Cuối cùng, cách đây gần 20 năm, B.S. Nguyễn Hy Vọng đã cho tôi hay đây là một từ có nguồn gốc Lào (“song watr”) Thái (“song wat”) mà nghĩa là “nếp sống, cuộc sống, đời sống.” Như vậy, “Song viết ai bằng song viết ngư,” chẳng hạn, thì nên đọc là “Song wát ai bằng song wát ngư” (= Cuộc sống ai bằng được cuộc sống của người câu cá!). }
Font chữ Thái , font chữ Lào cũng không phải là khó tìm .
Đề nghị tác giả Nguyễn Hy Vọng công bố chữ viết của tiếng Thái (“song wat”) và tiếng Lào (“song watr”) để tiện việc tra cứu .

• Quang Nguyễn says:
October 18, 2014 at 11:33 pm
Re: Đọc Nôm
Posted by: huongho&nguyen tien dung (—.lightspeed.irvnca.sbcglobal.net)
Date: October 18, 2014 08:26PM
Từ Maspero Đến Nguyễn Hy Vọng:
Một Bước Khổng-Lồ Tìm Về Nguồn
GS. Nguyễn Ngọc Bích
October 2, 2014
….
Cuối cùng, trong dịp tôi nghiên cứu tập thơ Lưu Hương Ký của nữ-sĩ Hồ Xuân Hương (1770?-1840?), tôi gặp hai chữ Nôm (trong bài “Thạch Đình tặng”) mà mặt chữ bắt buộc phải đọc là “vả vê” (Câu đầu bài: “Đường nghĩa bấy nay chót vả vê”). Tra không thấy đâu trong các từ-điển chữ Nôm hai chữ này, tôi cũng khá phân vân không biết mình phiên âm như vậy có đúng không. Nhưng khi nhận được bộ từ-điển của B.S. Nguyễn Hy Vọng, tôi đã tìm được ngay đồng-minh nơi trang 2024 mục “Vả” và “Vả vê” gốc Thái Lào có nghĩa là “vắng vẻ, trống vắng.”
Nguồn : [www.vietthuc.org]
GS. Nguyễn Ngọc Bích kính ,
Ông GS đề cập đến 2 chữ VẢ VÊ ( Nôm ) mà lại không minh họa chữ viết . Đâu phải ai cũng có sách Lưu Hương Ký trong tay như ông đâu !
Tuy vậy , xin được mách với ông GS rằng :
1- Cụ Paulus Của có giải nghĩa 2 chữ VẢ VÊ ( Nôm ) trong tự vị của cụ đấy .
Đại Nam Quấc Âm Tự Vị – Huình TịnhPaulus Của
( )VẢ VÊ = Ham muốn sự gì ( mục từ VẢ )
VẢ VÊ ( ) = sa mê , ham hố ( mục từ VÊ )
2- Ông Nguyễn Hy Vọng không biết một tí gì về Hán cũng như Nôm .
Trước đây , ở Viện Việt Học , có lần ông NH Vọng định viết chữ ĐAO thì lại viết lộn thành chữ LỰC 力 .
Sự việc này có giáo sư Lê Văn Đặng ở Viện Việt Học minh chứng cho chúng tôi .}

Re: Chữ biểu ý Lạc Việt &gt;4000 năm
Posted by: Kẻ Kiếm Tìm (IP Logged)
Date: February 20, 2015 06:48PM
Thưa, rằng:

1. Bác có gọi ông Nguyễn Hy Vọng là ông lang là đúng đi nữa, bác có giải thích từ "cung cách" là phương pháp, cách thức đi chăng nữa. Thì có 1 điều người đọc dễ dàng nhận thấy, cách bác viết "Đây là cung cách ông lang Nguyễn Hy Vọng nghiên cứu tiếng Việt và các ngôn ngữ láng giềng!" là một sự mỉa mai. Cái em đề cập ở đây là sự mỉa mai chứ không phải cách bác gọi có đúng hay không. Phân tích kỹ thì bác nói đúng đấy thế nhưng đàng sau cái đúng ấy người đọc vẫn cảm nhận được thái độ của người viết. Tất nhiên ở đây chỉ là cảm nhận, không thể chứng minh bác có cái ý mỉa mai và bác có thể khẳng định bác viết câu ấy mà không có ý đó, người đọc cũng chẳng biết sao cả. Nhưng dẫu sao em vẫn thấy có sự mỉa mai, tất nhiên em cho rằng mỉa mai là không cần thiết!

2. Về ý kiến thứ nhất thì em xin góp ý như sau, bác đang đối thoại với GS Bích(em cũng không rõ là nam hay nữ). Và không có sự tham gia của ông Vọng, trong khi yêu cầu của các lại là đích thân ông Vọng. Em ngờ rằng: Đến nay bác vẫn chưa nhận được chữ song wat hay song watr gì đó phải không? Dẫu vậy, bác có thể mua hoặc mượn cuốn Từ điển(nếu có điều kiện) để chắc chắn rằng: Ông Vọng đã sai. Chứ với ý kiến chưa đi tới tận cùng của bác thì chưa chứng minh được gì.

3. Ở đây em muốn đề cập tới 3 ý, thứ nhất là yêu cầu ông Vọng cho biết 2 chữ Vả Vê, nhưng vẫn chưa có hồi đáp, nên ta không rõ chữ Vả Vê của ông như thế nào mà bình luận. Ở đây cũng chẳng nói gì hơn. Thứ hai là cách cắt nghĩa của ngài Của, hẳn bác đồng ý với em đó là 1 tài liệu, 1 cách cắt nghĩa và ngài Của đúng hay sai. Cũng giống như chữ Tết, bác đưa ra, có nhiều cách giải nghĩa. Đâu là đúng đâu là sai. Em cho rằng còn phải bàn nhiều. Thứ ba, (mà em cho rằng từ đó mà bác có sự hoài nghi)là ông Vọng không biết chữ Hán cũng như chữ Nôm. Người nghiên cứu biết được chữ Hán, chữ Nôm khi tìm hiểu Tiếng Việt thì tốt quá, nhưng khi người ta không biết thì sao? Người ta có thể vẫn nghiên cứu được không. Em ví dụ: Tiếng "Vả Vê" mà ông Của viết bằng chữ thì bác đã thấy, ngày nay có chữ quốc ngữ rồi, tiếng ấy được viết là "Vả Vê". Câu hỏi là trước khi chữ Nôm ra đời, tiếng "Vả Vê" này có tồn tại không? Nếu nó có thì rõ ràng chẳng liên quan quái gì tới nguồn gốc Hán hay chữ Nôm. Nên việc giải nghĩa chữ Hán và Nôm để tìm ra nghĩa của tiếng Vả Vê là sai hay hiết chữ Hán và chữ Nôm chẳng ích gì. Vì tiếng Vả Vê có trước khi chữ Nôm xuất hiện.

Tóm lại bác nên cụ thể hơn về những cái sai, cái chưa hợp lý, cái còn chưa được trong cuốn từ điển, chứ mấy ý kiến trên của bác vẫn chưa thể bác bỏ được cuốn Từ điển của ông Vọng.

Goto Page: 12Next
Current Page: 1 of 2


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity