![]() |
|
Tiếng Việt : Diễn Đàn Viện Việt Học
Diễn đàn thảo luận về mọi đề tài liên quan đến tiếng Việt, nguồn gốc tiếng Việt, v.v ...
Các bác kính,
Đây là một email tôi nhận được từ anh Châu Hùng - khoảng hơn năm nay (có bản đồ kèm theo mà tôi dán lên đây không được - lại trích từ bài viết "Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương' của Nguyên Nguyên) - cách nhìn của anh Châu Hùng cũng rất đặc biệt về nguồn gốc Lão Tử ... Hi vọng anh Châu Hùng chấp nhận cho tôi công bố các thư từ riêng tư vì ích lợi chung? Phần phụ chú (A), ( là do tôi thêm vào
Kính thưa anh Nguyễn Cung Thông, Tôi rất thích thú trong việc tìm hiểu về cổ sử nhất là Đông Nam Á và Châu Á. Thời gian vừa qua tôi đã gửi DNA qua cơ quan National Geography dể thử nghiệm DNA của chính bản thân mình. Kết quả tôi đã được nhiều dữ kiện khoa học mà tôi muốn tìm. Đại để DNA của tôi thuộc Haplogroup O3 (M122) con cháu của những nhà nông trồng lúa nước đầu tiên ở Châu Á. Theo các tài liệu về sử học tôi đã đọc qua thì DNA nầy thuộc giòng giống Bách Việt. Theo bản đồ trong các bài Thử Đọc Lại Truyền Thuyết Hùng Vương… thì địa bàn củ giòng giống Bách Việt quả thật là rộng lớn hơn cả sách cổ sử Việt Nam của mình mà tôi đã từng biết. Đây cũng chính là lý do mà tôi thắc mắc về nguồn gốc của Lảo Tử và Khổng Tử. Và Ngay cả lịch sử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng là một dấu hỏi trong đầu của tôi mà chưa có giải đáp thỏa đáng. Nhận được bài về con Heo (A) của anh tôi mừng lắm. Trước đó ttôi cũng đã có copy lại những bài về 12 con giáp của anh và cất giữ làm tài liệu gối đầu. Theo các tài liệu dựa và DNA của các loài thú được thuần chủng thì Heo Nhà được thuần chủng từ Đông Nam Á rất lâu đời trước cả Trung Hoa. Tài liệu nầy rất thích hợp với những dữ kiện khoa học DNA về con đường thiên di của người tiền sử khỏi Phi Châu cách đây từ 60,000 B.C. 50,000 B.C. Tôi hy vọng trong tương lai sẽ được sự chỉ dẫn cũa anh và các bậc đàn anh nhiều hơn. Cám ơn anh. Châu Hùng. Phụ chú (A) bài viết "Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Hợi - gỏi - cúi (heo) - phần 5" . Có thể tìm các bài viết này trên mạng dunglac.net, khoahoc.net, anviettoancau ...v.v... ( Gởi chung các bác : không biết làm sao liên lạc được với các bác Nguyễn Anh Tuấn và Ngụ-yến - theo tôi biết thì các bác này đã viết nhiều về 12 con giáp trên diễn đàn V V H (khoảng cuối năm 2005 và đầu năm 2006) ?Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 23, 2007 07:09AM
VN khi bánh xe bị xì nghe xì xì, xì bánh xe cũng nghe giống rắn kêu
_________________ thử ghi lại âm xưa của 12 con giáp.. Tí= Chít Sửu= Trâu Dần= Rằn(rằn ri) Mão(Mẹo)= Mèo Thìn= Trăn(Chăn:bắc VN) Tị= Xì ? Ngọ= Ngựa Mùi= Mùi(Dê) Thân= ? Dậu= Rậu (gà rượu nhậu)
Tuất= Sủa Hợi= Hoi(Hôi)....Heo .. :-) Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 23, 2007 03:30PM
..buổi sáng đi uống cafe với người quen, tôi vẫn thắc mắc chi 申 Thân..thật kì lạ, sao lại âm [thân] không chút gì có liên quan đến con khỉ..??.
âm của 12 con giáp tôi tin tưởng phần lớn là chỉ đặc tính của nó, nhưng vẫn tìm không ra: quote thiếp đã đăng ở trên: " 申 QĐ san2, PT shen2 xin4, HV thân: VN khỉ: đây cũng mang tính chất đặc điểm con vật, không phải tượng thanh, Hán 專 傳 còn lưu vết giống chữ 申đều có nghĩa: cầm riêng, truyền đi, riêng âm PT nghe âm đọc giống [trên] và [chuyền] QĐ âm nghe như trại trại VN [nhánh]... Khỉ: chuyền trên nhánh cây." nghe kĩ lại tự điển phát âm của âm Quảng Đông và PinYin, thấy không giống [trên] [chuyền] [nhánh] lắm, chỉ gượng gượng,...chỉ trại trại xa...!..không giống nhiều,....không hiểu..?? nghe lại lần nữa, và giở tự điển Thiều Chửu coi lại chữ Thân.. à há! tôi hiểu rồi. 申 QĐ san1 Pinyin shen1 Hán Việt Thân: nó mang nghĩa và âm VN là [sang] hoặc [san] ! tđ Thiều Chửu: 申: nghĩa 1: chi Thân nghĩa 2: lại nghĩa 3: đến nghĩa 6: Bạc kém phân phải chịu tiền pha thêm cho đúng số bạc gọi là thân thủy 申水. nghĩa 8: Bày tỏ. Như thân lý 申理 người bị oan ức bày tỏ lý do để kêu oan. nghĩa 2 và 3: đi lại, đi đến ....đi sang.. , ...đi sang nhà bạn chơi..
nghĩa 6 và 8: [pha thêm] mang nghĩa là ...san sẻ...sẻ qua. , và [san sẻ] chia sớt qua, và nghĩa bóng cho [bày tỏ qua].
và [sang] hay đi chung với: nhảy sang, đi sang, chuyển sang, chuyền sang..v.v 珊: san hô 申 đồng âm với những chữ có hài thanh là [san] như trong chữ san hô ở trên: như các 栅 và chữ [bộ khuyển + san]. 柵 sách: Thiều Chửu ghi có một âm [sách], QĐ có hai âm. cak3 san1[sách, san] Pinyin[ zha4 ce4 shan1] railings; palings; bars; fences. Hàng rào, cắm tre gỗ làm hàng rào để ngăn người đi gọi là sách. 申 chỉ nghĩa: chỉ "đặc tính hay" của con khỉ nó nhảy, chuyền "sang" các khoảng cách "các cành" (giống các chấn song, hàng rào) của cây...trên không ..
..done thử viết lại các âm đọc các âm xưa của 12 con giáp lần nữa: ............ Tí= Chít Sửu= Trâu Dần= Rằn(rằn ri) Mão(Mẹo)= Mèo Thìn= Trăn(Chăn:bắc VN) Tị= Xì ?(rắn phun xì xì) Ngọ= Ngựa Mùi= Mùi, Mê(Dê) Thân= Sang...(Khỉ)..(khỉ nhảy sang, chuyền sang). Dậu= Rậu (gà rượu nhậu)
Tuất= Sủa..(chó sủa) Hợi= Hoi(Hôi)....Heo ____ Trâu: ăn cỏ phải chăng thời lâu xa xưa do đó lấy âm cỏ [thảo] đặt cho trâu, hoặc ngược lại...???? riêng các âm này có liên quan đến Nam Á hay không xin dành cho các nhà ngôn ngữ học... Bác Nguyễn.Ng kính
Bác uống cafê và nói chuyện về 12 con giáp thì thật là tuyệt! Các học giả khảo cứu về nguồn gốc phương Nam của 12 con giáp đều khựng lại ở chữ Thân này như bác. Vài ý mọn : bác để ý chữ Khôn (chỉ đất, ruộng, bùn...) trong cách gọi Bát Quái (từ thời Thượng Cổ) - là bộ thổ + chữ Thân (phải là hài thanh vì thổ là đất rồi mà). Như vậy ta có thể đưa ra một dạng âm Thượng Cổ của Thân là *khôn (kun1 BK) rất gần với âm khọn là con khỉ (tiếng Việt Cổ). Theo Huỳnh Tịnh Của trong ĐNQATV (1895) thì làm con khọn là làm chẳng nên sự gì, làm tuồng mặt con khọn là làm mặt khỉ ...v.v...Một chữ rất hiếm la2 chữ Thân (shen1 BK) viết bằng bộ mục + chữ Thân hài thanh nghĩa là mau chóng, cấp tốc ...tương ứng với KHẨN (jin3 viết bằng bộ mịch) CẤP ... cho thấy tương quan Thân-*khon/*khan (âm ô cô hơn a như Nôm-Nam, vốn-bản ...)....Và hãy so sánh Hán Việt - Việt như toản-khoan (dùi), toả - khoá , khâu - thiêu , thím - kiểm ...đều cho thấy liên hệ th-k . Do đó tương quan Thân-khọn có cơ sở giải thích. Vài hàng rất tóm tắt thân gỏi Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 23, 2007 07:48PM
Bác Thông kính,
xin lạm bàn với bác về chữ [Khôn]. tôi xem chữ 坤 khôn: cũng đồng âm nghĩa với 堃, và đồng âm[QĐ và Pinyin] với các chữ có hài thanh 崑 惃.v.v. theo tôi nghĩ khôn là chữ đã "mượn" chữ [Thân] để diễn tả hình ý, quẻ [khôn] có các vạch hai bên song song chính giữa có đường rãnh hở từ trên xuống dưới, do đó chữ [thân] rất giống để biểu thị nó, chữ [Thân] bộ điền với một gạch từ trên xuống dưới rất hợp biểu ý với quẻ khôn, mang nghĩa đất(điền) và một gạch từ trên xuống dưới biểu hiện ý của kinh Dịch, cũng nói Khôn: địa đạo dã, thê đạo dã, .v.v con đường đi xuyêh qua đất(chỉ đạo sống đi qua trên đời.v.v.,? hơn nữa Khôn mang quá nhiều nghĩa: mẹ..v.v Khôn chỉ phía Tây Nam mà gần đó có dãy núi Côn Lôn tôi nghĩ người đặt tên cho quẻ này đã lấy địa danh vùng núi này mà đặt tên cho quẻ này.:-) nếu [Thân] là hài thanh sao không có chữ khác nào hài thanh của chữ[Thân] mà đọc là [khôn] ??,chỉ riêng có chữ [Khôn] này.?? còn chữ [Khẩn] bộ mịch jin3, nghĩa cần kíp, tôi thấy khác nghĩa 眒 nghĩa: trừng mắt, và lẹ làng (ý nghĩa khác nhau), hơn nữa dù cho có giống nghĩa hoàn toàn nhưng không thể cho đó có liên quan đến "âm" với nhau, khi hai chữ đã đọc âm khác nhau...!..?? ý mọn. ......... nhiều sự việc rất giản dị mà nhiều khi..do..mình..mà... Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 23, 2007 07:52PM
ghi chú câu:
địa đạo dã: 地道也. sửa gõ sai: con đường đi xuyêh qua đất(chỉ đạo sống đi qua trên đời.v.v.,? hơn nữa Khôn mang quá nhiều nghĩa: mẹ..v.v .. con đường đi xuyên qua đất(chỉ đạo sống đi qua trên đời.v.v.,? hơn nữa Khôn mang quá nhiều nghĩa: mẹ..v.v Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 23, 2007 09:31PM
thêm một sự thú vị là có cụm từ:
vươn sang..:-) ..Phim truyền hình Hàn Quốc vươn sang Châu Âu.... - Viet báo net- vươn mình sang ? :-) phải chăng ? thời cổ xưa đã nhìn các đặc điểm động tác con vật mà đặt tên, và biểu tượng ?? vươn: vượn ? sang: Thân.. khỉ ? Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 07:18AM
..
..các bác tìm quẻ Khôn xem rồi sẽ ....hiểu sao kinh Dịch nói: Khôn đất giã, địa đạo dã, Mẫu(mẹ) dã, Thê đạo dã(nghĩa đen lẫn nghĩa bóng :-) Khôn ..để ý âm ...ôn. nếu đúng vậy thì thời xưa "hóm" quá và hồn nhiên quá.. Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 07:31AM
gõ sai xín sửa lại:
..các bác tìm quẻ Khôn xem rồi sẽ ....hiểu sao kinh Dịch nói: Khôn đất giã, địa đạo dã, Mẫu(mẹ) dã, Thê đạo dã(nghĩa đen lẫn nghĩa bóng :-) ______________ các bác tìm quẻ Khôn xem rồi sẽ ....hiểu sao kinh Dịch nói: Khôn địa giã, địa đạo dã, Mẫu(mẹ) dã, Thê đạo dã(nghĩa đen lẫn nghĩa bóng :-) ______________________ ..cái [đạo:đường] của [thê] ..(nghĩa bóng lẫn nghĩa đen...!!??). chứng tỏ thời xưa họ mộc mạc vô cùng Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 07:33AM
vẫn sai:
chữ Khôn địa giã ra: Khôn địa dã. Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 07:44AM
..tôi chưa có xem đến các bảng âm của các bộ tộc khác của bạn Thạch Sinh
đăng ở các thiếp trên. sau khi tái lập các âm này, xem lại thấy giống y các bảng âm 12 con giáp của các tộc thiểu số của b. Thạch Sinh ở trên Tí= Chít Sửu= Trâu Dần= Rằn(rằn ri) Mão(Mẹo)= Mèo Thìn= Trăn(Chăn:bắc VN) Tị= Xì ?(rắn phun xì xì) Ngọ= Ngựa Mùi= Mùi, Mê(Dê) Thân= Sang...(Khỉ)..(khỉ nhảy sang, chuyền sang). Dậu= Rậu (gà rượu nhậu. Tuất= Sủa..(chó sủa) Hợi= Hoi(Hôi)....Heo Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 09:16AM
Để tóm lại ý nghĩa tên gọi đặc điểm biểu tượng 12 con giáp xuyên qua âm đọc và ngữ nghĩa.
âm Quảng Đông= QĐ. Tý= Chít (do âm thanh: chuột kêu chít chít). Sửu= Trâu ( QĐ: chữ [thảo:cỏ] cou2, chữ [Sửu: trâu] cau2: hai âm tương tự nhau, có thể do trâu ăn cỏ nên người thượng cổ đã dùng [thảo: cou2] để trại âm gọi con trâu[cau2] hoặc ngược lại ...??. Dần= Rằn (trong Quảng Vận: nói đọc là dần còn đọc là di: dần di ==> VN rằn ri; con rằn ri , cọp vằn.
Mão(Mẹo)= Mèo (do âm mèo kêu meo meo). Thìn= Trăn (bắc VN [Chăn]: dễ hiểu đây là con trăn ). Tỵ= Xì (Rắn)(do âm rắn rít xì xì). Ngọ= Ngựa (có mang thêm ý nghĩa đặc điểm của ngựa là lồng lên [chứng]: như VN vẫn dùng [ngựa] nghĩa bóng chỉ ..động cỡn). Mùi= Mùi, Mê..(Dê) (đặc điểm của dê mùi rất nồng..sau này nghĩa bóng mùi mẫn..mê mẫn (mùi mẫn quá rồi mê mẫn.??. , nồng nàn ..mê mẫn tâm thần..?? .. !
Thân= Sang (Khỉ) ( đặc điểm chỉ động tác khỉ chuyền "sang" cành cây này qua cành kia). Dậu= Rậu (Gà) (gà để tế cúng với "rượu" ??, để nhậu..??, dậu: chữ Hán còn nghĩa là rượu và đồ uống rượu), âm QĐ đọc giống giống..dậu và ..nhậu ... .
Tuất= Sủa (Chó) (chó sủa: lấy động tác sủa của chó đặt tên cho chi này; QĐ[seot1] ). Hợi= Hoi, Hôi (Heo) (do heo hôi..nên đặt tên cho chi này..VN vẫn có dùng câu : hôi như heo .. .
-------------- tóm lại thời xưa đặt tên con giáp thuần thúy thiên nhiên, bản nhiên sự vật...sau này biến chế giờ tốt giờ xấu..loạn lên.. mất đi sự hồn nhiên thần túy, đúng như nền minh triết từ xưa chỉ..đạo ngay trước mắt.hoặc bình thường tâm là đạo (Nam Tuyền Phổ Nguyện thiền sư) ...mà do tâm thức..chế biến chủ thuyết lung tung ..nên thế gian ..không yên.. Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 11:41AM
vì topic Zodiac này có chữ 坤[khôn] liên quan đến chữ 申[thân] nên tôi xin lạm bàn về chữ 坤 (một lần rồi thôi)..để minh giải cho 申.
tđ Thiều Chửu: 1-Quẻ khôn, ví như đất, là một quẻ trong bát quái. 2-Thuận nói về đức hạnh bên đàn bà. Như khôn trạch 坤宅 nhà gái. ..
nhìn quẻ Khôn và Dịch: Khôn địa dã, địa đạo dã, mẫu(mẹ) dã, thê đạo dã. khôn là đất: chở và sinh sôi mọi vật, là mẹ, là đạo của vợ. nhìn hình quẻ Khôn:....giống..bộ phận..của.... rõ ràng là chỉ hình ý.. là mẹ sinh...con. bổn phận(đức hạnh nghĩa đen) của vợ là tạo....thế hệ sau..
chữ 申 bộ điền được mượn để chỉ mảnh đất chuyên chở và tạo ra mọi....vật, và cũng chỉ "mảnh đất" với đường kẻ từ trên xuống dưới, mảnh đất tạo...! :-) rõ ràng đã mượn hình 申 để chỉ..."hình ý"..:-) end. Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 12:17PM
thêm chữ 昆 côn: QĐ kwwan1 Pinyin kun1
tđ Thiều Chửu: Con nối. Như hậu côn 後昆 đàn sau. à há ! rõ ràng 坤 cũng âm QĐ kwan1 pinyin kun1. đó là nguyên do vì sao 坤 có âm :khôn. quẻ 坤 để tượng trưng tạo..baby... Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 12:29PM
và VN:
chữ và âm con==>côn==>>khôn nghe có thuyết nói kinh Dịch là của .....??? Re: zodiac
Posted by: Việt (IP Logged)
Date: December 24, 2007 05:51PM
Dù sao thì lý giải của bạn Nguyễn.Ng cũng thú vị đấy chứ, " góp vui cũng được vài trống canh ".
Nhưng thú thật vui thì vui đấy nhưng chẳng có giá trị gì về nguồn gốc tên gọi 12 con giáp ( xin đừng buồn nhé ), tất cả cách lý giải trên đều chỉ là suy đoán, gán ghép một cách tùy hứng đầy tưởng tượng . Tôi không tin 12 địa chi khởi đầu là tên gọi 12 con vật vì thật sự khởi thủy chúng chỉ là tên gọi chỉ thời gian , chúng kết hợp chặt chẽ với thập can , nếu 12 chi là chỉ con vật thì 10 can chỉ con gì đây, cái gì đây trong tiếng Việt ? Hơn nữa Can Chi còn kết hợp với học thuyết âm dương ngũ hành...mà người Việt mình thì không thể là tác giả học thuyết này cũng như là tác giả của Chu Dịch, Hà Đồ Lạc Thư. Tóm lại chúng ta chỉ có thể nói chuyện về 12 con thú tượng trưng cho 12 chi chỉ xuất hiện sau này trong mớ mạng nhện chằng chịt, đầy sương khói mịt mù là chiêm tinh, bói toán ! Nhưng 12 con thú là 12 con vật chứ không phải là tên gọi 12 Chi, xin đừng lẫn lộn, chẳng qua người Việt thích gọi tên bình dân dễ hiểu nên mới gọi là tuổi con chuột....con lợn thế thôi ! Chỉ có một khả năng đem lại hy vọng cho giả thuyết tên gọi 12 con thú là của dân Việt đó là người Việt ở VN chính là miêu duệ của một tộc người vùng Hoa Nam, phi Hán mà tộc người ấy chính là tác giả của việc tạo ra, gán ghép 12 con vật ( có sau ) vào 12 Địa Chi ( đã có từ cổ lỗ ! )Nhưng khổ nỗi hiện nay có vẻ như các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt lại gào thét chống lại thuyết di dân từ Bắc xuống Nam ! Thế là hy vọng lại tan biến ! Chỉ bằng ngữ âm lịch sử thì không đủ để chứng minh tên gọi 12 con vật bằng tiếng Việt chính là tên gọi 12 Địa Chi bằng âm Hán Việt có từ thuở ban đầu. Cần để ý đến thời điểm giao tiếp Hán và Việt chỉ có từ thời Tần , Hán nếu người Hán học hỏi 12 con vật ( giáp ) chuột....lợn của người Việt để ký âm thành Tý....Hợi thì Ô hô ! Sao lại có các chữ viết giáp cốt ở bên Tầu từ thời Ân Thương ? Bác Việt kính
Rất quan tâm về những băng khoăng của bác Việt về nguồn gốc 12 con giáp - không thể tra các chữ Phật, bát nhã, tăng già ... rồi cho rằng chúng có gốc Hán được, dù rằng tất cả các chữ trên đều có mặt trên giáp cốt văn, kim văn ... Vài nhận xét sơ khởi và rất vắn tắt đóng góp cùng các bác : - Cách đọc Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi không có quan hệ gì đến tên gọi 12 con vật (chuột, trâu/bò, cọp, thỏ/mèo, rồng, rắn…) trong tiếng Hán hiện tại cũng như tiếng Hán Cổ, ngay cả khi đọc bằng giọng Bắc Kinh, Quảng Đông, Hẹ … Vài giới hạn quan trọng : nguồn gốc tên của 12 con giáp chứ không phải tại sao lại có 12 con (không phải 11, 13 con giáp) hay tại sao chúng có mặt và khi nào! - Tiếng Trung Hoa/TH dùng từ kép như Tý Thử, Dần Hổ, Hợi Thỉ… để ghi lại tương quan của 12 chi này với tên gọi các loài vật biểu tượng hay các thủ thuật khác (xem cách viết/vẽ trang sau) - Truy nguyên các cách viết/khắc cổ trên giáp cốt văn, kim văn ta thấy chúng cũng chẳng liên hệ gì đến 12 loài vật : các điều này cho thấy rất có thể Tý, Sửu …Hợi chỉ là cách ký âm hay ghi lại một hệ thống không phải tiếng Hán : thí dụ như các từ Phật, bát nhã, tăng già … rõ ràng là phiên âm từ tiếng Phạn nhìn từ góc độ Phật giáo. Như vậy, Tý … Hợi xuất phát từ ngôn ngữ nào ? Nhìn từ góc độ nào ?...v.v.. - Thiết lập bảng so sánh các cách gọi tên 12 con giáp của những ngôn ngữ ở Á Châu - từ các ngôn ngữ chính như Trung Hoa, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Nhật Đại Hàn … đến những ngôn ngữ của dân tộc ít người hơn như Mường, Dao, Di … xem bảng so sánh ta thấy cách đọc Tý, Sửu …Hợi rất gần với tiếng Việt hay Việt Cổ : các liên hệ này dựa trên những định luật hay biến âm có cơ sở vững chắc như : Tý-chút-*chuột (phản ánh các giai đoạn phát triển thanh điệu của tiếng Việt), Mão-Mẹo-*mèo (nguyên âm e cổ hơn so với a : chè – trà, hè - hạ..), Ngọ-*ngựa, Sửu-*klu-*tlu/trâu (biến âm kl-s như Mường-Việt : klong>sông, klang > sang…), Thân-*khon-*khọn (khôn, một trong bát quái thời Thượng Cổ, viết bằng bộ thổ hợp với chữ thân hài thanh – nhưng lại đọc là khôn cho thấy âm cổ của Thân là khôn, rất gần với âm khọn – là con khỉ của tiếng Việt Cổ), Mùi - *mwi-mvê – dê (vị là một dạng từ *mwi), Hợi-*koi-*kui-cúi (cúi là con heo, tiếng Mường và gỏi là món ăn từ da heo…), Dần – nhìn cách viết/khắc trên giáp cốt văn/kim văn thấy hai bàn tay dâng lên (kính) cho thấy đây là cách ký âm của kính (kính trọng, tôn sùng, khâm phục, ngưỡng mộ …là các từ khác cùng nghĩa) mà kính là một loài cọp huyền thoại rất dữ, nên ta có thể liên hệ Dần-*kính-*kễnh (kễnh là cọp)…v.v… - Đương nhiên là đã có các công trình trước đây của học giả Trung Hoa với cùng mục đích là truy nguyên tên 12 con giáp : như Quách Mạt Nhược cho rằng chúng có gốc từ Babylon, Lương Khải Siêu cho rằng chúng từ Phoenicia, còn Triệu Dực thì lại cho rằng chúng từ các dân tộc thiểu số ở Hoa Bắc – nhưng đa số cho rằng chúng có gốc Hán (mà không chứng minh). Các học giả Tây phương cũng đặt vấn đề về nguồn gốc phi-Trung-Hoa của 12 con giáp như Joseph Edkins (1823-1905, nhà truyền đạo người Anh từng sống 57 năm bên Trung Quốc), Terrien de Lacouperie (nhà Hán học người Pháp) tin rằng 12 con giáp từ Babylon nhập vào Trung Hoa qua nhóm Bách Việt (qua cuốn “The languages of China before the Chinese” 1887 và các bài viết như “The Zodiac and Cycles of Babylonia and their Chinese derivatives”… ), Léopold de Saussure với các bài viết như “Origine babyloniene de l’astronomie chinoise” (1923), Edouard Chavannes với bài viết như “Le cycle turc des douze animaux” (trong tạp chí T’oung Pao, 1906), Carl Bezold (nhà Hán học người Đức, 1859-1922) sau khi nghiên cứu thiên văn Babylon và TH đã kết luận rằng thiên văn học đã từ Babylon nhập vào Trung Quốc trước thế kỷ VI (TCN) … và gần đây hơn là cuốn sách “The origin of the Zodiac” (1968, tái bản 2001, 2003) tác giả Rupert Gleadow đã ghi nhận nhiều dữ kiện thiên văn và tài liệu để chứng minh nguồn gốc phi-Trung-Hoa của 12 con giáp. Số học giả ngoại quốc (nhưng chuyên về Hán học) đặt vấn đề về nguốn gốc phi-TH đã có rất nhiều so với vài học giả TH như ta thấy trên (điều này khá dễ hiểu?). Không những thế, từ góc độ ngôn ngữ học ta bắt đầu có những bài viết nghiêm túc của George Coèdes (1935) về tên 12 con giáp trong tiếng Mường, Xiêm, Khme để đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc Mường Cổ. Học giả TH Li Fang-Kuei (1945) cũng viết về các tên 12 con giáp qua các ngôn ngữ Thái. Học giả Paul K. Benedict đề nghị thập nhị chi có nguồn gốc Á Thái (Austro-Thai) từ năm 1967, 1975. Học giả Jerry Norman (1985) sau khi so sánh các tên gọi qua tiếng Mường, Việt, Thái, Khme, Hán và Hán Việt … đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc Nam Á (Austroasiatic). Bài viết đầu tiên Jerry Notman viết chung với Mei Tsu-Lin (1976) về các tiếng Hán có nguồn gốc phương Nam. Học giả William G. Boltz (1991) cũng viết bài về nguồn gốc 12 con giáp qua các ngôn ngữ Thái dựa vào công trình của William Gedney (1982), cho rằng 12 con giáp của Thái, Việt xuất phát từ TH. - Cũng như tình hình ở TH, đa số các học giả Việt Nam như Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim …đều không đặt vấn đề nguồn gốc phi-TH của 12 con giáp. Từ thập niên 1940, tác giả Lý Đông A viết nhiều về ảnh hưởng của triết Việt vào văn hoá TH, sau đó là học giả/linh mục Kim Định chứng minh rằng văn hoá TH đã mượn nhiều từ văn hoá Cổ Việt (như cuốn “Việt Lý Tố Nguyên” – NXB An Tiêm 1970), tác giả Nguyễn Hoài Nhân bên Pháp từ thập niên 1980 (qua các bộ “VietNam en image”) so sánh các dữ kiện khảo cổ và ngôn ngữ/văn hoá để đưa ra kết luận là “người Việt Cổ đã cho và người Hán đã thu nhận/vay mượn văn hoá”; tác giả Lê Mạnh Thát qua cuốn “Lịch Sử Âm Nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thới Lý Nam Đế” (in lần thứ nhất vào năm 1970, tái bản 2001…) cũng cho rằng Việt Ca (Lưu Hướng ghi lại trong Thuyết Uyển) có nguồn gốc Việt. Trong cuốn “Kinh Dịch - đạo của người quân tử” tác giả Nguyễn Hiến Lê có nhắc đến cuốn “Kinh Dịch Nguyên Thuỷ” của tác giả Lê Chí Thiệp (Sài Gòn, 1973) dùng khí hậu, đất đai, đời sống của dân tộc Việt Thường để chứng minh rằng tiên thiên bát quái xuất phát từ đất Việt Thường…. Tác giả/tiểu thuyết gia Bình Nguyên Lộc cũng để lại nhiều ấn tượng qua các cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” và “Lột trần Việt ngữ” (Sài Gòn, 1974) . Gần đây hơn (từ năm 2000) các tác giả như Nguyễn Thiếu Dũng, Nguyễn Vũ Tuấn Anh và Trần Quang Bình đã viết nhiều và đưa ra các lý luận về nguồn gốc phương Nam của kinh Dịch (Diệc), Bát Quái – nhưng không ai viết về nguồn gốc của hệ thống tên 12 con giáp. - Cơ sở nguồn gốc 12 con giáp đòi hỏi một số kiến thức căn bản dựa vào ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hoá học, khảo cổ học, lịch sử … và nhất là di truyền học với nhiều khám phá gần đây về DNA . Cá nhân người viết vẫn thích cách nhìn tổng hợp (tiếp cận liên ngành) mà tác giả/GS Trần Quốc Vượng đề nghi... Tôi đồng ý phần nào về cách chứng minh 'liên ngành' mà bàc Việt hàm ý trong thiệp ở trên. Thân gởi 1. À quên nhắc đến anh Nguyễn Quang Nhật gần đây cũng viết nhiều về nguồn gốc phương Nam của kinh Dịch, thập nhị chi ...
2. Jerry Norman chứ không phải là Jerry Notman . Kính gởi các bác trên diễn đàn Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 24, 2007 11:35PM
hề hề ông bạn Việt tôi thấy có vẻ hồ đồ hay gán ghép những gì người khác họ không có nói mà cứ gán cho họ, 12 con giáp là gốc của ai tôi không có quan tâm đến, nếu của nước ở Phi Châu cũng được tôi không quan tâm, trên thiếp ở tôi, có ý nói VN cũng có quan niệm về con vật như vậy, như nghĩa bóng [ngựa] là...động cỡn...v.v, và tôi có ý nói nếu có ai quan niệm 12 con giáp là gốc Nam Á thì tùy ý tìm hiểu và cho ai nghiên cứu về ngôn ngữ học, tôi không có ý tưởng tìm hiểu vấn đề này. tôi còn biết ai tạo ra 12 con giáp và thập can, nó đã xuất hiện đồng lúc với ngũ hành và ở thời điểm nào.., nếu ông bạn muốn biết thì trả lời, tôi khai thông cho "tỉnh táo" tên ai tạo ngũ hành, ai tạo 12 con giáp và thập can.
sơ sơ chỉ cho ông bạn chữ [ngọ 午] Thuyết văn giải tự. 午: 啎也. 啎: obstinate; disobedient; intractable. tiếng Anh dịch ra Việt những chữ này là gì..?? sơ sơ dịch chữ: obstinate: bướng bỉnh, cứng đầu cứng cổ, khó bảo; ngoan cố. Hán Ngữ Đại tự điển. chữ 午: nghĩa thứ 7. 7.十二生肖屬馬,因亦為馬的代稱。 漢 王充 《論衡·物勢》:“午……其禽,馬也。” mã đích đại xưng dịch là gì.???? mã dã dịch là gì. mã dã không lẽ dịch là.... chó dã..?? . Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 25, 2007 12:03AM
..ngựa mà bướng bỉnh cứng đầu cứng cổ mà không là ngựa chứng thì là ngựa gì..??, không lẽ gọi là ngựa mù..?? Re: zodiac
Posted by: Việt (IP Logged)
Date: December 25, 2007 01:12AM
" Tôi đồng ý phần nào về cách chứng minh 'liên ngành' mà bàc Việt hàm ý trong thiệp ở trên. "
Bạn Thông cũng nên suy nghĩ về ý tôi đã đưa trong thiếp trên: " Cần để ý đến thời điểm giao tiếp Hán và Việt chỉ có từ thời Tần , Hán nếu người Hán học hỏi 12 con vật ( giáp ) chuột....lợn của người Việt để ký âm thành Tý....Hợi thì Ô hô ! Sao lại có các chữ viết giáp cốt ở bên Tầu từ thời Ân Thương ?" Về sự tiếp cận Bắc - Nam, Hán - Việt trong sử sách chỉ ghi nhận sớm nhất vào thời Tần Hán, ở VN là thời đại của An Dương Vương , nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính. Ở thời kỳ này chúng ta biết rất ít về văn hóa Âu Lạc, ngoài những truyền thuyết Trọng Thủy Mỵ Châu, thành Cổ Loa...và nhất là về chữ viết, lịch pháp, thiên văn, Lục thập hoa giáp, 12 con Giáp...thì tuyệt nhiên không hề thấy một ký ức nào ! Trong khi đó thì về Triệu Đà ta lại biết rất rõ theo sử sách TH và có bằng chứng khảo cổ đàng hoàng, dĩ nhiên ở vào kỷ Triệu Đà mới có khả năng bắt chước, học hỏi 12 con Giáp nếu như nó là của người Việt thời Âu Lạc nhưng nếu vậy thì Can Chi trong mấy vạn miếng giáp cốt thời Ân Thương đã học lại từ ai đây chứ ?! Còn nếu nói về truyền thuyết Việt Thường cống trĩ, chữ khoa đẩu trên lưng rùa ( nhưng cũng chỉ vào nhà Chu )...thì càng mù mờ huyền sử dày đặc ! Cho đến nay nước Việt Thường có thậy hay không, là nước nào ở Trung Hoa hay Việt Nam ? sử học vẫn chưa dám khẳng định ... Chỉ cần những chuyện này thôi cũng đủ phủ nhận tên gọi 12 con vật đại diện cho 12 con Giáp từ Tý....Hợi có nguồn gốc từ Việt Nam . Xin giới thiệu cùng các bác bài số 9 về chữ "Dần" do bác Thông và tôi soạn chung:
"Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Dần - *kính - kễnh" (phần 9) Nguyễn Cung Thông (Úc), Thạch Sinh (Đức) Dần 寅 là từ Hán Việt (HV) chỉ thời gian từ 3 đến 5 giờ sáng, hay tháng một và cũng chỉ hướng ENE (Bắc Đông Bắc). Dần còn là chi thứ 3 trong 12 con giáp mà con vật tượng trưng là hổ (cọp). Thoạt nhìn thì Dần và cọp beo chẳng có gì liên hệ, nhưng khi tra ra những cách đọc khác nhau thời Cổ Đại thì sẽ thấy nhiều tương quan rất thú vị. Ngoài ra, các cách khắc / viết trên Giáp Cốt Văn, Kim Văn không thấy chỉ một loài vật nào hết, cũng như các cách khắc / viết thời Thượng Cổ của tên 12 con giáp: điều này cho thấy rằng Dần là một cách ghi lại âm 'ngoại quốc' (con cọp) trong vốn từ Trung Hoa (TH) mà thôi:
Phần sau sẽ cho thấy tương quan ngữ âm Dần - *kính - kễnh (tiếng Việt cổ, con cọp) rõ nét hơn, một đóng góp của tộc Việt vào nền văn hoá cổ điển Á Đông mà rất ít người nhận ra. Nên phân biệt số chỉ bậc thanh điệu đi ngay sau chữ khác với số ghi phụ chú (superscript / hay là [..]) trong bài. 1. Giới thiệu tổng quát Hổ hay cọp, hùm được coi như là vua sơn lâm, biểu tượng sức mạnh và tính dũng cảm. Một cách xem ảnh hưởng của loài cọp vào văn hoá là khảo sát sự hiện diện của chúng qua ca dao, thành ngữ hay tục ngữ - đầu tiên là từ Trung Quốc vì tài liệu khá nhiều so với Việt Nam (VN). 1.1 Văn hoá Trung Hoa Hổ lạc bình dương bị khuyển khi : 虎落平陽被犬騎 - cọp xuống đất bằng bị chó khinh thường (không còn dụng võ được như Cá trên cạn) Điệu hổ ly sơn : 調虎離山 - đưa cọp ra khỏi núi, một sách lược để làm đối thủ yếu đi... Toạ sơn quan hổ đấu : 坐山觀虎鬥 - ngồi ung dung trên núi để xem hai con hổ đánh nhau - một sách lược để tiêu diệt các đối thủ mạnh hơn mình … Hổ độc bất cật nhi (có tài liệu ghi là hổ độc bất thực tử) : 虎毒不吃兒 / 虎毒不食子 - cọp dữ không ăn thịt con Hổ ngoạ phùng nhân thực, nhân cùng khởi đạo tâm : 虎餓逢人食 人窮起盜心 - cọp đói gặp người bắt ăn, cũng như người nghèo khổ thì sinh lòng trộm cắp Hổ tử hùng tâm tại : 虎死雄心在 - cọp chết nhưng tính anh hùng vẫn còn Bất nhập hổ huyệt, nan đắc hổ tử : 不入虎穴 難得虎子 - không vào hang hùm làm sao bắt được hùm con? Quần hồ bất cập độc hổ : 群狐不及獨虎 - một bầy cáo không bằng một con cọp dữ Mãnh hổ nan địch quần hồ : 猛虎難敵群狐 - hổ mạnh như không địch lại một bầy khỉ - sự đoàn kết gây sức mạnh Dưỡng hổ di hoạn : 養虎遺患 - nuôi cọp trong nhà, đến khi cọp lớn lại bị cọp ăn thịt (như: Nuôi ong tay áo) Hồ giả hổ uy : 狐假虎威 - cáo mượn oai cọp, ý nói dựa hơi áp bức người Hổ phụ vô khuyển tử : 虎父無犬子 - hổ cha không có (sinh) chó con Hổ khẩu bạt nha : 虎口拔牙 - rút răng cọp từ miệng cọp (ý nói mạo hiểm) Hổ môn vô khuyển chủng : 虎門無犬種 - trong gia đình hổ không có chó Hổ phụ lân nhi : 虎父麟兒 - cha hổ sinh ra con lân Hổ đầu phách dăng/nhăng : 虎頭拍蠅 - phủi ruồi trên đầu con hổ, làm việc thiếu suy nghĩ, không đáng, nguy hiểm ... Mãnh hổ ly sơn /-lạc sơn : 猛虎離山 / 猛虎落山 - hàm ý không có đất dụng võ Hổ lang chi quốc : 虎狼之國 - ý chỉ nước còn bán khai (dân tộc thiếu văn minh) Hổ phụ sinh hổ tử : 虎父生虎子hổ cha sinh ra hổ con (như: hổ phụ vô khuyển tử ) Hổ nhi quán giả : 虎而冠者 - người ác độc đội lốt anh hùng (hổ) Hổ hàm loát (liệt) tu / hộ khẩu loát tu : 虎頷編須 / 虎口捋須 - vuốt râu hùm (ý nói làm việc nguy hiểm - để ý có nhiều câu nói cùng một ý này) Hổ đầu xà vĩ : 虎頭蛇尾 - đầu hổ đuôi rắn (ý nói ban đầu thì tốt (mạnh) nhưng kết thúc thì dở (yếu) - cũng như: Đầu voi đít chuột Hổ nhập phàn long : 虎入樊籠 - hổ trong chuồng (lồng), không còn đất dụng võ Hộ khẩu đoạt thực : 虎口奪食 - lấy miếng ăn từ miệng cọp (ý nói làm việc nguy hiểm) Hộ khẩu mịch thực : 虎口覓食 - tìm thức ăn từ miệng hùm Hộ khẩu dư sanh : 虎口餘生 - thoát chết trong đường tơ kẽ tóc Hộ huyệt lang oa / hổ quật lang oa : 虎穴狼窩 / 虎窟狼窩 - vào chỗ nguy hiểm (vào sào huyệt của hổ và lang sói) Hổ nhập dương quần : 虎入羊群 - hổ (dữ) trong đám dê (hiền lành) Hổ huyệt long đàm : 虎穴龍潭 vào chỗ nguy hiểm (sào huyệt của hổ và chỗ ở - đầm sâu - của rồng) Hổ khiếu long ngâm : 虎嘯龍吟 - hổ gào (gầm) và rồng hét Hổ cứ long bàn : 虎躆龍盤 - nơi (chỗ) ở quan trọng (chiến lược) Hổ phấn long tương : 虎奮龍驤 - hình dạng hùng dũng Như hổ thiêm dực : 如虎添翼 - thêm cánh cho hổ Kỵ hổ nan hạ / thế thành kỵ hổ 騎虎難下 / 勢成騎虎 - tình trạng leo lưng cọp (ý nói nguy hiểm) Hổ bối (bội) hùng yêu : 虎背雄腰 - dáng người lực lưỡng (khoẻ mạnh như dũng sĩ) Vân (sanh / sinh) tòng (tùng) long, phong (sanh) tòng hổ : 雲生從龍 風生從虎 - mây theo rồng, gió theo hổ - các cơ hội cho người anh hùng làm nên sự nghiệp1) Nam thực như hổ, nữ thực như miêu : 男食如女食如貓 - tư tưởng phong kiến cho rằng con trai phải ăn ngấu nghiến so với con gái phải ăn cho thong thả (nhỏ nhẹ) ! Hoạ hổ bất thành phản loại cẩu : 畫虎不成 反類狗 - vẽ hổ không giống mà lại giống con chó, ý nói phải tự lượng sức mình (không quá khả năng dễ đi đến thất bại) Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt (tri nhân tri diện bất tri tâm) : 畫虎畫皮 難畫骨 (知人知面 不知心) - cũng như: Chiếc áo không làm nên thầy tu (ý nói không nên chỉ chú ý đến bề ngoài) …v.v… Và các cách nói1, 2 như hổ bộ 虎步 (bước đi oai hùng như cọp), hổ cứ 虎躆 (cọp ngồi, địa thế hiểm yếu), hổ huyệt 虎穴 (nơi cọp ở), hổ môn (cửa ra vào dinh tướng), hổ đầu (đầu hổ, tướng mạo oai dũng), hổ cốt 虎骨 (xương hổ, cao hổ cốt là một loại thuốc Bắc), hổ bôn 虎賁 (đám quân sĩ mạnh, dũng sĩ), tướng sĩ dũng mãnh còn gọi là hổ tướng, hổ sĩ, phòng giam tử tội là hổ lao 虎牢, công cụ dùng để hành hình tử tội là hổ đầu lao 虎頭牢, hổ bảng 虎榜 (bảng ghi tên người đậu tiến sĩ), hổ phù 虎符 (phù hiệu hành quân có hình con hổ cắt ra làm hai, một nửa vua giữ, một nửa giao cho tướng chỉ huy)…v.v.. Một số câu nói khác1 là mắt trừng như hổ 眜瞪如虎, luỡng hổ tương đấu 兩虎相鬥, nóí hổ biến sắc (tâm lý con người khi nói đến chuyện nguy hiểm là mặt biến sắc), làm ma giúp hổ (đồng loã làm việc xấu xa), bảo hổ cho da, trông mèo vẽ hổ, vẽ hổ giống chó, nhổ răng cọp, nghé con mới sinh không sợ cọp, mông hổ không sờ được, lên núi bắt hổ dễ - mở miệng xin người khó, hổ kéo xe - ai dám đuổi, hổ cũng có lúc ngủ gật, hổ gầy nhưng gan hùm …v.v… 1.2 Hổ trong ngôn ngữ Việt Nam Có nhiều thành ngữ, tục ngữ … còn truyền tụng trong dân gian liên quan đến loài cọp. Sau đây là một số câu thường gặp như sau, để ý các liên hệ đến thành ngữ HV đã liệt kê ở trên rất rõ nét : Đuổi hùm ra cửa trước, rước sói cửa sau - cho kẻ ác khác vào sau khi đuổi kẻ ác trước! Thả hổ (cọp) về rừng - tạo cơ hội cho người ác tung hoành, hay để lại hậu hoạn (câu này cũng thông dụng trong văn hoá TH) Vào hang hổ - vào chỗ nguy hiểm Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn - câu 2516 trong truyện Kiều, rất phổ thông nói lên tâm lý con người: dù tài giỏi hay khoẻ mạnh đến đâu nhưng khi thất thế thì cũng như những người bình thường khác. Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này - câu 2016. Truyện Kiều dùng chữ hùm 6 lần, không thấy dùng các chữ hổ, cọp, kễnh, khái… Vuốt râu hùm - xỉa răng cọp : làm các việc nguy hiểm Rừng già lắm voi, rừng còi lắm hổ - kinh nghiệm của thợ săn Hùm chết để da, người chết để tiếng - nói lên ích lợi của loài hổ và con người ngay cả sau khi chết Hổ đội lốt thầy tu - kẻ giả đạo đức Chưa qua truông đã trật lọ cho khái - chưa qua khỏi núi mà đã tỏ vẻ khinh thường cọp (ý nói việc chưa hoàn thành mà đã lên mặt kiêu cãng2) - khái là con cọp Chớ thấy hùm ngủ vuốt râu, đến khi hùm dậy đầu lâu chẳng còn (VN Tự Điển, 1954)3 Và ... Cáo đội lốt cọp; Cọp tha ma bắt; Ky cóp cho cọp nó ăn3 Râu hùm hàm én; Chúa sơn lâm (chỉ con cọp), sơn tinh, sơn quân; Hổ lang (cọp và sói, các loại người ác độc); Thế cỡi hổ (cũng như ngồi lưng cọp): thế phải liều (nguy hiểm), không làm cũng chết Hùm mất hươu hơn mèo mất thịt - cũng giống như câu: Trèo cao té đau Hùm tinh đỏ mỏ - chỉ loài độc ác như loài hổ dữ Hổ lui lang tới : hết nạn này đến nạn kia … Mèo tha miếng thịt xôn xao, kễnh tha con lợn thì nào thấy chi - Hay Dạy con con chẳng nghe lời, con theo ông kễnh đi đời nhà con ... (kễnh là con cọp) Tranh ngũ hổ - Thường thấy trên bàn thờ2: hổ vàng ngồi giữa, hai bên là hổ trắng, đỏ, xanh, đen - đây là kết quả của niềm tin dân gian chứ thiên nhiên không có như vậy! Bạch hổ (hổ trắng) - là loài hổ rất hiếm, còn gọi là Mohan hay tên đặt cho con cọp (đực) nuôi lông trắng ở Rewa (Ấn Độ). Tuy loài cọp trắng rất ít thấy, các truyền thuyết ở Á Châu có lúc đề cập đến loài hổ trắng như là tôtem (được thờ như thánh thần) cho bộ lạc Ba (bā BK) ở Trung Hoa, thần đạo Ấn đầu thai, hoàng tộc đảo Java và Sumatra tin vào tổ tiên là loài cọp trắng … Bạch Hổ là một trong bốn chòm sao trong thiên văn cổ TH, liên hệ mật thiết tới bộ lạc Ba. Bộ lạc Ba thật ra gồm nhiều tộc từng sinh sống bằng nghề đánh cá và săn bắn ở khu vực Tứ Xuyên, bị Tần thôn tính vào năm 316 TCN. Các di vật của bộ lạc này thường có hình con cọp, cũng như hòm hình thuyền, trống đồng đặc biệt (gọi là chúnyú, thuần vu) dùng để liên lạc khi đánh trận …v.v… Để ý nhà thơ Khuất Nguyên có tổ tiên thuộc bộ lạc Ba và những bài thơ có thể liên hệ đến khu vực sinh sống của dân Ba ngày xưa - xem thêm bài tóm tắt về văn hoá dân tộc Ba ở địa chỉ trên mạng [www.china.org.cn]. Dân tộc Di (yí BK, hay LôLô, Ngolok) cũng tự cho mình là con cháu loài hổ1, lấy hổ đặt tên đất, tên người. Họ cho trẻ con đeo thú bộng hổ, đội mũ đầu hổ, mang giày đầu hổ... Dân tộc Di cũng dùng 12 con giáp để chỉ thời gian - xem thêm nhiều chi tiết trên mạng [www.china.org.cn] Các thành ngữ, tục ngữ trên cho thấy hình bóng loài hổ đã thấm sâu vào vãn hoá dân gian ở TH cũng như VN từ thời xa xưa. Thành ra, ta phải đi sâu hơn vào cấu trúc âm thanh và chữ viết (Hán) của Dần, Hổ … để có thể tìm ra nguồn gốc tên gọi 12 con giáp chính xác hơn. 1.3 Các liên hệ mở rộng về âm và nghĩa của Dần Dần 寅 HV viết bằng bộ miên 宀, giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là yín, yí (mất phụ âm cuối -n) so với giọng Quảng Đông (QĐ) jan4, giọng Hẹ jin2, ji2, rin2, ri2 jen5 … có các nghĩa theo tự điển Từ Nguyên (Bắc Kinh, 2004) là (1) chỉ thời gian trong ngày, tháng, năm (2) cung kính (3) tiền tiến - và không bao giờ có nghĩa là con cọp trong tiếng Hán! Chính vì vậy mà tiếng TH thường dùng các từ kép như Dần Hổ 寅虎, Tý Thử 子鼠 … để cho biết nghĩa cổ của các từ này. Câu nói thường gặp trong văn hoá TH là 'Dần ngật Mão lương' 寅吃卯糧 - nghĩa là năm Dần ăn lương năm Mão (năm Mão sau năm Dần) - hay là ăn hết đồ dự trù (cho năm sau), thu không đủ chi … Nghĩa cung kính4 恭敬 của Dần còn thấy trong các cách dùng như dần lượng 寅亮 (kính tưởng), dần nghị 寅誼 (tình bạn đồng liêu, như thành ngữ dần nghị thâm hậu - tình bạn đồng liêu nồng nàn), dần tiễn 寅餞 (tiễn biệt một cách cung kính), dần uý 寅畏 (kính sợ) …v.v… Tuy nhiên, cũng có những chữ khác rất gần âm Dần như: - 夤 yín, yí, yā BK (di, dần HV, bộ tịch hợp với chữ dần bên dưới, nghĩa là sâu xa, kính trọng…), - 諲 yīn, zhēn BK (nhân HV - bộ ngôn hợp với chữ nhân - là kính trọng6), - 闉 yín BK (ngân/ngôn - bộ môn hợp với chữ ngôn - nghĩa là kính trọng (chữ hiếm6) - 景 jĭng (cảnh HV ... cũng có nghĩa là cung kính) và đương nhiên có chữ - 敬 jìng BK (kính HV, viết bằng bộ phộc) … Tất cả các dữ kiện trên cho thấy âm jing (đọc như ching/trinh giọng Bắc) và yin (đọc như dinh giọng Nam, phụ âm đầu ngạc hoá) đều có thể chỉ âm kính cổ hơn. (Để ý thêm cách đọc tương đương của kinh, tức là 涇 kênh).
Các chữ Hán 猄, 犭更, 犭庚 (âm kinh, canh, BK jing, geng...) đều chỉ con CHÓ, không phải con cọp (như 獍 jing4, kễnh), cho thấy: Dần (hay *kính cổ hơn) chỉ (có thể) là cách ghi ÂM tiếng nước ngoài (Việt cổ) chứ không phải là tiếng Hán! Chữ kính 獍 HV, viết bằng bộ khuyển hợp với chữ cánh nghĩa là loài cọp beo rất ác độc (ăn thịt người, ăn thịt mẹ nó khi mới sinh ra - theo Khang Hi) mà tiếng Việt cổ còn duy trì dạng kễnh. Kễnh viết bằng chữ 獍 kính trên, theo cuốn 'Lý hạng ca dao'5 (里巷歌謡 bảng chép tay thuộc kho sách Viện Hán Nôm). Chữ Kính HV rất ít thấy dùng trong tiếng TH hiện nay - tần số dùng6 là 443 trên 430747376, có thể phản ánh khuynh hướng xa dần (đào thải) các từ có nguồn gốc phương Nam; cũng như tên 12 con giáp chẳng hạn, càng ngày càng xa dần nghĩa nguyên thuỷ (ngoại quốc) của chúng là tên loài vật. Không những Dần có thể là *kính-kễnh (con cọp, nguồn gốc phương Nam), nhưng hổ 虎 HV cũng có thể đã từng có gốc phương Nam qua tương quan k-h (hổ - cọp, khai): - hạp / hợp 合 cáp (một đơn vị đo lường), hồ cầm 胡 cò (đàn-), hộ 户 cửa, hồ 狐 cáo, 谷 hộc - cốc, 糊 hồ - 膠 keo, ... Trường hợp cậy kể cũng lý thú: tại vì nó cùng họ với chữ Ỷ 倚 (yi3 BK) - âm phù của nó đẻ ra các dạng khác là: ky, kỳ, kỷ, ký, kỵ = cậy!? Còn chữ 似 tựa (âm dĩ) còn có âm khác là: tì, dựa, ... chắc cũng thuộc nhóm này. Cuối cùng ta có cả một loạt chữ là: cậy (gậy) - kề - tì - tựa - dựa - nhờ - ỷ. So với tiếng Katu (kooq là cọp), tiếng Bahna (cop cop là con cọp). Thật ra thì phụ âm gốc luỡi k, kh vẫn còn duy trì trong cách gọi chi thứ 3 của tiếng Khme (khal), Thái / Xiêm ขาล (khán) … cho ta thấy tương quan d-k/kh để truy nguyên.
Xem thêm tương quan k-h trong bài "Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Hợi-gỏi-cúi (phần 5)" và địa bàn sinh sống của loài cọp, cũng như các liên hệ phương Nam của chữ hổ7 - mà ít ai biết đến!
Trong vốn từ TH lại còn một chữ 虔 đọc là qián BK, kin4 (Quảng Đông), kien2 (Hẹ) viết bằng bộ hổ 虎 hợp với chữ văn 文 (4 nét) - nghĩa là dáng cọp đi, kính trọng … mà tiếng HV là kiền8. Đây là một gạch nối cho thấy liên hệ rất xa xưa của kính-kiên và loài kễnh, mối dây liên hệ này càng ngày càng mờ dần như dân số của loài cọp trên thế giới. Loài cọp9 đang bị hiểm hoạ diệt vong như địa bàn sinh sống càng ngày càng thu hẹp lại - hãy xem bảng thống kê sau đây: Số cọp (trong rừng) Dân số thế giới Năm 1920 khoảng 100 000 con khoảng 1.9 tỷ Năm 1993 khoảng 4730 đến 6700 con khoảng 5.5 tỷ người Có người tiên đoán rằng đến năm 2010 thì sẽ không còn loài cọp trong rừng hay đồng hoang nữa! May thay, với truyền thống Á Đông của 12 con giáp, hình ảnh và truyền thuyết về loài cọp vẫn nằm trong tâm tý và vãn hoá các dân tộc Á Đông - dù rằng loài cọp chắc sẽ trở thành những con vật 'ngoan ngoãn' được nuôi trong chuồng, gánh 'xiếc' hay sở thú, rất khác biệt với môi trường sống nguyên thuỷ của loài thú này!
Loài cọp đã gắn bó với truyền thống văn hoá rất lâu đời của Á Đông, nên cũng có lúc 'tham gia' vào chính trị! 'Con cọp giấy' là cụm từ với nguồn gốc Hán là 'chỉ lão hổ' 紙老虎 (zhĭlăohŭ), từng được chủ tịch Mao Trạch Đông dùng để chỉ nước Mỹ (Hoa Kỳ) vào nãm 1956 - sau đó Thủ Tướng Nga Nikita Khrushchev cũng có phê bình thêm là '… nước Mỹ là cọp giấy, nhưng có rãng (vũ khí) nguyên tử...' - trích từ trên mạng Wikipedia, chủ đề 'Paper tiger' (cọp giấy, trang mạng này được cập nhật ngày 19/10/2007). 2. Phụ âm đầu d- của Dần Phụ âm đầu của Dần là d- (tức âm [z] / [j] theo tiếng Việt hiện đại), tương ứng với y- giọng Bắc Kinh (theo cách phiên âm pinyin thông dụng bây giờ). Mức độ ngạc hoá (palatalisation) có thể biến đổi như d-nh: dòm-nhòm, dịp-nhịp, dúm-nhúm ... ở đầu lưỡi hay ngược lại, các phụ âm cuối luỡi (ng-, velarisation) cũng có thể hình thành, như: - yàn 岸 ngạn, yè 業 nghiệp, yí 宜 nghi, yín 吟 ngâm, yú 愚 ngu, yù 玉 ngọc, ... và có khi mất hẳn phụ âm đầu10 đi như: - yīn 陰音 âm, yìng 應 ứng, yōu 優 ưu, yuān 冤怨 oan/oán, yuē 約 ước … Các ngôn ngữ Nhật, Đại Hàn, giọng Thượng Hải (Ngô), Đài Loan (Minnan) đều cho thấy phụ âm đầu d- mất đi cho ra dạng in hay ing thay vì yín (Dần) - so với khuynh hướng ngạc hoá của giọng Bắc Kinh, Hẹ, Quảng Đông, Hán Việt.
Phụ âm đầu d- của Dần 寅 còn được tự điển Khang Hi ghi nhận là 'dặc (yì BK) chân-/ di chân thiết' cho thấy âm đầu d- (giọng Nam Bộ bây giờ) đã từng hiện diện khi chữ Dần nhập ngược vào tiếng Việt, cũng như tên 11 con giáp khác. Tương đồng giữa các âm thanh tiếng Hán đời Đường và tên 12 con giáp (Hán Việt) cho thấy là tiếng HV nhập vào khoảng đời Đường Tống trở lại, và có hệ thống rõ ràng hơn. Tuy nhiên, nếu đi ngược dòng thời gian về thời tiên Tần và trước đó nữa, phụ âm đầu d- có thể đã từng đọc như các âm cuối luỡi k/g- hay ng-, kh- … như đã viết trong phần 1.3: Ẩn 隱 HV (yĭn, yìn BK yan2 QĐ) có nghĩa là giấu mà các dạng khác hơn có thể là cẩn (với phụ âm k- đầu là một tiền tố/prefix), mà tiếng Việt vẫn còn dạng kín. (Cũng có thể "kín" (-mít) là do chữ 謹 cẩn (-mật) mà ra.11) Các phụ âm cuối lưỡi khác như ng- cũng có thể hiện diện để cho ra dạng ngầm. Chữ ẩn viết bằng bộ nạch (tật/bệnh) với chữ ẩn HT có nghĩa là nghiện/ghiền. Giả thuyết về tiền tố k- trong tiếng Hán Thượng Cổ (có thể là ảnh hưởng của họ ngôn ngữ Nam Á) đã được các tác giả William Baxter và Laurent Sagart đưa ra trong bài viết `Word formation in Old Chinese` (Packard, 1998). Các tác giả trên ghi nhận cách đọc chữ quân (yún BK, viết bằng bộ bao - nghĩa là đều - thường gặp với bộ thổ hơn) và chữ quân (jūn BK, viết bằng bộ kim với chữ quân HT - nghĩa là ba mươi cân ...): âm cổ *kwin (jūn BK) là do tiến tố k- thêm vào âm *win (yún BK). Điều này không thấy rõ trong tiếng HV vì cả hai chữ này đều đọc là quân. Các thí dụ khác là quỷ (từ uy mà ra), quốc (từ vực mà ra) ... Các dữ kiện trên đều cho thấy khả năng yín (Dần) có dạng kính/kễnh mà tiếng Việt vẫn còn duy trì. Một dữ kiện đáng được ghi nhận ở đây là tương quan giữa chữ duẫn (doãn, yǐn BK nghĩa là cai trị, quản lý) và chữ quân (jūn BK, viết bằng bộ khẩu hợp với chữ duẫn) : có thể liên hệ đến khun/kun (tiếng Mường) là lãnh tụ không? Các tương quan thú vị này cần phải được tra cứu thêm để thêm phần chính xác. Xem thêm cuốn `ABC Etymological Dictionary of Old Chinese' của tác giả Axel Schuessler về các âm phục hồi của tiếng Hán Cổ (NXB University of Hawaii Press, 2007). Dẫn 引 HV (yĭn BK) nghĩa là giương ra, kéo ra, dẫn (dụ) mà tiếng Việt còn duy trì một dạng cổ hơn là khiến (tức là khiển 遣 HV). Sau đây là một số thí dụ khác cho thấy tương quan d - k/g - ng khi so sánh giọng đọc BK bây giờ (như yín) với các giọng đọc địa phương: 2.1 yín BK 吟 ngâm HV (như ngâm thơ), các phương ngữ TH phía Nam có khuynh hướng duy trì âm cổ k/g/ng- như ngam4 (QĐ), ngim2 (Hẹ), gim5 (Đài Loan) … Chữ ngâm có thể viết bằng bộ khẩu hợp với chữ kim 唫 (kim loại) hay kim 吟 (nay) 2.2 yín BK 狠 ngoan HV (cũng có các cách đọc BK khác như hén, yán) so với hen2, ken2 (Hẹ) viết bằng bộ khuyển 犬(犭) hợp với chữ cấn 艮 hài thanh, nghĩa là ác độc … Chữ cấn (thứ bảy trong bát quái) thường được dùng làm thành phần HT để tạo ra các chữ Hán khác như yín BK 銀 ngân HV (bạc, tiền) viết bằng bộ kim hợp với chữ cấn đọc là ngan2, ngan4 (QĐ), ngiun2 , niun2 (Hẹ); yín, hén BK 垠 ngân HV (bờ cõi) viết bằng bộ thổ hợp với chữ cấn đọc là ngiun2 (Hẹ); yín BK 齦 ngân HV (lợi, nướu răng) viết bằng bộ xỉ (răng) hợp với chữ cấn HT đọc là ngan4, han2, an4 (QĐ), ken3, ngiun2 (Hẹ) - chữ này cũng như 齗 ngân HV viết bằng bộ xỉ hợp với chữ cân/cấn (cái rìu, búa) có nghĩa là cắn, so với yín, kĕn BK ngan4 QĐ … Ngay cả chữ 艮 cấn (bộ thủ thứ 138) cũng có thể đọc là yín, gèn, gĕn BK gien5, gen5 (Hẹ) gen3 (QĐ) … 2.3 yín, qīn, qìn BK 欽 khâm HV (khâm phục) viết bằng bộ khiếm hợp với chữ kim (kim loại) có các cách đọc yam1 (QĐ), kim1 (hẹ) 2.4 yín, qín BK 芩 cầm HV (một loại cỏ dùng làm thuốc) - viết bằng bộ thảo hợp với chữ kim (nay) có các cách đọc kim2 (hẹ), kam4 (QĐ) 2.5 kăn, xián BK 臽 hãm, khảm HV (cái hố, hầm) - kháp (ngắt) - 焰 diệm / 閻 diêm:
…v.v… Thành ra ta có cơ sở để đưa ra một dạng âm cổ của yín (Dần) là *kan/*kian hay kễnh, với phụ âm đầu là k- mà tiếng Việt còn vết tích qua dạng kễnh.
2.6 Ngoài ra còn có khả năng chữ Dần 寅 vốn là chữ 更 (cánh) viết lộn (hãy so sánh chữ miễn (mãn-mèo) 免 viết lộn thành 兔 thỏ). Xem cách viết/khắc cổ trên giáp cốt văn/kim văn ta thấy cả hai chữ này có hình bàn tay dân lên (cung kính) dưới một mái nhà - thêm vào đó là nghĩa của canh là một phần năm giờ ban đêm (đêm năm canh ngày sáu khắc) cũng như cách dùng để chỉ thời gian của Dần. Đây là một đề tài cần được tra cứu chi tiết thêm để làm sáng tỏ mối dây liên hệ giữa Dần-kính-cánh/canh nếu có thì đã từng xẩy ra từ thời Thượng Cổ. Vấn đề là tìm ra các di chỉ, tài liệu chính xác cho thấy cách dùng lẫn lộn của các chữ cánh-kính-Dần; Thí dụ như trường hợp của các chữ miễn-thố : văn tự cổ thời Xuân Thu không có khác biệt. Chữ thố trên bia khắc thời Hán và chữ miễn (mãn) trong đề từ khắc hoạ ở nhà thờ Vũ Lương thời Đông Hán đều nói 'Thần phục kiếm tử, dĩ thố kỳ tử' (dĩ miễn kỳ tử hay dĩ thố kỳ tử đều có nghĩa là khích lệ con cái) theo cuốn Ngữ Lâm Thú Thoại (Triệu Bá Bình, Thời Học Tường chủ biên - bản tiếng Việt NXB Văn Hoá Thông Tin - Hà Nội 2005). 3. Nguyên âm â của Dần Nguyên âm i của giọng BK bây giờ tương ứng với nguyên âm â của tiếng HV
Cũng như một số nguyên âm i của giọng BK tương ứng với i Hán Việt và a HV như xìng BK là 姓性 tính/tánh (thành phần HT là sinh/sanh), xīn 心 BK (tim/tâm), qián BK 乾 (kiền/càn), xín (xún) BK 尋 (tìm/tầm) …. Cho thấy khuynh hướng của nguyên âm đầu (độ mở nhỏ) trở thành nguyên âm sau với độ mở lớn hơn: thành ra kính (jìng BK, con cọp dữ ăn thịt người) liên hệ đến cánh (thành phần HT) và kễnh có cơ sở giải thích. 4. Phụ âm cuối -n của Dần Đa số các ngôn ngữ chung quanh khi mượn tên 12 con giáp từ tiếng TH đều duy trí âm cuối -n. Tiếng Khme có dạng khal với âm cuối -l, một biến âm thường gặp của âm đầu luỡi tắc -n. 5. Thanh điệu (huyền) của Dần Các âm BK với thanh thứ nhì (second tone, thanh dương bình) liên hệ đến thanh huyền hay thanh ngang (thanh trầm/trọc) tiếng Việt nếu không có các phụ âm tắc cuối (-c/p/t); Các phụ âm cuối tắc giới hạn thanh điệu để cho thanh sắc hay nặng như jí 集 (tập, tụ tập), jí 吉 (cát, tốt), shí 實 (thật, thực), shí 十 (thập) …
Với phụ âm đầu d- , thanh điệu11 thường là trầm (hay trọc) - nên 'dặc chân thiết' (theo Khang Hi) đọc là Dân hay Dần HV. So sánh với: - 兔 tú BK (thố) - thỏ (dấu hỏi với phụ âm đầu th-) nhưng - 圖 tú BK là đồ (bản vẽ, mang dấu huyền với phụ âm đầu đ-), - 疑 yí BK - nghi, ngờ … Liên hệ kính-kễnh (không có âm "kểnh") qua thanh điệu còn thấy trong các cặp từ: - vú-nhũ 乳, sóng-lãng 浪, phá-bể-vỡ 破, múa-vũ 舞, phế-phổi 肺, cuốn-quyển 卷, cảnh-kiểng 景, khá-khả 可, khó-khổ 苦, chúa-chủ 主, ký-gởi 寄, chủng-giống-trồng 種, phóng - phỏng 倣 (bắt chước) … 6. Tóm tắt các dữ kiện chính và kết luận cho phần 9 6.1 Khi xem cách viết / khắc cổ của chữ Dần 寅, ta thấy hình người ở dưới mái nhà (bộ miên), đưa (dâng) hai tay lên một cách cung kính. Đây chính là nghĩa nguyên thuỷ của Dần trong vãn hoá và ngôn ngữ 'chính thống Trung Hoa', không có dính líu gì đến loài cọp. (Xin hãy xem hình ở đầu bài.) Tình hình hoàn toàn khác hẳn khi ta xem cách viết / khắc cổ của chữ hổ:
các nét khắc trên giáp cốt văn, kim văn cho thấy hình của loài thú có hai hàm lớn (dùng để cạp mồi) và cái đuôi dài đặc biệt của loài cọp: điều này cho thấy chữ Dần có thể đã được dùng để ký âm, một âm thanh ngoại quốc (nguồn gốc phi-Trung Hoa) chỉ con hổ. Điều này cũng là một căn bản của lý luận cho rằng tên 12 con giáp không phải là tiếng Hán (cổ), mà là từ tiếng Việt cổ qua liên hệ Dần -*kính/kánh - kễnh. Khi xem các cách viết / khắc cổ của các chữ Tý, Sửu … Hợi, ta cũng thấy không có dính dáng gì đến các con giáp12, nhưng lại có nhiều tương quan đến các tên gọi loài thú liên hệ trong tiếng Việt. 6.2 Theo 'Tả Truyện - Tương Công Thập Tứ Niên' chép việc nước Tần sai người sai người đi thanh toán quý tộc Khánh Hổ và Khánh Dần (đây là tập quán cổ, cha con và anh em có tên khác nhau ý nghĩa giống nhau) - do đó ta có thể suy luận rằng hai chữ Dần và Hổ thời Tần tương ứng với nhau. Vấn đề là hổ được dùng để chỉ con cọp thời đó13 rồi, còn dùng chữ Dần làm chi? Điều này cho thấy quá trình ký âm đã cho ra chữ Dần. Nhìn rộng ra thì ta sẽ thấy các chữ (Hán) Tý, Sửu, Dần … Hợi đều từng là những thành phần hài thanh rất tích cực trong quá trình cấu tạo chữ Hán. 6.3 Tiếng TH phải dùng từ ghép Dần-Hổ để cho thấy con cọp gắn liền với Dần, điều này tiếng Việt không cần, vì ta đã có tương quan d-k hay Dần -*kánh - kễnh. Giống như các tương quan khác như: Tý=chuột, Mão=mèo, Ngọ=ngựa, Sửu=trâu … (TH dùng từ ghép Tý-Thử, ...) Tên 12 con giáp rất gần với tên gọi 12 con thú mà chúng tượng trưng dựa trên cơ sở ngữ âm vững chắc: chữ Hán (cổ) đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình giải mã nguồn gốc tên 12 con giáp, cũng như hoàn thành chức năng ký âm của một hệ thống chữ viết. 6.4 Một số từ lắp láy như cập kễnh, khập khễnh ... hàm ý không hạp, không ăn khớp trong tiếng nói hàng ngày cho thấy mối liên hệ gắn bó giữa cập (cạp) và kễnh : cách dùng chung này không phải là ngẫu nhiên vì cả hai chữ đều có thể từng chỉ loài cọp14. Tóm lại, các dữ kiện ngữ âm cho thấy Dần đã từng có âm *kian (hay kễnh), vì nhập ngược vào tiếng Việt từ tiếng Hán khoảng thời Đường Tống nên theo hệ thống âm thanh Trung Hoa thời Trung Cổ. Các thay đổi tự nhiên của ngôn ngữ (của Hán và Việt) làm cho ta khó nhận ra tương quan của Dần-kễnh, tuy nhiên qua các dữ kiện ngôn ngữ bên trên ta thấy liên hệ Dần-*kính-kễnh có cơ sở giải thích vững chắc hơn. 7. Phụ chú và phê bình thêm Hùm hay hồm (theo tự điển Việt-Bồ-La, 1651), chữ Nôm viết bằng bộ khuyển hợp với chữ hàm (ngậm): 犭+含 cho thấy hình ảnh con cọp đang giữ (cạp) mồi: những dữ kiện dùng âm tượng hình của tiếng Việt cần được khảo sát sâu xa hơn trong các ngôn ngữ Nam Á. Hùm chỉ con cọp có thể là hờm trong cách nói hờm tướng (tướng dữ như cọp). Một số tác giả như William G. Boltz lại đề nghị dạng âm cổ phục nguyên của Dần rất khác với *kính-kễnh - xem thêm bài viết "The Old Chinese Terrestrial Rames in Saek" trong cuốn "Studies in the Historical Phonology of Asian Languages", Current issues in Linguistic Theory 77, NXB John Benjamins (1991). Bernhard Karlgren đề nghị dạng *diơn so với dạng *rin của Li Fang-kuei dựa trên các phương ngữ Thái Lan …v.v… Những đề tài khác cần được nghiên cứu thêm là nguồn gốc của loài hổ ở khu vực Đông Nam Á, cũng như các vùng hoạt động và quá trình di cư để cho có môi trường sinh thái hiện nay… Thí dụ như loài hổ Nam TH (South China tiger, Hoa Nam Hổ) đã tuyệt chủng và được xem như là loài hổ gần với gốc nhất (gọi là stem tiger) - xem thêm các tài liệu trên mạng Internet như TigerHeaven@groups.msn.com hay tìm qua chủ đề 'tiger evolution' (quá trình tiến hoá của loài cọp). (1) trích từ cuốn "Văn hoá về 12 con giáp" tác giả Thường Tuấn 常峻 (Đại Học Thượng Hải) - bản dịch tiếng Việt - NXB Tổng Hợp TP HCM (2005) (2) theo cuốn "12 con giáp" chủ biên Vũ Ngọc Khánh, Trần Mạnh Thường - NXB Hội Nhà Vãn - Hà Nội (1998). Ngũ hổ kinh tế (economic Tigers) thường chỉ các nước Nhật Bản, Đài Loan, Tân Gia Ba, Đại Hàn và Hồng Kông. Ngũ hổ Tướng chỉ năm vị tướng tài thời Tam Quốc - được Lưu Bị 劉備 ban cho vì công trạng hiển hách (3) "Việt Nam Tự Điển" - Việt Nam Văn Hoá Hiệp Hội (thừa kế Hội Khai Trí Tiến Đức) - in năm 1954 (4) xã hội phong kiến TH đề cao nguyên tắc 'trọng nghĩa khinh tài', tư tưởng Khổng Mạnh như 'tiên học lễ hậu học văn' phát triển mạnh, thành ra có nhiều từ chỉ sự kính trọng trong vốn từ HV như tôn, khâm, sùng, trọng, cẩn, kính, nguỡng …v.v… (5) theo "Tự Điển chữ Nôm" - chủ biên Nguyễn Quang Hồng - Viện Nghiên Cứu Hán Nôm - NXB Giáo Dục (Hà Nội, 2006). (6) theo tự điển tiếng TH và tiếng Anh trên mạng: www.chinalanguage.com ghi nhận tần số dùng, các giọng địa phương so với giọng BK, các dị dạng. (7) trong tự điển từ nguyên Hán-Tạng trên mạng (the Tower of Babel), tác giả Sergei Starostin (cố giáo sư Ngôn ngữ học Nga Sô) cũng ghi nhận rằng 'có thể chữ hổ trong tiếng Hán có nguồn gốc Nam Á'. Ông cũng trích dẫn công trình của một học giả Nga khác là Ilia Peiros, tác giả cuốn 'Comparative Linguistics in Southeast Asia' - Pacific Linguistics Series C-132, Canberra (Úc) - NXB Australian National University (Đại Học Quốc Gia Úc) in nãm 1998, cũng đưa ra kết luận tương tự về âm hổ có nguồn gốc Nam Á. (8) theo tự điển Từ Nguyên (Bắc Kinh, 2004) thì nghĩa xưa nhất của kiên là 'uy mãnh kính' (cái uy của con kính / cọp dữ). Tác giả Huệ Thiên cũng bàn về cấu tạo của chữ hổ và các từ liên hệ như kiên (kiền), ngược, hý, thao… chương 'Con hổ - chữ & nghĩa trong tiếng Hán' trong cuốn 'Những tiếng trống qua cửa nhà sấm'. Một điều đáng chú ý trong bài viết này là loài cọp đã mang 'tính chất chính trị' từ thời Khổng Tử qua câu nói 'Hà chính mãnh ý hổ dã' (các trò khá nhớ lấy, chính trị hà khắc còn ghê gớm hơn hổ) trang 285 (sđd). (9) các dữ kiện về loài cọp được trích từ Wikipedia (chủ đề tiger/cọp) trên mạng được cập nhật vào ngày 23 tháng 10 nãm 2007. Cách phân loại loài cọp: Kingdom (Animalia, giới : động vật), Phylum (ngành: Chordata), Class (Mammalia, lớp: động vật có vú), Order (Carnivora, bộ: động vật ăn thịt), Family (Felidae, họ: mèo), Genus (Panthera, chi: cọp beo), Species (Panthera Tigris, lọại: cọp). Để ý sư tử thuộc cùng chi (Genus Panthera) nhưng khác loại (Species Panthera Leo) - và là 1 trong bốn loại mèo lớn (big cats): cọp (tiger), sư tử (lion), báo (beo, leopard) và beo đốm Mỹ (jaguar). Địa bàn sinh sống của sý tử là đồng cỏ với cây cối thưa (savana) - khác với loài cọp thường thấy ở rừng rậm trên núi … Vấn đề phân loại (thú vật) một cách khoa học rất quan trọng để tránh ngộ nhận về sau, cũng như tạo ra nhiều huyền thoại phức tạp và khó tìm ra nguồn gốc chính xác. Thí dụ như loài rồng chẳng hạn: chưa ai thấy và diễn tả chính xác hình dáng của chúng (lúc ba móng, bốn móng…). Singapore (Tân Gia Ba) là địa danh khi hoàng tử Malay Ammals tưởng lầm là mình đã thấy sư tử trên đảo - nên đặt tên đảo là Singa Pura vào thế kỷ 13 (tiếng Phạn: Singha = sư tử, Pura = phố xá) - và từ đó Singa Pura trở thành Singapore hiện tại. Hình dạng giống nhau của thỏ và mèo cũng có thể là một nguyên nhân đưa đến cách dùng khác nhau giữa TH và VN - xem thêm bài viết 'Mão-Mẹo-mèo' (phần 4). Người đọc có thể tìm trên mạng Internet nhiều tài liệu liên hệ đến loài cọp, như bản báo cáo về địa bàn hoạt động cùng dân số càng ngày càng giảm của loài cọp ở Trung Hoa: 'Taming the Tiger Trade' các tác giả là Kristin Nowell và Xu Ling 徐玲, NXB TRAFFIC East Asia (Hong Kong, 2007). Các kết quả phân tích hoá học và y học trong bản báo cáo trên cho thấy cao hổ cốt không có công dụng gì rõ ràng trừ yếu tố tâm lý. Vấn đề bắt cọp để lấy xương làm thuốc, da cọp để trang trí hay y phục làm cho dân số loài cọp càng ít thêm. (10) phụ âm đầu d- (j) còn có thể trở thành âm môi-răng v- khi đứng trước nguyên âm sau u (độ mở nhỏ) vì môi đã tròn sẵn, dễ trở nên v- như yuán-viên/vườn, yuè-việt/vượt, yún-vân (mây), yŭn-vẫn (chết), yuăn-viễn (xa), yŭ-vũ (mưa), yù-vu (khoai sọ) …v.v… (11) theo tác giả Lê Ngọc Trụ trong "Tầm Nguyên Tự Điển" - NXB Thành Phố HCM (1993) (12) trừ hình khắc của chữ Hợi trên giáp cốt văn: có vẻ hơi giống hình một con thú có chân và đuôi (chỉ có một hình là hơi giống trong các hình khắc - xem thêm bài viết số 5 về Hợi-gỏi-cúi). Ta có thể coi đây như là một sự trùng hợp ngẫu nhiên vì có rất nhiều nét khắc khác nhau (không đồng nhất) cho một chữ - điều quan trọng là không có một nét khắc/vẽ/viết trên giáp cốt văn, kim văn … cho thấy hình dạng của loài thú mà 12 con giáp biểu tượng! Kết quả này khá dễ hiểu khi so sánh với rất nhiều tương quan ngữ âm giữa tên gọi (âm thanh) của từng con vật liên hệ đến tiếng Việt Cổ, Hán Việt, Hán Cổ và ngay cả tiếng Việt bây giờ: các tên HV Tý, Sửu, Dần … Hợi chỉ là cách ghi lại âm các tên (thú) không có trong tiếng Hán! (13) phần này dựa vào cuốn 'Tìm hiểu ý nghĩa & lịch sử 12 con giáp' của Kỳ Anh - NXB Thanh Hoá (2006). Cũng theo tự điển Từ Nguyên (Bắc Kinh, 2004) - Thuyết Văn Giải Tự còn ghi rằng 'huấn vi ? - sơn thú chi quân' 山獸之君 (cho thấy ngay vào thời Hán thì cọp đã là vua của các loài thú trong rừng núi). Theo một số tài liệu (trên mạng) thì hổ là vua sơn lâm ở Á Đông mà thôi, còn sư tử mới là vua của muôn thú ở phương Tây - nhưng cũng có lúc chính heo rừng (lúc hăng máu) mới là đáng sợ nhất - xem thêm bài viết số 5 về Hợi-gỏi-cúi. (14) tác giả Lê Gia trong cuốn `Tiếng nói Nôm na' (NXB Văn Nghệ - Thành Phố HCM - 1999) cũng cho rằng cọp liên hệ đến cạp, hay cáp...`Loài vật thường há lớn miệng mà đớp ngưòi ta'. Cọp còn là một dạng của cạp (hé, gé BK - viết bằng bộ môn với chữ hạp HT), nghĩa là cửa nhỏ bên hông, cửa nách. Thành ra đi coi cọp là đi coi hát bằng cách vào cửa hông hay cửa sau ... không phải đi bằng cửa chính phải mua vé tốn tiền!
Mời các bác hãy góp ý kiến, phê bình... mtộ cách vô tư, oảiải mai nhé!? Xin hãy chú ý: các số phụ chú (superscripts) do tôi quên không thêm ngặc vuông [1] hoặc chuyển dạng1 ) nên chúng biến thành số thường!
(1) sang dạng html Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 25, 2007 08:53AM
ở đây tôi thấy sự phi lí và cưỡng ép ở đề tài chi Dần của bác Cung Thông và bác Thạch Sinh:
không thể nào lấy "nghĩa" của một chữ Hán rồi ghép lại thành âm chữ đó(cho là âm chữ đó). chẳng hạn như: 魚 HV Ngư: nghĩa cá, rồi lấy phụ âm [c] của cá gán cho ngư, đọc là cư rồi lại suy luận là cá==>>cư===>ngư, rồi cho rằng âm Hán [ngư] vốn là có câm [cư] bắt nguồn từ cá mà ra, nếu như vậy thì tất cả chữ âm Hán đều có thể ghép kiểu này thành gốc tiếng Việt được hết..!! 鳥 HV điểu:VN chim rồi ghép nghĩa âm của [chim] ===>> chiểu==>>điểu, rồi cho là chữ Hán vốn là [chiểu] gốc từ [chim] của VN mà ra. theo kiểu này thì tất cả chữ âm Hán đều có thể là gốc chữ Việt tuốt luốt hết..
luật biến âm của chữ Hán phải so sánh "âm với âm", không thể lấy "nghĩa với âm" được !. Hán Việt Dần: phụ âm đầu [d]chỉ có thể biến âm ra từ [r] hay [v] mà thôi, dần tức có thể biến âm từ rằn hay vằn (hoặc ngược lại) mà thôi. Dần: trong Quảng Vận một âm của âm đôi [dần di] tức là [rằn ri] đó., chỉ có vậy mà thôi(tôi nhấn mạnh ở đây tôi chỉ nói đến biến âm, còn nguồn gốc "âm" của [Dần] là của ai chỗ nào nào tôi không nói đến, và không quan tâm để tránh tình trạng ông Việt hồ đồ gán cho tôi nói rằn ri là gốc của [dần], mà cho tôi nói rằng âm này là gốc VN). Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 25, 2007 08:58AM
ở đây tôi thấy sự phi lí và cưỡng ép ở đề tài chi Dần của bác Cung Thông và bác Thạch Sinh:
không thể nào lấy "nghĩa" của một chữ Hán rồi ghép lại thành âm chữ đó(cho là âm chữ đó). chẳng hạn như: 魚 HV Ngư: nghĩa cá, rồi lấy phụ âm [c] của cá gán cho ngư, đọc là cư rồi lại suy luận là cá==>>cư===>ngư, rồi cho rằng âm Hán [ngư] vốn là có câm [cư] bắt nguồn từ cá mà ra, nếu như vậy thì tất cả chữ âm Hán đều có thể ghép kiểu này thành gốc tiếng Việt được hết..!! 鳥 HV điểu:VN chim rồi ghép nghĩa âm của [chim] ===>> chiểu==>>điểu, rồi cho là chữ Hán vốn là [chiểu] gốc từ [chim] của VN mà ra. theo kiểu này thì tất cả chữ âm Hán đều có thể là gốc chữ Việt tuốt luốt hết..smiling smiley luật biến âm của chữ Hán phải so sánh "âm với âm", không thể lấy "nghĩa với âm" được !. Hán Việt Dần: phụ âm đầu [d]chỉ có thể biến âm ra từ [r] hay [v] mà thôi, dần tức có thể biến âm từ rằn hay vằn (hoặc ngược lại) mà thôi. Dần: trong Quảng Vận một âm của âm đôi [dần di] tức là [rằn ri] đó., chỉ có vậy mà thôi(tôi nhấn mạnh ở đây tôi chỉ nói đến biến âm, còn nguồn gốc "âm" của [Dần] là của ai chỗ nào nào tôi không nói đến, và không quan tâm, để tránh tình trạng ông Việt hồ đồ gán cho tôi nói rằn ri là gốc của [dần], mà cho tôi nói rằng âm này là gốc VN). Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 25, 2007 10:46AM
cổ Hán có vài thanh mẫu lẫn lộn nhau ở vị trí phát âm
thanh mẫu [dụ] âm cổ họng và thanh mẫu [nghi] âm gốc lưỡi đôi khi có lẫn nhau 寅 Dần: nếu biến âm chỉ có thể ra: ngấn,vằn, rằn những chữ Việt này giống nghĩa với nhau mang nghĩa dấu vết ngoằn ngoèo, như ngấn vết, vằn vện..v.v 螾 QĐ jan5 : âm Hán cũng là [dần]: nghĩa là con giun đất, để ý giun cũng ngoằn ngoèo..bò vằn vèo..vv.. không thể nào có phụ âm K hay C được và rõ ràng là Dần lúc ông Thương Hiệt thủy tổ tạo chữ Hán đã tạo chữ Dần rồi, vì thấy con cọp nó có vết rằn ri nên ông đã vẽ hình mặt rằn của nó thành chữ Dần [tôi có minh chứng ông Thương Hiệt phò tá Hiên Viên đã tạo chữ Dần], nghĩa [kính] của nó là nghĩa phụ, và không thể lấy nghĩa [kính] của nó mà cho nó có liên quan âm đến [kính], và nghĩa [kính] của Dần có thể thời xưa kính sợ con cọp nên Dần có nghĩa phụ thêm này.! 寅 hài thanh cho các chữ khác: như [演 diễn]..giống nghĩa na ná như ."dãn" ra..rãn ra v.v không có âm nào có phụ âm đầu là k hoặc c...v.v 獍 HV cánh, kính: chữ hình thanh là 竟 là hình thanh chữ khác, không phải là hình thanh 寅, nếu có hình thanh là 寅 đọc kính, thì tôi ủng hộ hết mình. hơn nữa nghĩa chữ này là loài thú mới sanh đã ăn mẹ, thật là nghĩa hoang đường, làm gì con vật mới đẻ ra mắt chưa mở, bú sữa mẹ không biết đã xong không, còn bé tí teo mà đã ăn mẹ..??, đây là con vật huyền thoại tưởng tượng để kể cho trẻ con khi ngủ.v.v, và nghĩa của nó không có nghĩa là [kính], không thể nào, lấy nghĩa [kính] của Dần, rồi so âm [cánh, kính] của 獍 của con thú này: lấy "nghĩa" của một chữ rồi so với "âm" của chữ khác, mà cho hai chữ đồng âm với nhau thì thật là phi lí. Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 25, 2007 12:07PM
Ở đây chắc chắn Dần là chữ tượng hình chỉ cho rằn ri:
Hán Ngữ đại từ điển. 寅1 [yín ㄧㄣˊ] [《廣韻》翼真切,平真,以。] [《廣韻》以脂切,平脂,以。] nghĩa 3.象正月陽氣上升萬物始蘇而動之貌。《史記·律書》:“寅言萬物始生螾然也。”《淮南子·天文訓》:“指寅則萬物螾螾也。” 【螾螾】蠕动貌。nhuyễn động mạo. 蠕 nhuyễn: Một âm là nhu. Loài sâu ngọ nguậy. Các giống chất mềm nhũn như con giun, con đỉa gọi là nhu hình động vật 蠕形動物. con giun con đỉa hình dáng cũng "ngoằn ngoèo"..giống vết vằn ở cọp, và ngoằn ngoèo có phụ âm ..[ng]...không có phụ âm k...c...v.v. nghĩa 4. 引導;前進。《爾雅·釋詁上》:進也。 tiến: na ná cũng có âm nghĩa ở VN là rấn lên, dấn lên, rấn mình lên , dấn mình lên..v.v.. toàn là phụ âm ..d..r.. nghĩa 7. 指十二生肖中的虎。參見“ 寅人 . và Dần là con cọp. Tôi không biết chữ/âm Ngư có nguồn gốc phương nam hay không, nhưng dù sao phụ âm đầu rất có thể vốn là G/K gì đó:
Xin hãy so sánh chữ Kế 薊 đã giữ lại? âm đầu là "k"! Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 25, 2007 01:21PM
nói như bác Thạch không lẽ chữ Hán nào có hình con cá và âm đầu là k, là lên quan đến âm cá của VN.??, thí dụ như chữ 蘇 tô này, tôi là người nước khác có âm [tô] nghĩa là cá, rồi tôi cho ngư 魚 vốn là gốc nước tôi có âm tô mà ra ??, nhiều khi do ngẫu nhiên, hoặc thí dụ vì lẽ gì đó cây cỏ đó có hình giống con cá, hoặc lá có mùi giống cá ..v.v, như VN có lá diếp cá v.v, nên họ đã lấy hình 魚 ghép vào thì sao, tối thiểu phải có nhiều chữ mới được, một chữ ăn thua gì.??
Dần: muốn có âm [kính], phải có chữ hình thanh của [Dần] có âm [kính] và có hai chữ trở lên mới được, mà sự thật không có một chữ nào có âm [kính] hình thanh [dần] cả, nếu có tôi cũng hoan nghênh. Re: zodiac
Posted by: Nguyễn.Ng (IP Logged)
Date: December 25, 2007 01:36PM
trong khi những chữ này: 夤戭殥演璌縯蔩螾鏔
toàn là phụ âm đầu [d]: phải chi có hai chữ có âm đầu [k], thì tôi công nhận các bác đúng. |
||
|
Địa chỉ viện: 15355 Brookhurst St., Suite 222, Westminster, CA 92683, USA Thư từ liên lạc: P.O Box 11900 Westminster, CA 92685-1900 |
Giờ làm việc: Thứ hai đến thứ sáu: 2:00PM - 6:00PM Thứ bảy: 10:30AM - 12:30PM. Chủ nhật: Đóng cửa |
| Powered by phpWebSite ©. Theme design © Sharondippity |