Nam-Phong Tạp-Chí :  Diễn Đàn Viện Việt Học
Diễn đàn thảo luận về dự án Nam Phong Tạp Chí của VVH. 
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: Previous12
Current Page: 2 of 2
Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Ái Vân Quốc (IP Logged)
Date: October 24, 2006 05:25PM
Cảm ơn bác Phạm Huệ. Câu chuyện "dài hơi" của bác rất thú vị, nội dung hay, có phần cảm động, mà cách kể của bác cũng ấn tượng. Những người đã có kỉ niệm đi "săn lùng" Nam Phong (để học tập), tựu trung đều có tâm sự giông giống của bác.

Kính,
avq

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Lê Bắc (IP Logged)
Date: October 25, 2006 12:29PM
Rất tiếc là bác Nguyễn Hữu Tưởng đã rút lui. Hẹn gặp bác vào dịp khác vậy.

Tạm thời, khi chưa có nút in ra, tôi làm tạm trang web này, các bác có thể vào lựa trang để in ra mà đọc cho dễ hơn. (Nếu dùng Firefox webbrowser thì có thể in nguyên trang. Còn dùng IE6 thì chỉ in được một phần thôi vì hình quá lớn, hy vọng IE7 cho phép in nguyên trang)

Nam Phong - Phần Chữ Nho - Quyển 1

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Ái Vân Quốc (IP Logged)
Date: October 25, 2006 10:56PM
test

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: huong ho (IP Logged)
Date: October 28, 2006 04:28PM
VIỆC NGHIÊN CỨU, GIỚI THIỆU VĂN HỌC TRUNG QUỐC TRÊN TẠP CHÍ NAM PHONG
NGUYỄN VĂN HIỆU
Khảo sát việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc ở Việt Nam là một trong những yêu cầu rất cơ bản để nghiên cứu mối quan hệ văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhất là trong giai đoạn mối quan hệ văn học giữa hai nước có chuyển biến về chất khi Việt Nam xây dựng “nền quốc văn mới” và từng bước hiện đại hoá tiến trình văn học dân tộc.
Đây là vấn đề chưa được nhiều người nghiên cứu đến. Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu tìm hiểu việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc trên Tạp chí Nam Phong- tạp chí được gọi là tiêu biểu nhất, đậm chất văn hoá- học thuật nhất trong số báo chí 30 năm đầu thế kỷ.
1. Nghiên cứu giới thiệu văn hoá- văn học Trung Quốc, cũng như chủ trương bảo tồn văn hoá dân tộc, thực ra không nằm ngoài chủ đích chính trị của những người sáng lập Nam Phong. Tồn tại suốt 18 năm (1917-1934) với 210 số, Nam Phong tạp chí theo chủ thuyết Albert Sarraut- thay chân Đông Phương tạp chí, ca tụng “Đại pháp”, hô hào xây dựng nền văn hoá mới, dung hoà Đôn- Tây, khuấy lên phong trào say mê nghiên cứu văn hoá để làm lãng quên những vấn đề chính trị- “chủ trương lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng làm chủ nghĩa” (Nam Phong được mười tuổi. NP số 119/7/1917). Về phía chủ bút Phạm Quỳnh, trên Nam Phong, Pham Quỳnh tuyên truyền cho “chủ nghĩa quốc gia”, cho “chính sách bảo hộ” một cách không che dấu. Theo Phạm Quỳnh, “về đường chính trị phải ban bố một độc lập ở cái thế giới cạnh tranh này, nên phải nấp bóng dưới một cường quốc, nhờ che chở cho “Quốc học và chính trị, NP số 168/8-9/1931) Phạm Quỳnh kêu gọi: “Nhà văn muốn thờ nước không có phương tiện nào hay bằng: giúp cho nước có một nền quốc văn xứng đáng” (Quốc học và Quốc văn. NP số 161/7/1931), và chính Phạm Quỳnh tự nhận mình là người tiên phong trong phong trào gây dựng văn hoá, ông viết nhiều về tất cả các vấn đề thuộc văn hoá khoa học Đông- Tây nhằm giới thiệu “văn minh thái Tây” cũng như “văn minh Á Đông”…. Phải chăng đó là “chủ nghĩa quốc gia” dưới chiêu bài văn hoá của Phạm Quỳnh?
Nghiên cứu Tạp chí Nam Phong không thể bỏ qua khía cạnh chính trị này. Tuy nhiên, chúng ta không thể không chú ý đến một mặt khác của vấn đề: cùng với Đông Phương Tạp chí trước đó, Nam Phong đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá giai đoạn. Chủ trương xây dựng nền học thuật mới, giới thiệu văn hoá Đông- Tây, bảo tồn quốc hồn, quốc tuý, “đoàn luyện quốc văn” v.v…. Tạp chí Nam Phong đã góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần, học thuật đương thời. Nam Phong thu hút được nhiều tri thức cũng như đông đảo bạn đọc trong nước. Nhưng cây bút chủ lực của Nam Phong phần nhiều là những người uyên thâm cựu học, lại có vốn Tây học. Chính những công trình biên dịch, khảo cứu của họ đã góp phần đem lại cho Nam Phong không khí học thuật vừa thâm trầm vừa mới mẻ. Và không ai trong số họ cũng thấm nhuần “chủ nghĩa quốc gia” của Phạm Quỳnh. Trong số họ có thể có không ít người còn ảo tưởng về chính trị nhưng lại rất nhiệt tâm xây dựng học thuật nước nhà. Không phải ngẫu nhiên nhiều học giả tên tuổi như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đông Chi.. đã từng ghi nhận công lao của Nam Phong tạp chí, của Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của văn học nước ta trong buổi đầu của nền văn học hiện đại. Ngay từ năm 1933, nhà phê bình Thiếu Sơn đã ghi nhận: “Có những kẻ không hiểu biết gì về văn chương Pháp và Trung Hoa, nhưng với tạp chí Nam Phong, họ có thể có được một trình độ tri thức cần thiết cho sự sống hàng ngày… và khi đọc tạp chí này người ta có thể học hỏi được nền văn hoá Đông Phương” (1)
Việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc trên Tạp chí Nam Phong và ý nghĩa của nó xuất phát từ yêu cầu chủ quan và khách quan trên.
2. Với 210 số, khổ lớn, dày trên dưới 100 trang, xuất bản đều đặn trong 18 năm (1917-1934), Tạp chí Nam Phong cho ra đời nhiều bài mục, thời sự… trong đó những vấn đề liên quan đến văn hoá- học thuật, văn học Trung Quốc chiếm số lượng không nhỏ, dù mục đích chủ yếu của Nam Phong là tuyên truyền văn hoá thái Tây, chủ yếu là văn minh Pháp trong buổi văn hoá cổ truyền của Trung Quốc không còn đủ sức chống lại sự du nhập mới từ Phương Tây (Lời nói đầu NP số 1/7/1917). Hầu hết các bài viết trên Nam Phong đầu ít nhiều liên hệ đến văn hoá học thuật Trung Quốc dù bàn về giáo dục, quốc học, quốc văn, xã hội… Điểm nổi bật ở đây là tinh thần học thuật, là thái độ ứng xử đối với văn hoá Trung Hoa trong buổi “hỗn hiệp” văn hoá Đông Tây, xây dựng học thuật nước nhà. Điều đó cho thấy mối quan hệ văn hoá nói chung, văn học nói riêng, giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được đặt trên tầm quan hệ mới, phá vỡ mối quan hệ theo đặc trưng giao lưu Trung đại có từ ngàn năm. Ông Tuyết Huy bàn khá thấu đáo về việc cần học chữ Hán, “lựa những chữ Hán có thể dùng làm quốc văn”, “đón được cái mới vẫn tốt, giữ được cái cũ vẫn hay”, và “dịch được nhiều sách thì cái tinh hoa văn hoá vẫn còn” (Bàn về vấn đề học chữ Hán. NP số 24/6/1919). Nguyễn Bá Trác kêu gọi các nhà Tây học “lấy cái con mắt nhà Tây mà phán đoán, mà tả chân ra làm thành sách vở quốc ngữ truyền lại nghĩa lý Hán học cho người đời sau… Tôi chỉ trông rằng sau này sẽ có một ngày kia, học mới học cũ cùng chung đúc lại một lò, mà thành ra một nền văn học riêng củaViệt Nam ta” (Bàn về Hán học, NP số 40/10/1919).Ông Tùng Vân trong “Bàn về lịch sử nước Tàu” viết “Người Nam ta đối với lịch sử nước Tàu,chỉ nên chú ý về lịch sử văn hóamà thôi… xét trong lịch sử Khổng học, đời nào là đời Khổng học mờ tối, và Khổng học có ích cho xã hội thế nào, kẻ khảo về Đông phương học, thực cũng nên biết.” (NP số 80/2/1924). Khảo sách “Xuân Thu tả truyện”, Ông Nguyễn Trọng Thuật viết : “Cái mục đích của sự học vấn là phải lấy phép thực nghiệm mà xét tìm cho kỳ đến chốn chân lý có thể căn cứ được mới thôi” (NP số 127/3/1938). “Khảo về lối văn mới của người Tàu” , ông Nguyễn Tiến Lãng hy vọng “Tân thanh niên và tân học giả nước ta cũng có thể biết tường tận cái chân tướng về cuộc vận động cải tạo rất quan hệ cho văn học và cho cả xã hội Tàu ngày nay, phong trào ấy có nhiều vẻ đáng kể cho ta bắt chước” (NP số 210/12/1934 ). Về tinh thần dịch thuật, Ông Đồ Nam (Nguyễn Trọng Thuật ) viết : “Cái nền dân tộc học thuật đã phải bao hàm, lại phải lấy tiếng nói của dân tộc làm căn bản, thì sự phiên dịch là rất cần”, kể cả “những sách Tây đã dịch ra Hán ta cũng có thể chọn mà dịch lại được” (NP số 196/12/1933)… Tuy có tính chất không thuần nhất trong hàng ngũ các cây bút Nam Phong, nhưng có thể nói , trên đây cũng là tinh thần học thuật khá nhất quán đối với những người khảo dịch văn hoá phương Đông nói chung do yêu cầu khách quan, khoa học của phong trào gây dựng văn hoá- học thuật nước nhà.
3. Về phương diện học thuật, nhìn chung các cây bút Nam Phong chú ý nhiều hơn đến các vấn đề cổ học Trung Hoa và biên dịch nhiều hơn. Về khảo luận đáng chú ý có bài của Trần Trọng Kim về Nho giáo (NP 65,66/1922), Đạo giáo (NP số 67, 8, 74, 75/1923); của An Khê về Triết học Khổng giáo (NP số 83, 86/ 1923), học thuyết các môn đồ Khổng Tử (NP số 91,93/1924 ); các bài Bàn về học thuật nước Tàu (NP số 15/1918), bàn về Hán học (NP số 40/1920 )của Nguyễn Bá Trác… Nhân vật cận hiện đại Trung Quốc, Lương Khải Siêu, cũng được bàn đến, tác phẩm của Lương Khải Siêu cũng được dịch giới thiệu khá nhiều . Về biên dịch, đáng kể các bản dịch của Phạm Quỳnh như “ Khổng Phu Tử luận”, dịch của Edoward Charannes (NP số 13/1918 ), “Khổng giáo luận” của Hovelaque (NP số 50/1921 ), “Cái tư tưởng căn bản của Khổng Mạnh” của giả Nhật, Phục Bộ Vũ Chi Cát (NP số 85/1924 ), “Khảo về triết học nước Tàu” của Auroussean (NP số 87/1924 )v.v… Nhưng dịch giả quan trọng nhất giới thiệu học thuật Trung Hoa trên Nam Phong phải kể đến Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Ông có mặt trong 18 năm tồn tại của Nam Phong, chuyên về học thuật Đông Phương . Sự nghiệp dịch thuật của ông khá đồ sộ, cả cổ học Việt Nam lẫn Trung Hoa. Về học thuật Trung Hoa ông dịch đủ mọi lĩnh vực : triết học, xã hội học, văn học, lịch sử, phong tục … Về triết học, đáng kể là công trình dịch tác phẩm “Khảo về học thuật nước Tàu” của Lương Khải Siêu (NP từ số 163/1931 đến 187/1931); Khảo dịch “Mạnh tử quốc văn giải thích” (từ NP số 78/1923 đến số cuối) và “Luận ngữ quốc văn giải thích” (cùng với Nguyễn Đôn Phục ); về văn học, ông dịch các bài khảo về Khuất Nguyên, Đào Uyên Minh, Tô Đông Pha… và đáng kể là ông dịch bộ “Văn học sử nước Tàu” của Vương Mộng Tăng (NP 56 đến số 63/1922), và “Khảo về các lối văn Tàu” (không ghi xuất xứ. Từ NP số 72 đến 76/11923). Đây là hai công trình về văn học Trung Quốc được giới thiệu qui môn nhất từ trước đến đó ở Việt Nam, góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu văn học Trung Quốc một cách có hệ thống ở Việt Nam.
Ý nghĩa của việc của việc dịch thuật tác phẩm Trung Quốc của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến nói riêng, của Tạp chí Nam Phong nói chung, có thể mượn lời của Nguyễn Khắc Xuyên để khái quát: “Như các nhà khảo cứu đã nhận xét về Đông Châu: nếu với nền Pháp văn minh thịnh hành ở nước ta, người ta ít chú trọng đến những bài giới thiệu văn học thái Tây của Phạm Quỳnh thì nền Hán học suy vong, người ta càng cần đến những bài dịch khảo cứu về học thuật và tư tưởng nước Tàu. Phải chăng đó là khía cạnh có thể trường tồn được của Nguyễn Hữu Tiến?” (2).
Có thể nói, đến Tạp chí Nam Phong, nhiều vấn đề học thuật Trung Quốc cổ trung đại mới được trình bày một cách phong phú và khá có hệ thống, ở một mức độ nhất định, Nam Phong đã phát ra một cái nhìn có tính khái quát về học thuật Đông Phương trên tinh thần học thuật mới.
Các dịch giả Nam Phong còn ít chú ý những vấn đề học thuật Trung Quốc đương thời. Điều đó cũng dễ hiểu vì bấy giờ Trung Quốc cũng như Việt Nam, đang vận động xây dựng học thuật mới. Mặt khác, phần nào do cái nhìn chủ quan, hạn chế của không ít trí thức Nho học nước ta đương thời. Năm 1933, ông Lê Dư có nhắc đến Hồ Thích và cuộc vận động tân học, nhưng theo ông “sự đó ta đã làm trước nước Tàu ngót nghìn năm rồi” và ông không thể chịu được “lời thơ mới của Hồ Thích xướng ra, không vần không luật” (Nguồn gốc văn học nước nhà và nền văn học mới. NP 190/1933). Người đầu tiên giới thiệu văn mới của Trung Quốc là Nguyễn Tiến Lãng. Trong bài “Văn mới của người Tàu” (Nam Phong. 210/1934) ông ca ngợi Hồ Thích, Trần Độc Tú trong cuộc vận động tân văn học. Về thơ, ông nhắc đến thơ Từ Chi Ma “diễm lệ có đặc tính riêng”, thơ Quách Mạc Nhược “tư tưởng và trang nhã”. Về văn, ông giới thiệu Lỗ Tấn với tác phẩm “Đời Ahy”, nhắc đến Lão Xá, Mao Thuẩn, Đinh Linh… Ông viết: “Xem qua ta đủ thấy người Tàu biết nhận cái ảnh hưởng của thái Tây về hình thức cũng như về tinh thần. Đó cũng là một cái gương cho ta noi theo”.
Trên Nam Phong, khảo cứu chuyên về văn học chưa được dịch và giới thiệu nhiều; bài viết của tác giả Việt Nam về văn học Trung Quốc cũng rất ít. Văn mới Trung Quốc, thực ra phải đến 1945, với Đặng Thai Mai, nền “văn học mới” của Trung Quốc mới được chú ý đúng mức.
4. Tác phẩm văn học dịch cũng chủ yếu là văn học cổ Trung Quốc, trừ một vài truyện ngắn, tiểu thuyết. Có một tình hình chung, việc dịch các tác phẩm văn học phương Tây thường gắn với ý thức nhằm giới thiệu lối văn mới để người trong nước thưởng thức, học theo, và do đó, tác phẩm văn xuôi được giới thiệu nhiều hơn. Phạm Quỳnh dịch truyện ngắn của Georges D’Esparles trên NP số 2/1917 là nhằm giới thiệu “Truyện dịch sau này thuộc về lối “đoản thiên tiểu thuyết” (Comte, Nouvelle). Lối ấy cũng là một lối hay trong văn chương Tây, các nhà văn sĩ ta có thể bắt chước mà làm bằng tiếng Nôm. Vì lối tiểu thuyết dài thì hiện nay người nước ta còn chưa đủ tư cách mà khởi hành được”. Trong khi đó, việc dịch, việc thưởng thức giới thiệu tác phẩm văn học Trung Quốc hầu như gắn với văn chương Á Đông hơn. Nhiều dịch giả hầu như không quan tâm đến việc giới thiệu xuất xứ của tác phẩm dịch, cả về thơ lẫn văn xuôi, có trường hợp không ghi cả tên người dịch, gây khó khăn không ít cho người khảo cú.
- Về thơ, từ Nam Phong số 9/1918, với mục “Dịch thơ Đường”, Đông Châu phụ trách, thơ cổ Trung Quốc được sao lục hoặc dịch mới, xuất hiện khá đều trong mục “Văn uyển”, chỉ riêng thơ Đường đã có trên 300 bản dịch.
Phần sao lục, đáng kể có sao lục của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến- “Bản hội mới sao lục được một tập dịch Đường thơ, không biết của cụ nào. Mỗi kỳ đăng mấy bài in cả nguyên thi chữ Nho để các nhà đọc báo tiện xem” (NP số 9/1918), và sao lục của Lê Dư- “Nay tìm thấy được tập thơ Đường diễn nôm này chưa rõ là nguyên nhân ai diễn”. (NP số 175/1932). Sao lục của Đông Châu và của Lê Dư ngót 200 bản dịch thơ Đường lối thơ rất thoát.
Mục dịch thơ Đường thu hút nhiều dịch giả trong cả nước, nhưng chủ yếu là dịch giả miền Bắc, như Đàm Xuyên, Nguyễn Thế Nức, Trần Sở Kiều, Nguyễn Kiểm, Phạm Hùng Kỳ… đáng kể có Phạm Sỹ Vỹ dịch “Thiên gia thi”, 100 bài, in trên Nam Phong từ số 144/1929 đến số 149/1930, dịch theo nguyên thể, nhiều bài được chọn in trong nhiều tuyển thơ Đường về sau. Dịch giả quan trọng nhất dịch thơ cổ Trung Quốc trên Nam Phong là Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục với gần 100 bản dịch, từ thơ Nam Bắc triều đến Đường, Tống. Vẫn nhiều nhất là thơ Đường. Thơ dịch của ông khi rải rác, khi liền số, suốt từ 1922 đến 1934. Thơ dịch của ông thường có “Lời giải kiêm lời bình”, xuất xứ rõ ràng. Ông chú trọng đến việc dịch theo nguyên thể để “bảo tồn lấy thể cách”, nhưng thi thoảng cũng dịch theo thể thơ lục bát và dịch rất tài hoa như bản dịch “Quy khứ lại từ” của Đào Tiềm (NP số 53/1921). Nhiều bản dịch của ông được coi là mẫu mực và được chọn in trong hầu hết các tuyển thơ Đường. Xuân Diệu đã hết sức ca ngợi bản dịch “Dữ Chu Sơn Nhân” (Đỗ Phủ) của ông (NP số 76/1923).
Có thể nói Nam Phong là tạp chí dịch giới thiệu thơ cổ điển Trung Quốc nhiều nhất trong số báo, tạp chí từ trước đến nay và Nam Phong là tạp chí dấy lên phong trào dịch thơ cổ Trung Quốc rộng rãi nhất trong mấy mươi năm đầu thế kỷ. Thơ Đường trên Nam Phong được dịch ở nhiều thể khác nhau, từ nguyên thể đến song thất lục bát, lục bát và có cả thể nói như trường dịch của Tương Tiến Tửu của Lý Bạch (Không rõ dịch giả, NP số 161/1931). Rất nhiều trường hợp cùng một bài thơ được nhiều dịch giả tham gia dịch. Khảo sát các bản dịch này sẽ là điều thú vị và có ý nghĩa không nhỏ trong việc tìm hiểu lịch sử dịch thơ Trung Quốc ở Việt Nam.
Cổ văn Trung Quốc, so với thơ, không được dịch giới thiệu bao nhiêu, chủ yếu văn Chiến quốc sách, văn Tả truyện, văn đời Đường, Tống, của các dịch giả Hồng Nhân (Phạm Quỳnh), Đông Châu, Tùng Vân, Tuyết Huy, Mân Châu, Nguyễn Mạnh Bỗng, cuối bản dịch thường có lời bàn phụ ca ngợi “văn pháp” hoặc liên hệ hiện trạng xã hội để phê phán.
Tuy giới thiệu không vì mục đích văn học, nhưng về cổ văn Trung Quốc trên Nam Phong phải kể hai bộ phận quan trọng nhất là “Mạnh Tử
quốc văn giải thích” do Đông Châu Hữu Tiến khảo dịch in từ Nam Phong số 78/1923 cho đến số cuối (Từ số 126 có sự cộng tác của Nguyễn Đôn Thục), và bộ “khảo về sách Xuân Thi tả truyện” của Nguyễn Trọng Thuật. Đây cũng là hai công trình khảo dịch thể hiện rất rõ tinh thần khoa học của hai ông, văn dịch sáng rõ, gãy gọn, chú thích rõ ràng.
Trước Tạp chí Nam Phong, truyện Tàu được dịch ở Việt Nam khá nhiều, nhất là từ sau 1906. Nếu trên Đông Dương tạp chí xuất hiện Tam quốc (Phan Kế Bính dịch), Đông Châu liệt quốc (Đỗ Mục dịch) thì trên Nam Phong vắng bóng tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, ngược lại, lại có những tiểu thuyết đương thời của Trung Quốc như tiểu thuyết của Từ Trẩm Á gây xôn xao dư luận bấy giờ.
Truyện ngắn Trung Quốc được in rải rác trên Nam Phong từ số 5/1917 với bốn dịch giả: Nam Thạch Trịnh Xuân Nham, sáu truyện không ghi xuất xứ; của Ngọc Am Võ Liêm Sơn, bốn truyện không ghi xuất xứ; của Đông Châu, năm truyện dịch “Liễu Trai” và một truyện dịch của Từ Trẫm Á (Gương Tự Do); đặc biệt có Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, ông chọn dịch khá nhiều các chủ đề: “Đàn bà Đông Phương” (Từ NP số 101/1925 đến 154/1930). “Gương Đẹp đàn bà” (Từ NP số 189/1923 đến 192/1934). Đây thực sự là 4 tập truyện ngắn của Trung Quốc với gần 100 truyện, dù Tùng Vân chủ về tính cách đạo đức nhiều hơn.
Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục cũng là người dịch nhiều tiểu thuyết. Ông dịch 4 trong số 5 tiểu thuyết dịch trên Nam Phong: “Tây Thi diễm sử” (không ghi xuất xứ, NP từ số 115 đến 117/1927), “Chồng tôi” của Từ Trẩm Á (từ NP số 119/1927 đến 130/1928), “Nhất nộ vị hồng nhan” (Không ghi xuất xứ, NP từ 131/1928 đến 140/1929) và “Quý Phi Diễm Sử” (NP từ số 155/1930 đến 158/1931). Về tiểu thuyết “Chồng tôi”. Trúc Hà có phê bình: “Tuy dùng nhiều chữ Tàu, mà cũng nhờ dùng một cách tài tình nên câu văn lại thanh thoát gọn gàng, mạch văn thi khi mau khi chậm… Có khi đọc xong dư âm như còn chưa dứt. Xét về phương diện văn chương, thì thật là có giá trị. Nhưng lối văn để riêng cho một hạng người đọc mà thôi” (Khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối tiểu thuyết – NP số 174/1932). Đó cũng là cái được và chưa được của các dịch giả “truyện Tàu” trên Nam Phong nói chung.
Tiểu thuyết dịch có tiếng vang đương thời là “Tuyết Hồng lệ sử” của Từ Trẩm Á, được ghi rõ là “Chung tình tiểu thuyết”, “Ái tình tiểu thuyết” được dịch trên Nam Phong từ số 77/1923 đến 84/1923, trên 60 trang. Các số Nam Phong sau lại in “Bổ Truyện Tuyết Hồng Lệ Sử” và nhiều bài tựa của độc giả Trung Quốc (Dịch) và độc giả Việt Nam. Có lẽ lường trước sự “bất thường” nên người dịch chỉ ký M.K và người sao lục phải có “Lời chua riêng”, rào trước đón sau, và: “Tuyết Hồng lệ sử là một truyện rất mới cách nay mới độ 15 năm, là một sự nên xem. Nhân vật truyện ấy lại là một người học mới buổi này, lại càng nên xem lắm. Tuy rằng đối với bổn phận của người trong truyện chưa chắc đã hợp với đạo lý, nhưng mà văn hay nên cũng là cái tiểu thuyết có giá trị”.
“Tuyết Hồng lệ sử” do Mai Khê Đoàn Tư Thuật dịch. Truyện viết theo thể nhật ký, phần lớn truyện là thư từ giữa Mộng Hà và Lệ Aûnh, lời văn bóng bẩy, chuyện tình sướt mướt cảm động, đọc không thể không liên tưởng đến “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách. “Bàn về truyện Tuyết Hồng lệ sử (1925) (NP số 99/1925) Minh Phương Nguyễn Như Cường viết: “Than Oâi! Lệ Aûnh chết rồi, Quân Thiếu chết rồi, Mộng Hà cũng chết rồi, Từ Trẩm Á còn làm sống lại nữa mà chi?” đủ thấy “truyện ái tình” đã thổi làn gió mới vào văn đàn Việt Nam, như là bước chuẩn bị cho “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách xuất hiện hai năm sau đó. Trúc Hà viết: “Kể trong các tiểu thuyết dịch của Tàu, quyển “Tuyết Hồng lệ sử” của ông Đoàn Tư Thuật là đặc sắc lắm… Quyển “Tuyết Hồng lệ sử” sở dĩ bị công kích là bởi lời văn hay, khiến cho người xem đọc dễ mê mẫn mà về sau các nhà dịch truyện Tàu xem chừng ảnh hưởng ở đó nhiều” và cùng một thứ văn chương mĩ lệ, hai quyển ấy (Tuyết Hồng và Tố Tâm- Người viết), bởi vậy cũng chịu chung một số mạng. Nhưng cũng nhờ cái số không may đó, cái số bị công kích đó, mà khiến người ta biết nhiều, đọc nhiều, mê nhiều” (Trúc Hà, bài đã dẫn).
Trong số truyện dịch, còn có một truyện đáng chú ý nhưng xưa nay chưa được nghe nói đến- truyện “Hổ cái già” (Nhật ký sợ vợ) in trên Nam Phong từ số 124/1927 đến 128/1928, ngót 50 trang in, do Lạc Khổ dịch, không ghi rõ xuất xứ, chỉ biết “Đây là sổ chép hàng ngày của chàng Long Khâu Sinh chép cái nông nỗi lấy phải vợ là người Tây học không tinh, hiểu lầm hai chữ tự do, không biết cái tinh thần tự do mà tự do xằng, tự do láo, làm tan nát cả cái gia đình của chàng, ông Nhiêm ông nhặt được ở trong đống sách nát đem về san nhuận và phê bình câu thú vị để làm gương cho đời soi chung… Dịch giả thấy truyện cũng lâm ly, mà văn lại ly kỳ, nên lược dịch ra đây” (Lời dịch giải). Truyện viết theo thể Nhật ký gồm 20 mục, mỗi mục có tiêu đề riêng, ghi sự việc xảy ra trong một năm. Văn viết theo lối hoạt kê, rất sinh động, nhưng đậm chất bi hài. Chúng tôi cũng chưa tra cứu được truyện này, chỉ ghi tham khảo.
Qua truyện Trung Quốc dịch nói riêng, truyện trên Nam Phong nói chung, chúng tôi thấy các nhà văn, dịch giả đương thời còn rất bỡ ngỡ trước khái niệm tiểu thuyết. Có khi được ghi là “Dịch tiểu thuyết Tàu” nhưng truyện lại rất ngắn, chỉ hai trang Nam Phong; có khi được ghi “Đoản thiên tiểu thuyết”.
Trên Tạp chí Nam Phong cũng đã xuất hiện ý kiến phê bình việc dịch truyện Tàu, có người đề nghị “nếu dịch tiểu thuyết thì nên dịch tiểu thuyết Tây (Trúc Hà, bài đãdẫn). Tuy vậy, việc dịch truyện Tàu trên Nam có ý nghĩa nhất định trong việc giới thiệu văn học Trung Quốc và rèn luyện câu văn Quốc Ngữ của buổi đầu nền văn học mới.
5. Từ cuối thế kỷ XIX, rõ hơn là từ đầu thế kỷ XX, quan hệ ảnh hưởng giữa văn học Trung Quốc đối với văn học Việt Nam là quan hệ kép- “Là một hiện tượng văn học nước ngoài, văn học Trung Quốc ảnh hưởng tới văn học Việt Nam như mọi văn học nước khác. Đồng thời văn học Trung Quốc đã ảnh hưởng đến văn học Việt Nam như một yếu tố nội tại, tiềm ẩn trong truyền thống văn hoá Việt Nam” (Trần Đình Sử) (3). Khảo sát việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ là cơ sở của việc tìm hiểu ảnh hưởng kép đó. Chỉ riêng Đường thi, nhiều người đã nói đến ảnh hưởng sâu đậm của thơ Đường trong thơ Mới, phải chăng việc dịch giới thiệu thơ Đường trước đó đã góp phần không nhỏ đối với ảnh hưởng trên?
Trên đây tuy chỉ là những nét khái quát nhưng chúng tôi hy vọng đó là bức tranh chung về tình hình nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc trên Tạp chí Nam Phong, góp phần hình dung một mảng không nhỏ trong cuộc vận hành của tiến trình văn học đầu thế kỷ này.
CHÚ THÍCH
(1) Thiếu Sơn, Phê bình và Cảo luận. Nhà xuất bản Nam Ký Hà Nội, 1993, trang 27.
(2) L.M Nguyễn Khắc Xuyên, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 Bộ văn hoá giáo dục 1968, trang 16.
(3) Trần Đình Sử, Ý nghĩa lịch sử của văn học Trung Quốc trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, Nghiên cứu nghệ thuật số 9/1994.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Nam Phong Tạp Chí, 210 số, từ 1917 đến 1934, Hà Nội.
2. THIẾU SƠN, Phê bình và Cảo Luận, NXB Nam Ký Hà Nội, 1993.
3. NGUYỄN ĐỔNG CHI, Việt Nam Cổ Văn Học Sử, Tủ sách Văn Học, SG, 1970 (Tái bản).
4. DƯƠNG QUẢNG HÀM, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu SG, 1968 (Tái bản).
5. NGUYỄN KHẮC XUYÊN, Mục Lục Phân Tích Tạp Chí Nam Phong, Bộ Văn Hoá Giáo Dục, SG, 1968.
6. HUỲNH VĂN TÒNG, Lịch sử báo chí Việt Nam, Trí Đăng, SG, 1974.
7. DỊCH QUÂN TẢ, Lịch sử văn học Trung Quốc, Huỳnh Minh Đức dịch, NXB Trẻ 1992 (Tái bản).

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: huong ho (IP Logged)
Date: December 10, 2006 07:16PM
Năm 1924, Lê Dư làm việc cho Trường Viễn đông Bác cổ Pháp ở Hà Nội, là chuyên gia về văn học sử và lịch sử Việt Nam. Trong khoảng 10 năm ông công bố thêm gần 30 công trình vừa Hán văn vừa Quốc văn. Trước khi công bố bản dịch toàn bộ các công trình Hán văn của học giả Lê Dư, chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc bản dịch “Du Cổ Loa thành ký sở cảm”, nguyên tác Hán văn bài viết này đã đăng trên tạp chí Nam Phong số 68 năm 1924.

Phạm Hoàng Quân


Du Cổ Loa thành ký sở cảm
(Cảm xúc khi đi thăm thành Cổ Loa)

Nước Việt ta từ khi khởi lập kể đã 4.000 năm, đến nay hẳn nhiên là một nước lớn, ngược về thuở nước nhà mới gầy dựng thì bờ cõi chỉ là một dãy đất Bắc kỳ. Bắc kỳ là vùng đất xa xưa nhất của đất nước nên di chỉ rất nhiều, như đền Hùng Vương, điện Hai Bà Trưng, Thành Cổ Loa, Lăng Lý Bát Đế, đến núi sông nào cũng thấy dấu xưa hiển hiện, thảy như để cho vạn đời ghi nhớ, cho người sau có chỗ tựa nương mà tưởng vọng.

Người hiếu kỳ nước ta lại hay có tánh bỏ gần mà cầu xa, hoặc hâm mộ cổ tích Trung Hoa, hoặc ngầm ước được xem di chỉ phương Tây, rồi lại đem ra làm đầu đề mà khen mà bàn, còn đối với cổ tích trong nước thì lại tỏ ra dửng dưng. Ôi thôi, họ nói chuyện nước ngoài thì rõ như của báu cất trong nhà, còn nhắc đến cổ tích chốn làng quê mình thì mơ hồ như trong mộng, như Tịch Đàm [2] quên nước, phải trái không biết nói sao. Tôi là người trọ ở Đông Đô [Hà Nội] vài năm rồi, các danh thắng vùng phụ cận chưa có dịp thăm viếng, thật lấy làm tiếc lắm. Hôm mùng 5 tháng Chạp, nhân lúc rảnh rỗi, mới làm một chuyến du lãm thành Cổ Loa, cùng đi có hai người bạn người nước ngoài là Cao Kiều và Mục Dã. Anh Cao Kiều tên Đôn làm thư ký ở phủ Tổng Đốc Đài Loan, anh Mục Dã tên Phong Tam Lang là người bạn đồng sự với tôi cùng làm việc tại Bác cổ Học viện Hà Nội.

Chín giờ lên xe hơi, xuất phát từ trạm Hà thành, băng qua một số trạm, nhìn đường sắt hai bên nhô cao ba lớp đất như con rắn dài từ xa trườn tới, cây cối rậm rạp, phảng phất từ xa làn khí đế vương, tức phát ra từ di chỉ thành Cổ Loa. Thành này do Thục An Dương Vương đắp. Trước đây 2.180 năm (tức năm 257 trCN) vua Thục đánh lấy nước Văn Lang [3] rồi định đô đây, đắp thành rộng ngàn trượng, xoắn quanh như hình con ốc, mới gọi tên là Loa Thành, còn có một tên khác là Tư Long Thành [4] . Chúng tôi xuống xe ở trạm Xuân Kiều, nhờ một người phu đeo vác hành lý và làm người dẫn đường để đi xem các phế tích. Leo lên gò đất, từ từ đi mà ngắm nghía, trông đất đai nhấp nhô, cây cối chen nhau, dân trong vùng tới lui trồng tỉa, thật là một vùng còn đậm phong vị chất phác, như chợt bắt gặp khí tượng của đất nước tự thuở nào còn đọng lại. Hai bạn Mục Dã, Cao Kiều thấy sự hoành tráng trong kiểu cách kiến trúc xưa của nước ta, không ngớt lời tán thưởng, khi thấy bên gốc cổ thụ có một bức tường thấp cổ nát, bạn nhặt lấy một vật cổ để làm kỷ niệm chuyến đi, những kẻ có tính hiếu kỳ đều vậy cả. Tôi chợt thấy bồi hồi, chừng không thể nén được xúc cảm trong lòng, nghĩ cảnh biển dâu dời đổi, đã là cuộc vận động của đất trời làm sao mà thoát ra ngoài vòng được. Không kể nghiệp đương thời của An Dương Vương, mọi sự vật có gì còn mãi được, gần đây nhất như các đời Trần, Lê, cũng đều đã ra tro bụi cả. Khí đế vương trầm lắng như để cho người đời nỗi niềm tưởng nhớ, khấn nguyện cùng mảnh ngói vỡ bờ tường hoang, ngước vọng ngàn xưa cúi nghĩ ngày sau, như thấy núi sông cảnh vật thành quách nhân dân trước mặt, làm sao mà nhàn rồi để chia nỗi buồn cùng người xưa đây!

Chúng tôi quanh theo bờ thành mà đi, mấy giờ sau thì đến một ngôi đình cổ, đây là đình thôn Thượng, xã Cổ Loa, trong đình có câu đối:

神 皋 蔥 鬱 鐘 靈 氣
村 落 平 康 囿 古 風

Phiên âm:

Thần cao thông uất chung linh khí
Thôn lạc bình khang hữu cổ phong

Dịch nghĩa:

Thần bảo đây nơi linh khí hội
Thôn xóm yên hòa giữ nếp xưa

Câu đối này thật đã tả đủ cảnh tượng thái bình của một Cổ Loa thời cũ, có mấy trẻ nhỏ trong thôn, thấy bọn tôi quẩn quanh xem ngắm, bọn chúng tò mò xúm lại mà xem, mỗi khi chúng tôi ghé qua một nơi nào thì cứ quây quần theo đủ thấy dân thôn này còn chơn chất quê mùa lắm, biết ít nên thấy gì cũng lạ cả. Lại đi khoảng nửa giờ thì đến miếu An Dương Vương, trước miếu có một ao vuông, giữa ao đột ngột nổi lên một gò đất, như một hải đảo. Cửa miếu đề 4 chữ Phủ Ngưỡng Thiên Cổ 俯 仰 天 古 [Đoái vọng ngàn năm]. Bên miếu có hai con rồng đá, nét điêu khắc toát ra một vẻ đẹp chắc khỏe, không rõ làm từ đời nào. Ông Nguyễn Tư Giản [5] có đề câu đối trước miếu:

陟 降 九 天 靈, 入 其 門 者 猶 想 () 神 弓 寶 劍
興 亡 千 載 恨, 過 其 地 者 唯 見 古 木 寒 鴉.

Phiên âm:

Trắc giáng cửu thiên linh, nhập kỳ môn giả do tưởng [6] thần cung bảo kiếm
Hưng vong thiên tải hận, quá kỳ địa giả duy kiến cổ mộc hàn nha]

Dịch nghĩa:

Lên xuống chín tầng thiêng, vào cửa chừ, nhớ cung thần kiếm báu
Được mất ngàn năm hận, qua đất chừ, thấy quạ lạnh cây xưa

Đền này rất chắc chắn, chúng tôi vội vào cửa, tạm ngồi bên hành lang phía đông nghỉ ngơi một chút, dùng bữa trưa xong liền vào trong tham quan một lượt. Trong miếu trang hoàng tôn nghiêm tráng lệ, nhưng vật cổ thì thấy còn rất ít. Miếu có biển đề: Chánh Pháp Điện 正 法 殿, đây là nền cũ cung vua [Thục], bên miếu là ngôi đình của xã Cổ Loa, xưa là nơi vua ngự thiết triều. Đình có bức hoành phi: Ngự Triều Di Quy 御 朝 遺 規 [nền cũ nơi ngự triều] và hai cặp câu đối:

禮 文 一 代 徵 前 史
城 郭 三 重 儼 故 宮

Phiên âm:

Lễ văn nhất đại trưng tiền sử
Thành quách tam trùng nghiễm cố cung

Dịch nghĩa:

Văn, Lễ một thời in sử trước
Thành quách ba vòng hẳn cung xưa

và:

五 十 載 雄 圖, 貉 國 山 河 維 舊
千 百 年 靈 蹟, 螺 城 宮 闕 如 新.

Phiên âm:

Ngũ thập tải hùng đồ, lạc quốc sơn hà duy cựu
Thiên bách niên linh tích, loa thành cung khuyết như tân

Dịch nghĩa:

Năm mươi năm cơ đồ hùng tráng, nước Lạc Việt non sông vẫn vậy
Trăm ngàn năm dấu tích uy nghi, thành Cổ Loa cung điện mãi ngời

Ở hành lang bên phải phía sau miếu có một nhà bia, lập thời vua Lê niên hiệu Đức Long năm đầu (1629), trải qua thời gian, bia dựng càng nhiều. Phía sau miếu là một gốc cổ thụ cực lớn, rễ cây quấn quanh một ngôi miếu cổ, tức là miếu thờ công chúa Mỵ Châu, miếu này xưa vốn là nền Hoa Am, trong miếu có một tảng đá ngọc chu vi hơn 5 thước, như hình ghế ngồi. Sử chép xưa Thục An Dương Vương được thần Quy trao cho cái móng, vua lệnh cho bề tôi là Cao Lỗ chế ra nỏ thần, lấy móng làm cái lẩy cò, đặt tên là “Linh Quang Quy Thần Nỗ”. Huyện lệnh Long Xuyên quận Nam Hải là Triệu Đà xua quân sang đánh, đóng quân ở núi Tiên Sơn, Bắc Giang (nay là huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) cùng Thục Vương giao chiến, Thục vương đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy. Đà biết Vương có nỏ thần không thể đánh được mới lui về giữ núi Vũ Ninh (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) đưa sứ sang cầu hòa. Thục Vương vui lòng mới phân ranh giới tại Bình Giang (nay là sông Thiên Đức, huyện Đông Ngàn) [7] , về phía Bắc thì Triệu Đà cai trị, về phía Nam thì Thục Vương cai trị. Đà lại khiến con là Trọng Thủy sang làm quân túc vệ và xin cưới con Vương là Mỵ Châu, vương bằng lòng. Trọng Thủy vỗ về Mỵ Châu, xui nàng cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm trộm lấy lẩy nỏ. Trọng Thủy lấy cớ về phương Bắc thăm cha, kêu Mỵ Châu mà nói rằng: Tình nghĩa vợ chồng không thể nào quên được, lỡ sau này hai nước không thuận, nam bắc cách biệt, ta có trở qua thì làm thế nào để gặp nhau được. Mỵ Châu đáp rằng: Thiếp có chiếc áo lông ngỗng thường mặc bên mình, đi đến đâu thì sẽ rắc lông ngỗng ở các nẻo đường, chàng cứ nhìn đó thì biết. Trọng Thủy về báo với Đà, Đà bèn phát binh đánh Vương, Vương không biết lẩy nỏ đã mất, cười nói: Đà không biết sợ nỏ thần của ta sao. Binh Đà áp tới gần thành, Vương lấy nỏ ra, mới giương lên thì nỏ gãy, Vương thua, bỏ chạy. Mỵ Châu ngồi lên ngựa cùng Vương chạy về Nam, Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi theo, đến bờ biển, đường cùng không có thuyền, Vương liền kêu: Kim Quy mau đến cứu ta, Kim Quy vượt nước trồi lên quát rằng: Giặc ngồi ở sau Vua đấy, hãy giết đi. Vương rút kiếm toan chém Mỵ Châu, nàng khẩn rằng: Tôi một lòng thành thật, chỉ vì bị người gạt, nguyện hóa thành ngọc châu để rửa sạch nỗi thẹn này. Vua chém nàng rồi cầm linh tê bảy tấc mà đi vào biển (chỗ này nay là núi Mộ Trạch, xã Cao Xá, phủ Diễn Châu, Nghệ An).

Trọng Thủy đuổi theo tới nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, ôm thi thể nàng mà khóc rống lên rồi đem về chôn ở Loa Thành. Nay ở phía Đông thành Cổ Loa có một chỗ tục danh là xứ Đồng Cấm, nơi đây có lăng mộ công chúa Mỵ Châu. Tương truyền Mỵ Châu [khi bị chém] máu trôi theo nước, trai sò ngậm vào thì thành ngọc sáng, thân nàng hóa thành ngọc thạch, nay trong miếu có thờ khối ngọc thạch là từ đó vậy, trong miếu có câu đối:

千 古 樹 佳 氣 鬱 蔥, 緣 帶 情 根 環 寢 廟
一 片 石 平 生 忠 信, 潛 靈 灝 爽 伴 王 宮.

Phiên âm:

Thiên cổ thụ giai khí uất thông, duyên đới tình căn hoàn tẩm miếu
Nhất phiến thạch bình sanh trung tín, tiềm linh hạo sảng bạn vương cung

Dịch nghĩa:

Cây nghìn năm khí lành phảng phất, rễ tình dây duyên quấn quanh miếu điện
Đá một phiến giữa đời thành thật, thiêng ngầm sáng rõ quyến luyến cung vua

Lại có bài thơ của ông Lê Huy Phiên như sau:

婚 寇 生 緣 女 質 孱
誓 心 天 地 每 羞 顏
君 王 骨 肉 恩 填 海
夫 婿 奸 雄 罪 負 山
運 去 神 龜 難 贖 爪
途 窮 錦 褥 枉 留 斑
明 珠 有 淚 留 何 處
僻 廟 斜 陽 古 樹 環.

Phiên âm:

Hôn khấu sanh duyên nữ chất sàn
Thệ tâm thiên địa mỗi tu nhan
Quân vương cốt nhục ân điền hải
Phu tế gian hùng tội phụ san (sơn)
Vận khứ thần quy nan thục trảo
Đồ cùng cẩm nhục uổng lưu ban
Minh châu hữu lệ lưu hà xứ
Tích miếu tà dương cổ thụ hoàn

Dịch nghĩa:

Tư chất nàng yếu đuối mà phải kết duyên với giặc
Lòng thề với đất trời không để thẹn mặt
Ân vua cha sâu như biển, bao giờ lấp được
Chồng, rể gian manh lừa lọc, tội cao như núi
Vận hết móng rùa thần khó chuộc
Đường cùng khăn gấm bẩn vết oan
Nước mắt ở xứ nào rơi vào Giếng Ngọc
Cội cây già quấn quanh miếu lạnh trong buổi chiều tà

Lại có thêm câu của ông Nguyễn Tư Giản đề rằng:

千 載 上 是 耶 非, 誰 能 辦 之.靈 爪 弩 機 傳 外 史. 五 倫 中, 父 與 夫 果 孰 親 也. 蚌 胎 井 水 獨 深 情.

Phiên âm:

Thiên tải thượng thị da phi, thùy năng biện chi. Linh trảo nỗ cơ truyền ngoại sử. Ngũ luân trung, phụ dữ phu quả thục thân dã. Bạn thai tỉnh thủy độc thâm tình.

Dịch nghĩa:

Việc đúng sai ngàn năm qua khó mà phân giải, việc lấy móng rùa thiêng làm lẫy nỏ là lời ngoài sử sách. Trong đạo ngũ luân, cha với chồng ai là người thân hơn [8] . Riêng mối thâm tình gởi vào nước giếng, bụng trai.

Ngoài miếu An Dương Vương có một cái giếng cũ nước rất trong, xưa kia là nơi Mỵ Châu tắm và trang điểm. Khi Trọng Thủy chôn cất Mỵ Châu rồi, buồn bã không dằn được lòng, nhảy xuống giếng mà chết. Tục truyền rằng, người đời sau khi lấy được minh châu ở biển Đông, lấy nước giếng này mà rửa thì màu sắc sáng lạ. Từ đời Lê về trước, các triều lấy nước giếng này làm vật tiến cống [cho Trung Hoa], đến đời Lê năm Vĩnh Thịnh thứ 14 [1718] Nguyễn Công Hãn [9] đi sứ phương Bắc, vì gấp gáp quên lấy nước giếng này theo, mới lấy nước giếng trên núi [ở dọc đường đi] mà thế nào, [bên đó] đem thử thấy không hiệu nghiệm, người Thanh vặn hỏi, ông [Nguyễn Công Hãn] nói chắc là do lâu đời quá nên khí linh đã tan mất rồi, từ đó bỏ cái lệ cống nước giếng. Hai bạn Mục Dã, Cao Kiều đứng bên giếng nhìn ngắm, nhân đó mượn cái thùng tự lấy nước lên mà uống, bảo rằng “nước giếng này đã có hơn hai ngàn năm, khó lắm mới gặp được” rồi uống cho thật no mới chịu thôi, cơ hồ như để không bỏ phí cơ hội và để thỏa lòng hoài cổ. Rồi họ lại lấy nước giếng cho vào một bình, tự mang đem về, nói rằng đem gởi về Nhật để Bác cổ Viện bên ấy bày cho người tham quan.

Mặt trời ngã về Tây, khói chiều lãng đãng bốn bề, chúng tôi phải thu niềm hứng thú lại mà tìm đường về, trên đường đi qua vùng Ngõ Chợ thấy có tên gọi là Ngự Xạ Đài (còn một tên khác là Hương Đài). Nghe nói đây là nơi xưa vua đến luyện bắn, mái ngói một gian, nửa bên đã sụp đổ, cảnh sắc một màu buồn bã khiến người chơi thấy bồi hồi không muốn dời bước, ôi:

山 河 風 景 原 無 異
城 郭 人 民 已 半 非

Phiên âm:

Sơn hà phong cảnh nguyên vô dị
Thành quách nhân dân dĩ bán phi

Dịch nghĩa:

Núi sông cảnh vật vốn không khác
Thành quách nhân dân nửa lạ rồi

Thăm Loa thành một buổi, biết có ai cùng mối cảm với mình chăng, nên cầm bút mà ghi lại. Xét thấy trước thời vua Thục, Hùng Vương không gả Mỵ Nương cho kẻ đáng ngờ, lại dạy con cháu rằng, làm vậy sẽ có cơ mất nước. Đến khi An Dương Vương diệt nước Văn Lang mới vừa được 50 năm, liền vì quan hệ cưới gả mà dẫn đến diệt vong, trời đất luân chuyển là việc thường. Như Trọng Thủy vào chầu mà xin cưới con vua, là một loại trinh sát quốc tế, vua lại không biết để mà phòng, không sửa sang võ bị mà chỉ cậy vào nỏ thần, cái thế nguy vong đến nơi là việc tất nhiên rồi. Mỵ Châu là con vua, lớn lên trong cung thất, một lần xuất giá, vợ chồng đầm ấm vui vẻ, nào có biết kế mưu ẩn giấu, đã bảo kết tóc làm vợ chồng thì hai bên không thể ngờ nhau. Trọng Thủy lời ngọt ngào mê hoặc, phá mất lẫy nỏ. Mỵ Châu một lòng thành thật mà bị người lừa, dẫn đến nước mất nhà tan, châu chìm ngọc nát. Nhân luân dầu đại biến cũng chưa vượt qua lẽ phải. Người sau nhìn vào nước giếng Loa Thành có thể rửa ngọc mà không chịu hiểu cảnh ngộ và tâm sự của một người đàn bà, cùng lý lẽ căn cớ ra sao, rất là đáng hận. Tôi thầm thương công chúa vốn không có tội gì, chỉ do An Dương Vương không biết liệu toan kế sách đó thôi. Nhân cảm tác hai bài thơ sau:

詠 媚 珠 公 主
深 宮 生 長 慣 嬌 癡
世 態 波 濤 幾 得 知
祇 為 愛 恩 疑 婿 少
竟 教 忠 信 彼 郎 欺
珠 沈 玉 隕 心 俱 碎
國 破 家 亡 悔 亦 遲
千 古 螺 城 遺 恨 在
魂 縈 華 表 曷 勝 悲.

Phiên âm:

Thâm cung sanh trưởng quán kiều si
Thế thái ba đào kỷ đắc tri
Kỳ vị ái ân nghi tế thiểu
Cánh giao trung tín bỉ lang khi
Châu trầm ngọc vẫn tâm câu toái
Quốc phá gia vong hối diệc trì
Thiên cổ Loa Thành di hận tại
Hồn oanh hoa biểu hạt thăng bi [10]

Dịch nghĩa:

Vịnh Mỵ Châu công chúa

Nàng ngây thơ lớn lên trong cung cấm
Việc đời lắm sóng gió làm sao mà biết được
Vui vẻ ái ân nào có để dạ nghi chồng
Bởi quá thật thà mà bị lừa dối
Châu chìm ngọc rơi cõi lòng tan nát
Nước mất nhà tan hối có kịp đâu
Loa Thành ngàn năm còn vương nỗi hận
Hồn vấn vương bia mộ, sầu kể sao nguôi


詠 安 陽 王
我 原 無 詐 爾 無 虞
為 鑒 前 車 始 女 吳
只 念 北 南 敦 國 好
孰 知 婿 子 逞 奸 圖
河 山 多 故 龜 無 爪.
骨 肉 傷 心 蚌 有 珠
花 廟 千 秋 公 論 在
信 忠 長 痛 女 無 辜.

Phiên âm:

Ngã nguyên vô trá nhĩ vô ngu
Vi giám tiền xa thỉ nữ ngô
Chỉ niệm bắc nam đôn quốc hảo
Thục tri tế tử sính gian đồ
Hà sơn đa cố quy vô trảo.
Cốt nhục thương tâm bạng hữu châu
Hoa miếu thiên thu công luận tại
Tín trung trường thống nữ vô cô

Dịch nghĩa:

Vịnh An Dương Vương
Ta không dối người mà cũng không phòng bị
Làm cái gương xe đổ về việc gả con sang Tàu
Chỉ muốn Bắc Nam được thuận hòa
Đâu ngờ rể kia là kẻ gian tế
Non sông mấy đỗi rùa không móng
Cốt nhục đau lòng trai ngậm châu
Công luận ngàn năm còn vẳng bên miếu
Thành thật không lỗi lầm gì mà nàng phải mang nỗi xót xa dằn vặt.

(Nguyên tác Hán văn: Lê Dư - tạp chí Nam Phong số 68 năm 1924. Dịch Việt văn: Phạm Hoàng Quân)

© 2006 talawas
________________________________________
[1]Ông tên thật là Lê Kính, em rể học giả Phan Khôi. Ông bà Lê Dư có các người con gái: Nữ thi sĩ Hằng Phương (vợ nhà văn Vũ Ngọc Phan), bà Hằng Phấn (vợ nhà văn Mạc Định Hoàng Văn Chí, tác giả Trăm hoa đua nở trên đất Bắc) và bà Hằng Huân (vợ tướng Nguyễn Sơn).
[2]Tịch Đàm 籍 談, người nước Tấn thời Xuân Thu, khi vào đất nhà Chu, vua Chu hỏi về lịch sử nước Tấn, Đàm không đáp được, người thời ấy chê Đàm là kẻ vong tổ, từ đó có thành ngữ Tịch Đàm Vong Tổ để nói những người quên hết lịch sử tổ tiên nòi giống.
[3]Về niên đại Thục Phán đánh lấy nước Văn Lang, lập nhà nước Âu Lạc vốn có nhiều thuyết bất đồng, do các nhà viết sử dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau:
• Năm 257 trCN (Giáp Thìn) là năm Thục An Dương Vương nguyên niên (Nguyễn Bá Trác, Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu/Thục kỷ, 1925)
• Năm 207 trCN, Thục Phán lãnh đạo dân Lạc Việt đánh bại quân Tần lập nước Âu Lạc (Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam)
• Năm 257 trCN, Thục Phán lập nước Âu Lạc (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược)
• Năm 208 trCN (Quý Tỵ), Thục Phán thủ lĩnh tộc người Âu Việt ở miền núi, sau cuộc kháng Tần thắng lợi, thống nhất các tộc người Âu Việt và Lạc Việt, lập nước Âu Lạc (Viện Sử học, Biên niên lịch sử Cổ Trung đại Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hànội, 1987)
• Năm 208-179 trCN là khoảng thời gian tồn tại của nước Âu Lạc. (Lương Ninh chủ biên, Lịch sử Việt Nam giản yếu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005)
[4]Thành Cổ Loa có nhiều tên gọi theo nhiều nguồn tài liệu, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, kỷ nhà Thục - An Dương Vương chép: “Bấy giờ vua đắp thành ở đất Việt Thường, rộng hơn ngàn trượng hình như trôn ốc, nên gọi Loa Thành, lại có tên là Tư Long Thành (người Trung Quốc đời nhà Đường gọi là thành Côn Lôn vì thành này rất cao)”. Sách Tùy thư gọi tên là Việt Vương Thành, sách An Nam chí lược của Lê Tắc ghi rằng “Loa Thành cũng có tên là Khả Lũ Thành”.
[5]Nguyễn Tư Giản (1823 – 1890) danh sĩ triều Nguyễn, tự Tuân Thúc hiệu Thạch Nông, quê ở Gia Lâm, Hà Nội, thi đỗ Hoàng Giáp năm 1844, làm Hàn lâm Viện tu soạn, trải các chức quan đến Biện lý Đô chính sự vụ Bắc kỳ, Thượng thư Bộ Lại. Để lại nhiều tác phẩm như Thạch Nông thi văn tập, Như thanh nhật ký, Hà phòng tấu nghị…
[6]Nguyên bản Hán văn in thừa một chữ “kiến - “. chúng tôi lược đi để hợp với vế sau. (?)
[7]Bình Giang: tên xưa của sông Thiên Đức, chảy qua Lục Đầu, Bắc Ninh là một chi lưu của sông Hồng, đời Tự Đức đổi gọi là sông Triêm Đức, tên gọi quen thuộc là sông Đuống.
[8]Nguyên văn - Ngũ luân trung phụ dữ phu quả thục thân dã (五 倫 中 父 與 夫 果 孰 親 也 ), đây lấy ý từ câu trong sách “Tả truyện” phụ dữ phu thục thân (父 與 夫 孰 親), có nghĩa “cha với chồng ai thân hơn”.
[9]Nguyễn Công Hãng (1680-1732) danh thần đời Lê Hy Tông, tự Thái Thanh hiệu Tĩnh Trai, quê làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, Bắc Ninh (nay thuộc Tiên Sơn, Hà Bắc). Đỗ Tiến sĩ năm 20 tuổi, làm quan Đề hình rồi thăng Thiêm Đô ngự sử, thăng Đốc trấn Cao Bằng, Tả thị lang Bộ binh. Năm 1718 nhận lệnh đi sứ Trung Quốc, khi về được thăng Thượng thư, tước Sóc Quốc Công, sau làm Thái phó trong phủ chúa Trịnh rồi, Thượng thư Bộ lại. Có để lại tác phẩm Tinh Sai thi tập (theo Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam).
[10]Hoa biểu, lấy từ điển tích “Hạc quy hoa biểu” trong sách Sưu Thần hậu ký của Đào Tiềm đời Tấn. Tích này chép rằng có người ở Liêu Đông tên Đinh Lệnh Uy theo học đạo tạo núi Linh Hư sau chết hóa thành chim hạc. Ngàn năm sau hạc bay về làng cũ đậu trên trụ đá trồng bên chòm mộ trong làng, có người giương cung định bắn, hạc bay lên không, rồi kêu vang thành lời một bài thơ:
Hữu điểu, hữu điểu Đinh Lệnh Uy
Khứ gia thiên niên kim thủy quy
Thành quách như cố nhân dân phi
Hà bất học tiên trủng luy luy]
Dịch nghĩa:
Có con chim, có con chim tên Đinh Lệnh Uy
Đi xa nhà ngàn năm nay mới trở về
Thành quách như xưa người dân đổi khác
Sao chẳng học theo tiên đậu kề bên mộ

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: sachle (IP Logged)
Date: December 11, 2006 08:02PM
Toi dang lam bien tap cho mot to bao o mot dia phuong VN. To bao chung toi chuan bi dang mot bai viet dich tu phan Han van cua tap chi Nam Phong - "Ve nhung van thu trao doi giua Nhat Ban voi chua Nguyen, chua Trinh va vua Le trong the ky 16-17" cua dich gia Vinh Cao va Phan thanh Hai. Neu Ban du an can them nhung thong tin gi, kinh mong duoc lien lac de trao doi tiep. Tran trong

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Lê M Khoa (IP Logged)
Date: February 10, 2007 12:51AM
Kính thưa ban chủ nhiệm,
Trước hết, cháu xin chúc các bác sức khỏe để hoàn thành công trình này. Lần đầu tiên cháu biết đến Nam Phong Tạp Chí là khi cháu tìm hiểu về người Mường. Biết học giả Nguyễn Văn Ngọc có viết một bài về người Mường trên Nam Phong Tạp chí năm 1925, cháu lo là không cách nào tìm được. Vậy mà cuối cùng thì cháu cũng mượn được bộ NPTC năm 1925 từ trường đại học Yale. Đọc từng hàng chữ ngày xưa trên microfiche mà cháu thấy cả tấm lòng, sự hy vọng cụ Nguyễn Văn Ngọc đối với dân tộc.
Hôm nay, cháu biết thêm là các bác làm công trình này cho các thế hệ sau như bọn cháu. Cháu tin chắc nếu các cụ Phạm Quỳnh, cụ Nguyễn Văn Ngọc có linh thiêng cũng hả lòng.
Cuối thư, cháu chúc các bác khoẻ mạnh. Thế hệ cháu sẽ không để phí những công đóng góp, xây dựng của các bác.
Lê Minh Khoa.

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: huong ho (IP Logged)
Date: March 11, 2007 08:31PM
THỬ BÀN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA MẢNG TƯ LIỆU HÁN NÔM TRÊN TẠP CHÍ NAM PHONG
CHU TUYẾT LAN
Như chúng ta đã biết, Nam Phong tạp chí ra hàng tháng, xuất bản liên tục từ tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934, tổng cộng 210 số. Mỗi một số đều có phần chữ Quốc ngữ, phần chữ Hán và phần chữ Pháp riêng biệt, đăng tải nội dung tạp chí trong chừng mực khác nhau, tùy thuộc vào sự quan tâm của độc giả từng phần.
Từ trước đến nay trong giới nghiên cứu - phê bình đã có nhiều ý kiến phân tích, đánh giá tạp chí Nam Phong về mặt này mặt khác. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, chúng tôi đề cập đến một lĩnh vực chưa được bàn tới: những đóng góp của tạp chí Nam Phong đối với việc sưu tầm và giới thiệu di sản Hán Nôm của dân tộc.
So với đương thời, Nam Phong là cơ quan ngôn luận tích cực nhất trong việc đăng tải mảng tư liệu Hán Nôm do cha ông ta để lại. Trải qua nhiều thập kỷ, những đóng góp đó vẫn còn được ghi nhận. Chẳng hạn trong khi Viện Văn học tổ chức biên soạn bộ sách Thơ văn Lý Trần(1), các soạn giả đã tham khảo và hơn một lần sử dụng các bản dịch thơ văn được công bố trên Nam Phong.
Không chỉ có Ngành nghiên cứu Văn học, mà nhiều Ngành khoa học xã hội khác như Sử học, Triết học, Dân tộc học, Xã hội học,… đều có thể khai thác ở 210 số tạp chí này những tư liệu và thông tin cần thiết. Để phục vụ các nhà nghiên cứu, phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm 1989 đã hoàn thành tập Thư mục các bài viết trên tạp chí Nam Phong có liên quan đến tác giả, tác phẩm Hán Nôm(2).
Tập thư mục gồm hai phần: Phần Thư mục và phần Sách dẫn.
Phần Thư mục được sắp xếp theo vần chữ cái của tên bài viết. Mỗi đơn vị thư mục gồm có 8 yếu tố:
1. Tên tác giả.
2. Tên bài viết.
3. Đồng tác giả, người sưu tập, dịch…
4. Tên tạp chí.
5. Năm xuất bản.
6. Số tạp chí.
7. Trang.
8. Giới thiệu sơ lược nội dung.
Có tất cả 726 đơn vị thư mục.
Phần Sách dẫn gồm Bảng tra tên người và Bảng tra tên tác phẩm. Cả 2 bảng đều được sắp xếp theo vần chữ cái, với thứ tự dấu: Không, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng, có chỉ rõ số trang và số thứ tự của đơn vị thư mục.
Tập thư mục đã thông tin được một khối lượng đáng kể các tư liệu Hán Nôm, giúp người đọc tra cứu khá dễ dàng.
Để góp phần nhận thức thêm về tính chất đa dạng của các tư liệu Hán Nôm trên tạp chí Nam Phong, dưới đây chúng tôi sẽ phân loại chúng theo chủ đề và đề tài.
Trong số 726 đơn vị thư mục, có:
a) 399 đơn vị giới thiệu các bài sưu tầm, dịch thơ văn cổ;
b) 33 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu văn học;
c) 168 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu về lịch sử hoặc tư liệu về lịch sử;
d) 119 đơn vị giới thiệu các sáng tác thơ văn đương thời (1917 - 1934).
e) 7 đơn vị giới thiệu các văn bản chính trị đương thời (1917 - 1934).
Qua phần sưu tầm, dịch thơ văn cổ, chúng ta thấy hầu hết các tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam đã được Nam Phong giới thiệu: Mãn Giác, Không Lộ, Lý Thái Tông, Lý Anh Tông, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Nghệ Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Dung, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác, Phạm Thái, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thông,… Bên cạnh những áng thơ Đường được dịch, có mặt trên Nam Phong còn là chuyện Nôm khuyết danh như Tống Chân Cúc Hoa (Thư mục 126). Đáng chú ý, có những tác phẩm rất hiếm hoi được sáng tác trong thời kỳ Bắc thuộc như Bạch vân chiếu xuân hải phú của Khương Công Phụ cũng đã được giới thiệu trên Nam Phong năm 1924, số 83 (Thư mục 246).
Trên phương diện nghiên cứu Văn học, Nam Phong có nhiều bài nghiên cứu về tiểu sử Nguyễn Du, về Truyện Kiều (Thư mục 34, 35, 36, 38, 133, 287, 308, 344, 351, 383, 639, 672). Ngoài ra các tác giả còn khảo cứu Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, nghiên cứu một số bài thơ của Trần Khánh Dư, Lê Thánh Tông, Bà huyện Thanh Quan, bàn về thơ Nôm, câu đối Nôm, khảo sát lối chữ thời cổ (Thư mục 50, 51, 37, 235, 295).
Qua 168 đơn vị Thư mục về tài liệu và nghiên cứu lịch sử, có thể thấy những vấn đề sau được đặc biệt chú ý:
1) Lịch sử nước ta từ thời kỳ Đông Sơn đến thời kỳ Bắc thuộc (Thư mục 73, 169, 174, 182, 183, 304,…).
2) Các thời kỳ lịch sử, với các triều đại như nhà Lê, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn (Thư mục 212, 273, 284, 458,…).
3) Các nhân vật lịch sử: Ngô Quyền, Lý Nhân Tông, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Văn Thành, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Trường Tộ,… (Thư mục 348, 300, 92, 272, 386, 367, 285, 357, 283, 99, 440, 441, 484, 606, 661, 270, 369, 322, 299, 278, 361,…). Ở phần này người nghiên cứu sẽ tiếp xúc với các tư liệu lịch sử như: những bức thư của Lê Quýnh (bầy tôi của Lê Chiêu Thống), những bài biểu của Nguyễn Thiếp và hai bức thư chữ Hán của Quang Trung mời Nguyễn Thiếp ra giúp nước; bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ,… (Thư mục 257, 260, 207, 208, 209,…).
4) Phong tục, đất đai, thổ sản, các di tích… trên đất nước ta (thư mục 213, 214, 387, 236, 335, 55, 197,…).
5) Giáo dục, khoa cử: bên cạnh những bài khảo cứu về chế độ khoa cử, về các khoa thi (thư mục 241, 224), còn có những bài, những tư liệu khá thú vị, chẳng hạn, đề bài thi để chọn nhân tài dưới chế độ phong kiến, bài biểu tạ ơn của người thi đỗ, quy chế của khoa thi cuối cùng (thư mục 32, 118, 250, 249).
Ngoài ra tạp chí Nam Phong còn đề cập đến rất nhiều vấn đề khác như luật hình, lễ nghi, tang lễ, y học, nghề đàn, lịch, lăng tẩm, lệ cống Trung Quốc, các bộ sử, nhận xét người phương Bắc về người nước ta, lịch sử và phong tục nước ngoài (Ấn Độ, Nhật Bản), Phật giáo, Mạnh Tử, Mặc Tử,…
Bên cạnh đó, còn có 118 đơn vị thư mục giới thiệu các sáng tác thơ văn hầu hết là thơ từ 1917 đến 1934, cung cấp thông tin cần thiết đối với những người quan tâm nghiên cứu tình hình văn học Việt Nam ở giai đoạn giao thời.
Cuối cùng là 8 đơn vị thư mục nói về các văn bản chính trị như các tờ thời dụ của vua Khải Định, biểu mừng Hoàng Thái Hậu năm mươi tuổi,… Nguồn tư liệu sẽ giúp cho các nhà sử học muốn tìm hiểu tình hình xã hội Việt Nam vào đêm trước của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Đến nay hơn nửa thế kỷ đã qua đi, song những đóng góp đã phân tích ở trên các mảng tư liệu Hán Nôm trên tạp chí Nam Phong vẫn còn được ghi nhận. Nó sẽ giúp cho bạn đọc và những nhà nghiên cứu có thêm căn cứ để tìm hiểu lịch sử, ngôn ngữ văn hóa, xã hội và phong tục nước nhà.
CHÚ THÍCH
(1)Thơ văn Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, Tập I, 1977, 632 tr; Tập II, Quyển thượng, 1988, 968 tr; Tập III, 1978, 824 tr.
(2) Tập thư mục gồm 300 trang đánh máy, do tập thể phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện (Vũ Thanh Hằng, Nguyễn Thị Hà, Chu Tuyết Lan, Nguyễn Hoàng Quý, Ngô Thị Thành và Đoàn Thị Tuyết) biên soạn.
(TẠP CHÍ HÁN NÔM SỐ 1(12) NĂM 1992)

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: huong ho (IP Logged)
Date: April 27, 2007 08:17PM
VIỆC NGHIÊN CỨU, GIỚI THIỆU VĂN HỌC TRUNG QUỐC TRÊN TẠP CHÍ NAM PHONG
NGUYỄN VĂN HIỆU
Khảo sát việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc ở Việt Nam là một trong những yêu cầu rất cơ bản để nghiên cứu mối quan hệ văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhất là trong giai đoạn mối quan hệ văn học giữa hai nước có chuyển biến về chất khi Việt Nam xây dựng “nền quốc văn mới” và từng bước hiện đại hoá tiến trình văn học dân tộc.
Đây là vấn đề chưa được nhiều người nghiên cứu đến. Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu tìm hiểu việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc trên Tạp chí Nam Phong- tạp chí được gọi là tiêu biểu nhất, đậm chất văn hoá- học thuật nhất trong số báo chí 30 năm đầu thế kỷ.
1. Nghiên cứu giới thiệu văn hoá- văn học Trung Quốc, cũng như chủ trương bảo tồn văn hoá dân tộc, thực ra không nằm ngoài chủ đích chính trị của những người sáng lập Nam Phong. Tồn tại suốt 18 năm (1917-1934) với 210 số, Nam Phong tạp chí theo chủ thuyết Albert Sarraut- thay chân Đông Phương tạp chí, ca tụng “Đại pháp”, hô hào xây dựng nền văn hoá mới, dung hoà Đôn- Tây, khuấy lên phong trào say mê nghiên cứu văn hoá để làm lãng quên những vấn đề chính trị- “chủ trương lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng làm chủ nghĩa” (Nam Phong được mười tuổi. NP số 119/7/1917). Về phía chủ bút Phạm Quỳnh, trên Nam Phong, Pham Quỳnh tuyên truyền cho “chủ nghĩa quốc gia”, cho “chính sách bảo hộ” một cách không che dấu. Theo Phạm Quỳnh, “về đường chính trị phải ban bố một độc lập ở cái thế giới cạnh tranh này, nên phải nấp bóng dưới một cường quốc, nhờ che chở cho “Quốc học và chính trị, NP số 168/8-9/1931) Phạm Quỳnh kêu gọi: “Nhà văn muốn thờ nước không có phương tiện nào hay bằng: giúp cho nước có một nền quốc văn xứng đáng” (Quốc học và Quốc văn. NP số 161/7/1931), và chính Phạm Quỳnh tự nhận mình là người tiên phong trong phong trào gây dựng văn hoá, ông viết nhiều về tất cả các vấn đề thuộc văn hoá khoa học Đông- Tây nhằm giới thiệu “văn minh thái Tây” cũng như “văn minh Á Đông”…. Phải chăng đó là “chủ nghĩa quốc gia” dưới chiêu bài văn hoá của Phạm Quỳnh?
Nghiên cứu Tạp chí Nam Phong không thể bỏ qua khía cạnh chính trị này. Tuy nhiên, chúng ta không thể không chú ý đến một mặt khác của vấn đề: cùng với Đông Phương Tạp chí trước đó, Nam Phong đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá giai đoạn. Chủ trương xây dựng nền học thuật mới, giới thiệu văn hoá Đông- Tây, bảo tồn quốc hồn, quốc tuý, “đoàn luyện quốc văn” v.v…. Tạp chí Nam Phong đã góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần, học thuật đương thời. Nam Phong thu hút được nhiều tri thức cũng như đông đảo bạn đọc trong nước. Nhưng cây bút chủ lực của Nam Phong phần nhiều là những người uyên thâm cựu học, lại có vốn Tây học. Chính những công trình biên dịch, khảo cứu của họ đã góp phần đem lại cho Nam Phong không khí học thuật vừa thâm trầm vừa mới mẻ. Và không ai trong số họ cũng thấm nhuần “chủ nghĩa quốc gia” của Phạm Quỳnh. Trong số họ có thể có không ít người còn ảo tưởng về chính trị nhưng lại rất nhiệt tâm xây dựng học thuật nước nhà. Không phải ngẫu nhiên nhiều học giả tên tuổi như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đông Chi.. đã từng ghi nhận công lao của Nam Phong tạp chí, của Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của văn học nước ta trong buổi đầu của nền văn học hiện đại. Ngay từ năm 1933, nhà phê bình Thiếu Sơn đã ghi nhận: “Có những kẻ không hiểu biết gì về văn chương Pháp và Trung Hoa, nhưng với tạp chí Nam Phong, họ có thể có được một trình độ tri thức cần thiết cho sự sống hàng ngày… và khi đọc tạp chí này người ta có thể học hỏi được nền văn hoá Đông Phương” (1)
Việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc trên Tạp chí Nam Phong và ý nghĩa của nó xuất phát từ yêu cầu chủ quan và khách quan trên.
2. Với 210 số, khổ lớn, dày trên dưới 100 trang, xuất bản đều đặn trong 18 năm (1917-1934), Tạp chí Nam Phong cho ra đời nhiều bài mục, thời sự… trong đó những vấn đề liên quan đến văn hoá- học thuật, văn học Trung Quốc chiếm số lượng không nhỏ, dù mục đích chủ yếu của Nam Phong là tuyên truyền văn hoá thái Tây, chủ yếu là văn minh Pháp trong buổi văn hoá cổ truyền của Trung Quốc không còn đủ sức chống lại sự du nhập mới từ Phương Tây (Lời nói đầu NP số 1/7/1917). Hầu hết các bài viết trên Nam Phong đầu ít nhiều liên hệ đến văn hoá học thuật Trung Quốc dù bàn về giáo dục, quốc học, quốc văn, xã hội… Điểm nổi bật ở đây là tinh thần học thuật, là thái độ ứng xử đối với văn hoá Trung Hoa trong buổi “hỗn hiệp” văn hoá Đông Tây, xây dựng học thuật nước nhà. Điều đó cho thấy mối quan hệ văn hoá nói chung, văn học nói riêng, giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được đặt trên tầm quan hệ mới, phá vỡ mối quan hệ theo đặc trưng giao lưu Trung đại có từ ngàn năm. Ông Tuyết Huy bàn khá thấu đáo về việc cần học chữ Hán, “lựa những chữ Hán có thể dùng làm quốc văn”, “đón được cái mới vẫn tốt, giữ được cái cũ vẫn hay”, và “dịch được nhiều sách thì cái tinh hoa văn hoá vẫn còn” (Bàn về vấn đề học chữ Hán. NP số 24/6/1919). Nguyễn Bá Trác kêu gọi các nhà Tây học “lấy cái con mắt nhà Tây mà phán đoán, mà tả chân ra làm thành sách vở quốc ngữ truyền lại nghĩa lý Hán học cho người đời sau… Tôi chỉ trông rằng sau này sẽ có một ngày kia, học mới học cũ cùng chung đúc lại một lò, mà thành ra một nền văn học riêng củaViệt Nam ta” (Bàn về Hán học, NP số 40/10/1919).Ông Tùng Vân trong “Bàn về lịch sử nước Tàu” viết “Người Nam ta đối với lịch sử nước Tàu,chỉ nên chú ý về lịch sử văn hóamà thôi… xét trong lịch sử Khổng học, đời nào là đời Khổng học mờ tối, và Khổng học có ích cho xã hội thế nào, kẻ khảo về Đông phương học, thực cũng nên biết.” (NP số 80/2/1924). Khảo sách “Xuân Thu tả truyện”, Ông Nguyễn Trọng Thuật viết : “Cái mục đích của sự học vấn là phải lấy phép thực nghiệm mà xét tìm cho kỳ đến chốn chân lý có thể căn cứ được mới thôi” (NP số 127/3/1938). “Khảo về lối văn mới của người Tàu” , ông Nguyễn Tiến Lãng hy vọng “Tân thanh niên và tân học giả nước ta cũng có thể biết tường tận cái chân tướng về cuộc vận động cải tạo rất quan hệ cho văn học và cho cả xã hội Tàu ngày nay, phong trào ấy có nhiều vẻ đáng kể cho ta bắt chước” (NP số 210/12/1934 ). Về tinh thần dịch thuật, Ông Đồ Nam (Nguyễn Trọng Thuật ) viết : “Cái nền dân tộc học thuật đã phải bao hàm, lại phải lấy tiếng nói của dân tộc làm căn bản, thì sự phiên dịch là rất cần”, kể cả “những sách Tây đã dịch ra Hán ta cũng có thể chọn mà dịch lại được” (NP số 196/12/1933)… Tuy có tính chất không thuần nhất trong hàng ngũ các cây bút Nam Phong, nhưng có thể nói , trên đây cũng là tinh thần học thuật khá nhất quán đối với những người khảo dịch văn hoá phương Đông nói chung do yêu cầu khách quan, khoa học của phong trào gây dựng văn hoá- học thuật nước nhà.
3. Về phương diện học thuật, nhìn chung các cây bút Nam Phong chú ý nhiều hơn đến các vấn đề cổ học Trung Hoa và biên dịch nhiều hơn. Về khảo luận đáng chú ý có bài của Trần Trọng Kim về Nho giáo (NP 65,66/1922), Đạo giáo (NP số 67, 8, 74, 75/1923); của An Khê về Triết học Khổng giáo (NP số 83, 86/ 1923), học thuyết các môn đồ Khổng Tử (NP số 91,93/1924 ); các bài Bàn về học thuật nước Tàu (NP số 15/1918), bàn về Hán học (NP số 40/1920 )của Nguyễn Bá Trác… Nhân vật cận hiện đại Trung Quốc, Lương Khải Siêu, cũng được bàn đến, tác phẩm của Lương Khải Siêu cũng được dịch giới thiệu khá nhiều . Về biên dịch, đáng kể các bản dịch của Phạm Quỳnh như “ Khổng Phu Tử luận”, dịch của Edoward Charannes (NP số 13/1918 ), “Khổng giáo luận” của Hovelaque (NP số 50/1921 ), “Cái tư tưởng căn bản của Khổng Mạnh” của giả Nhật, Phục Bộ Vũ Chi Cát (NP số 85/1924 ), “Khảo về triết học nước Tàu” của Auroussean (NP số 87/1924 )v.v… Nhưng dịch giả quan trọng nhất giới thiệu học thuật Trung Hoa trên Nam Phong phải kể đến Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Ông có mặt trong 18 năm tồn tại của Nam Phong, chuyên về học thuật Đông Phương . Sự nghiệp dịch thuật của ông khá đồ sộ, cả cổ học Việt Nam lẫn Trung Hoa. Về học thuật Trung Hoa ông dịch đủ mọi lĩnh vực : triết học, xã hội học, văn học, lịch sử, phong tục … Về triết học, đáng kể là công trình dịch tác phẩm “Khảo về học thuật nước Tàu” của Lương Khải Siêu (NP từ số 163/1931 đến 187/1931); Khảo dịch “Mạnh tử quốc văn giải thích” (từ NP số 78/1923 đến số cuối) và “Luận ngữ quốc văn giải thích” (cùng với Nguyễn Đôn Phục ); về văn học, ông dịch các bài khảo về Khuất Nguyên, Đào Uyên Minh, Tô Đông Pha… và đáng kể là ông dịch bộ “Văn học sử nước Tàu” của Vương Mộng Tăng (NP 56 đến số 63/1922), và “Khảo về các lối văn Tàu” (không ghi xuất xứ. Từ NP số 72 đến 76/11923). Đây là hai công trình về văn học Trung Quốc được giới thiệu qui môn nhất từ trước đến đó ở Việt Nam, góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu văn học Trung Quốc một cách có hệ thống ở Việt Nam.
Ý nghĩa của việc của việc dịch thuật tác phẩm Trung Quốc của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến nói riêng, của Tạp chí Nam Phong nói chung, có thể mượn lời của Nguyễn Khắc Xuyên để khái quát: “Như các nhà khảo cứu đã nhận xét về Đông Châu: nếu với nền Pháp văn minh thịnh hành ở nước ta, người ta ít chú trọng đến những bài giới thiệu văn học thái Tây của Phạm Quỳnh thì nền Hán học suy vong, người ta càng cần đến những bài dịch khảo cứu về học thuật và tư tưởng nước Tàu. Phải chăng đó là khía cạnh có thể trường tồn được của Nguyễn Hữu Tiến?” (2).
Có thể nói, đến Tạp chí Nam Phong, nhiều vấn đề học thuật Trung Quốc cổ trung đại mới được trình bày một cách phong phú và khá có hệ thống, ở một mức độ nhất định, Nam Phong đã phát ra một cái nhìn có tính khái quát về học thuật Đông Phương trên tinh thần học thuật mới.
Các dịch giả Nam Phong còn ít chú ý những vấn đề học thuật Trung Quốc đương thời. Điều đó cũng dễ hiểu vì bấy giờ Trung Quốc cũng như Việt Nam, đang vận động xây dựng học thuật mới. Mặt khác, phần nào do cái nhìn chủ quan, hạn chế của không ít trí thức Nho học nước ta đương thời. Năm 1933, ông Lê Dư có nhắc đến Hồ Thích và cuộc vận động tân học, nhưng theo ông “sự đó ta đã làm trước nước Tàu ngót nghìn năm rồi” và ông không thể chịu được “lời thơ mới của Hồ Thích xướng ra, không vần không luật” (Nguồn gốc văn học nước nhà và nền văn học mới. NP 190/1933). Người đầu tiên giới thiệu văn mới của Trung Quốc là Nguyễn Tiến Lãng. Trong bài “Văn mới của người Tàu” (Nam Phong. 210/1934) ông ca ngợi Hồ Thích, Trần Độc Tú trong cuộc vận động tân văn học. Về thơ, ông nhắc đến thơ Từ Chi Ma “diễm lệ có đặc tính riêng”, thơ Quách Mạc Nhược “tư tưởng và trang nhã”. Về văn, ông giới thiệu Lỗ Tấn với tác phẩm “Đời Ahy”, nhắc đến Lão Xá, Mao Thuẩn, Đinh Linh… Ông viết: “Xem qua ta đủ thấy người Tàu biết nhận cái ảnh hưởng của thái Tây về hình thức cũng như về tinh thần. Đó cũng là một cái gương cho ta noi theo”.
Trên Nam Phong, khảo cứu chuyên về văn học chưa được dịch và giới thiệu nhiều; bài viết của tác giả Việt Nam về văn học Trung Quốc cũng rất ít. Văn mới Trung Quốc, thực ra phải đến 1945, với Đặng Thai Mai, nền “văn học mới” của Trung Quốc mới được chú ý đúng mức.
4. Tác phẩm văn học dịch cũng chủ yếu là văn học cổ Trung Quốc, trừ một vài truyện ngắn, tiểu thuyết. Có một tình hình chung, việc dịch các tác phẩm văn học phương Tây thường gắn với ý thức nhằm giới thiệu lối văn mới để người trong nước thưởng thức, học theo, và do đó, tác phẩm văn xuôi được giới thiệu nhiều hơn. Phạm Quỳnh dịch truyện ngắn của Georges D’Esparles trên NP số 2/1917 là nhằm giới thiệu “Truyện dịch sau này thuộc về lối “đoản thiên tiểu thuyết” (Comte, Nouvelle). Lối ấy cũng là một lối hay trong văn chương Tây, các nhà văn sĩ ta có thể bắt chước mà làm bằng tiếng Nôm. Vì lối tiểu thuyết dài thì hiện nay người nước ta còn chưa đủ tư cách mà khởi hành được”. Trong khi đó, việc dịch, việc thưởng thức giới thiệu tác phẩm văn học Trung Quốc hầu như gắn với văn chương Á Đông hơn. Nhiều dịch giả hầu như không quan tâm đến việc giới thiệu xuất xứ của tác phẩm dịch, cả về thơ lẫn văn xuôi, có trường hợp không ghi cả tên người dịch, gây khó khăn không ít cho người khảo cú.
- Về thơ, từ Nam Phong số 9/1918, với mục “Dịch thơ Đường”, Đông Châu phụ trách, thơ cổ Trung Quốc được sao lục hoặc dịch mới, xuất hiện khá đều trong mục “Văn uyển”, chỉ riêng thơ Đường đã có trên 300 bản dịch.
Phần sao lục, đáng kể có sao lục của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến- “Bản hội mới sao lục được một tập dịch Đường thơ, không biết của cụ nào. Mỗi kỳ đăng mấy bài in cả nguyên thi chữ Nho để các nhà đọc báo tiện xem” (NP số 9/1918), và sao lục của Lê Dư- “Nay tìm thấy được tập thơ Đường diễn nôm này chưa rõ là nguyên nhân ai diễn”. (NP số 175/1932). Sao lục của Đông Châu và của Lê Dư ngót 200 bản dịch thơ Đường lối thơ rất thoát.
Mục dịch thơ Đường thu hút nhiều dịch giả trong cả nước, nhưng chủ yếu là dịch giả miền Bắc, như Đàm Xuyên, Nguyễn Thế Nức, Trần Sở Kiều, Nguyễn Kiểm, Phạm Hùng Kỳ… đáng kể có Phạm Sỹ Vỹ dịch “Thiên gia thi”, 100 bài, in trên Nam Phong từ số 144/1929 đến số 149/1930, dịch theo nguyên thể, nhiều bài được chọn in trong nhiều tuyển thơ Đường về sau. Dịch giả quan trọng nhất dịch thơ cổ Trung Quốc trên Nam Phong là Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục với gần 100 bản dịch, từ thơ Nam Bắc triều đến Đường, Tống. Vẫn nhiều nhất là thơ Đường. Thơ dịch của ông khi rải rác, khi liền số, suốt từ 1922 đến 1934. Thơ dịch của ông thường có “Lời giải kiêm lời bình”, xuất xứ rõ ràng. Ông chú trọng đến việc dịch theo nguyên thể để “bảo tồn lấy thể cách”, nhưng thi thoảng cũng dịch theo thể thơ lục bát và dịch rất tài hoa như bản dịch “Quy khứ lại từ” của Đào Tiềm (NP số 53/1921). Nhiều bản dịch của ông được coi là mẫu mực và được chọn in trong hầu hết các tuyển thơ Đường. Xuân Diệu đã hết sức ca ngợi bản dịch “Dữ Chu Sơn Nhân” (Đỗ Phủ) của ông (NP số 76/1923).
Có thể nói Nam Phong là tạp chí dịch giới thiệu thơ cổ điển Trung Quốc nhiều nhất trong số báo, tạp chí từ trước đến nay và Nam Phong là tạp chí dấy lên phong trào dịch thơ cổ Trung Quốc rộng rãi nhất trong mấy mươi năm đầu thế kỷ. Thơ Đường trên Nam Phong được dịch ở nhiều thể khác nhau, từ nguyên thể đến song thất lục bát, lục bát và có cả thể nói như trường dịch của Tương Tiến Tửu của Lý Bạch (Không rõ dịch giả, NP số 161/1931). Rất nhiều trường hợp cùng một bài thơ được nhiều dịch giả tham gia dịch. Khảo sát các bản dịch này sẽ là điều thú vị và có ý nghĩa không nhỏ trong việc tìm hiểu lịch sử dịch thơ Trung Quốc ở Việt Nam.
Cổ văn Trung Quốc, so với thơ, không được dịch giới thiệu bao nhiêu, chủ yếu văn Chiến quốc sách, văn Tả truyện, văn đời Đường, Tống, của các dịch giả Hồng Nhân (Phạm Quỳnh), Đông Châu, Tùng Vân, Tuyết Huy, Mân Châu, Nguyễn Mạnh Bỗng, cuối bản dịch thường có lời bàn phụ ca ngợi “văn pháp” hoặc liên hệ hiện trạng xã hội để phê phán.
Tuy giới thiệu không vì mục đích văn học, nhưng về cổ văn Trung Quốc trên Nam Phong phải kể hai bộ phận quan trọng nhất là “Mạnh Tử
quốc văn giải thích” do Đông Châu Hữu Tiến khảo dịch in từ Nam Phong số 78/1923 cho đến số cuối (Từ số 126 có sự cộng tác của Nguyễn Đôn Thục), và bộ “khảo về sách Xuân Thi tả truyện” của Nguyễn Trọng Thuật. Đây cũng là hai công trình khảo dịch thể hiện rất rõ tinh thần khoa học của hai ông, văn dịch sáng rõ, gãy gọn, chú thích rõ ràng.
Trước Tạp chí Nam Phong, truyện Tàu được dịch ở Việt Nam khá nhiều, nhất là từ sau 1906. Nếu trên Đông Dương tạp chí xuất hiện Tam quốc (Phan Kế Bính dịch), Đông Châu liệt quốc (Đỗ Mục dịch) thì trên Nam Phong vắng bóng tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, ngược lại, lại có những tiểu thuyết đương thời của Trung Quốc như tiểu thuyết của Từ Trẩm Á gây xôn xao dư luận bấy giờ.
Truyện ngắn Trung Quốc được in rải rác trên Nam Phong từ số 5/1917 với bốn dịch giả: Nam Thạch Trịnh Xuân Nham, sáu truyện không ghi xuất xứ; của Ngọc Am Võ Liêm Sơn, bốn truyện không ghi xuất xứ; của Đông Châu, năm truyện dịch “Liễu Trai” và một truyện dịch của Từ Trẫm Á (Gương Tự Do); đặc biệt có Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, ông chọn dịch khá nhiều các chủ đề: “Đàn bà Đông Phương” (Từ NP số 101/1925 đến 154/1930). “Gương Đẹp đàn bà” (Từ NP số 189/1923 đến 192/1934). Đây thực sự là 4 tập truyện ngắn của Trung Quốc với gần 100 truyện, dù Tùng Vân chủ về tính cách đạo đức nhiều hơn.
Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục cũng là người dịch nhiều tiểu thuyết. Ông dịch 4 trong số 5 tiểu thuyết dịch trên Nam Phong: “Tây Thi diễm sử” (không ghi xuất xứ, NP từ số 115 đến 117/1927), “Chồng tôi” của Từ Trẩm Á (từ NP số 119/1927 đến 130/1928), “Nhất nộ vị hồng nhan” (Không ghi xuất xứ, NP từ 131/1928 đến 140/1929) và “Quý Phi Diễm Sử” (NP từ số 155/1930 đến 158/1931). Về tiểu thuyết “Chồng tôi”. Trúc Hà có phê bình: “Tuy dùng nhiều chữ Tàu, mà cũng nhờ dùng một cách tài tình nên câu văn lại thanh thoát gọn gàng, mạch văn thi khi mau khi chậm… Có khi đọc xong dư âm như còn chưa dứt. Xét về phương diện văn chương, thì thật là có giá trị. Nhưng lối văn để riêng cho một hạng người đọc mà thôi” (Khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối tiểu thuyết – NP số 174/1932). Đó cũng là cái được và chưa được của các dịch giả “truyện Tàu” trên Nam Phong nói chung.
Tiểu thuyết dịch có tiếng vang đương thời là “Tuyết Hồng lệ sử” của Từ Trẩm Á, được ghi rõ là “Chung tình tiểu thuyết”, “Ái tình tiểu thuyết” được dịch trên Nam Phong từ số 77/1923 đến 84/1923, trên 60 trang. Các số Nam Phong sau lại in “Bổ Truyện Tuyết Hồng Lệ Sử” và nhiều bài tựa của độc giả Trung Quốc (Dịch) và độc giả Việt Nam. Có lẽ lường trước sự “bất thường” nên người dịch chỉ ký M.K và người sao lục phải có “Lời chua riêng”, rào trước đón sau, và: “Tuyết Hồng lệ sử là một truyện rất mới cách nay mới độ 15 năm, là một sự nên xem. Nhân vật truyện ấy lại là một người học mới buổi này, lại càng nên xem lắm. Tuy rằng đối với bổn phận của người trong truyện chưa chắc đã hợp với đạo lý, nhưng mà văn hay nên cũng là cái tiểu thuyết có giá trị”.
“Tuyết Hồng lệ sử” do Mai Khê Đoàn Tư Thuật dịch. Truyện viết theo thể nhật ký, phần lớn truyện là thư từ giữa Mộng Hà và Lệ Aûnh, lời văn bóng bẩy, chuyện tình sướt mướt cảm động, đọc không thể không liên tưởng đến “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách. “Bàn về truyện Tuyết Hồng lệ sử (1925) (NP số 99/1925) Minh Phương Nguyễn Như Cường viết: “Than Oâi! Lệ Aûnh chết rồi, Quân Thiếu chết rồi, Mộng Hà cũng chết rồi, Từ Trẩm Á còn làm sống lại nữa mà chi?” đủ thấy “truyện ái tình” đã thổi làn gió mới vào văn đàn Việt Nam, như là bước chuẩn bị cho “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách xuất hiện hai năm sau đó. Trúc Hà viết: “Kể trong các tiểu thuyết dịch của Tàu, quyển “Tuyết Hồng lệ sử” của ông Đoàn Tư Thuật là đặc sắc lắm… Quyển “Tuyết Hồng lệ sử” sở dĩ bị công kích là bởi lời văn hay, khiến cho người xem đọc dễ mê mẫn mà về sau các nhà dịch truyện Tàu xem chừng ảnh hưởng ở đó nhiều” và cùng một thứ văn chương mĩ lệ, hai quyển ấy (Tuyết Hồng và Tố Tâm- Người viết), bởi vậy cũng chịu chung một số mạng. Nhưng cũng nhờ cái số không may đó, cái số bị công kích đó, mà khiến người ta biết nhiều, đọc nhiều, mê nhiều” (Trúc Hà, bài đã dẫn).
Trong số truyện dịch, còn có một truyện đáng chú ý nhưng xưa nay chưa được nghe nói đến- truyện “Hổ cái già” (Nhật ký sợ vợ) in trên Nam Phong từ số 124/1927 đến 128/1928, ngót 50 trang in, do Lạc Khổ dịch, không ghi rõ xuất xứ, chỉ biết “Đây là sổ chép hàng ngày của chàng Long Khâu Sinh chép cái nông nỗi lấy phải vợ là người Tây học không tinh, hiểu lầm hai chữ tự do, không biết cái tinh thần tự do mà tự do xằng, tự do láo, làm tan nát cả cái gia đình của chàng, ông Nhiêm ông nhặt được ở trong đống sách nát đem về san nhuận và phê bình câu thú vị để làm gương cho đời soi chung… Dịch giả thấy truyện cũng lâm ly, mà văn lại ly kỳ, nên lược dịch ra đây” (Lời dịch giải). Truyện viết theo thể Nhật ký gồm 20 mục, mỗi mục có tiêu đề riêng, ghi sự việc xảy ra trong một năm. Văn viết theo lối hoạt kê, rất sinh động, nhưng đậm chất bi hài. Chúng tôi cũng chưa tra cứu được truyện này, chỉ ghi tham khảo.
Qua truyện Trung Quốc dịch nói riêng, truyện trên Nam Phong nói chung, chúng tôi thấy các nhà văn, dịch giả đương thời còn rất bỡ ngỡ trước khái niệm tiểu thuyết. Có khi được ghi là “Dịch tiểu thuyết Tàu” nhưng truyện lại rất ngắn, chỉ hai trang Nam Phong; có khi được ghi “Đoản thiên tiểu thuyết”.
Trên Tạp chí Nam Phong cũng đã xuất hiện ý kiến phê bình việc dịch truyện Tàu, có người đề nghị “nếu dịch tiểu thuyết thì nên dịch tiểu thuyết Tây (Trúc Hà, bài đãdẫn). Tuy vậy, việc dịch truyện Tàu trên Nam có ý nghĩa nhất định trong việc giới thiệu văn học Trung Quốc và rèn luyện câu văn Quốc Ngữ của buổi đầu nền văn học mới.
5. Từ cuối thế kỷ XIX, rõ hơn là từ đầu thế kỷ XX, quan hệ ảnh hưởng giữa văn học Trung Quốc đối với văn học Việt Nam là quan hệ kép- “Là một hiện tượng văn học nước ngoài, văn học Trung Quốc ảnh hưởng tới văn học Việt Nam như mọi văn học nước khác. Đồng thời văn học Trung Quốc đã ảnh hưởng đến văn học Việt Nam như một yếu tố nội tại, tiềm ẩn trong truyền thống văn hoá Việt Nam” (Trần Đình Sử) (3). Khảo sát việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ là cơ sở của việc tìm hiểu ảnh hưởng kép đó. Chỉ riêng Đường thi, nhiều người đã nói đến ảnh hưởng sâu đậm của thơ Đường trong thơ Mới, phải chăng việc dịch giới thiệu thơ Đường trước đó đã góp phần không nhỏ đối với ảnh hưởng trên?
Trên đây tuy chỉ là những nét khái quát nhưng chúng tôi hy vọng đó là bức tranh chung về tình hình nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc trên Tạp chí Nam Phong, góp phần hình dung một mảng không nhỏ trong cuộc vận hành của tiến trình văn học đầu thế kỷ này.
CHÚ THÍCH
(1) Thiếu Sơn, Phê bình và Cảo luận. Nhà xuất bản Nam Ký Hà Nội, 1993, trang 27.
(2) L.M Nguyễn Khắc Xuyên, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 Bộ văn hoá giáo dục 1968, trang 16.
(3) Trần Đình Sử, Ý nghĩa lịch sử của văn học Trung Quốc trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, Nghiên cứu nghệ thuật số 9/1994.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Nam Phong Tạp Chí, 210 số, từ 1917 đến 1934, Hà Nội.
2. THIẾU SƠN, Phê bình và Cảo Luận, NXB Nam Ký Hà Nội, 1993.
3. NGUYỄN ĐỔNG CHI, Việt Nam Cổ Văn Học Sử, Tủ sách Văn Học, SG, 1970 (Tái bản).
4. DƯƠNG QUẢNG HÀM, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu SG, 1968 (Tái bản).
5. NGUYỄN KHẮC XUYÊN, Mục Lục Phân Tích Tạp Chí Nam Phong, Bộ Văn Hoá Giáo Dục, SG, 1968.
6. HUỲNH VĂN TÒNG, Lịch sử báo chí Việt Nam, Trí Đăng, SG, 1974.
7. DỊCH QUÂN TẢ, Lịch sử văn học Trung Quốc, Huỳnh Minh Đức dịch, NXB Trẻ 1992 (Tái bản).

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Pham Van Khoai (IP Logged)
Date: November 29, 2007 08:06AM
Tôi xin tham dự phiên dịch một số bài trong phần chữ Hán của Nam Phong.
Xin gửi tài liệu cho tôi theo địa chỉ email: pvkhoai@gmail.com
Xin chúc Dự án thành công.
Kính.

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Nguyễn Hưu Tưởng (IP Logged)
Date: December 06, 2007 08:26PM
Tôi xin trở lại diễn đàn. Nhưng vì có ít thông tin quá nên mong ban dự án gửi cho danh sách những bài chưa dịch hay chưa có ai đăng ký dịch để tránh dịch trùng.

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: bac le (IP Logged)
Date: December 07, 2007 12:00AM
Cảm ơn các bác đã tình nguyện phiên dịch, sẽ có người gửi email riêng tới các bác. Xin cảm ơn lần nữa.

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Le Trung Hien (IP Logged)
Date: January 24, 2008 02:48AM
Qui Bac toa san than men,

Khi chau doc duoc du an nay cua toa san thi lay lam hanh phuc va hoi hop, vi chau mong duoc tim hieu them ve Van HOa va Lich su cua dat nuoc Viet Nam. Du An Nam Phong Tap-Chi la mot chia khoa va la mot qua tang tinh than qui gia cho the sau khi tim ve coi nguon. Chau mong du an Nam Phong Tap Chi khong phai la du dau tien va du an cuoi cung.

Chau rat mong nhan duoc dia DVD cua du an Nam Phong Tap Chi khi tat ca duoc hoan tat. Xin chuc cac Bac toa san duoc nhieu suc khoe va thanh cong tot dep.

xin Chao

Hien

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Mai Phung (IP Logged)
Date: August 19, 2008 01:11PM
Xin cho toi biet bao gio du an Nam-Phong xong, toi rat mong duoc co DVD nay. Da qua lau toi mong cho.

Mai Phung

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: banghnk52 (IP Logged)
Date: June 26, 2010 09:26AM
Thưa các bậc tiền bối. Cháu đang cần thông tin về bài Kiếm hồ ký của Phương Đình, Nguyễn Văn Siêu(hoàn cảnh sáng tác, năm sáng tác, được in vào số nào của Nam Phong tạp chí, năm nào). Thỉnh cầu các bậc tiền bối giúp đỡ!

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: DoiHanh (IP Logged)
Date: July 09, 2010 03:06PM
Có ai biết thư viện nào ở Mĩ có bộ ĐV này không? Tôi đọc lời giới thiệu trên trang nhà của Viện Việt học có nói là nhiều thư viện ở Mĩ có mua rồi.
Ai biết cho xin thông tin. Xin cảm tạ.

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: kt (IP Logged)
Date: July 18, 2010 08:13AM
Bạn thử tìm trong bản dịch Phương Đình văn loại của dịch giả Trần Lê Sáng xem. Hình như bài Kiếm hồ ký có trong đó.

Re: Dự Án Nam-Phong Tạp-Chí
Posted by: Mai Châu Hoa (IP Logged)
Date: August 10, 2013 10:44PM
Tap Chí Tri Tân số 1 tháng 6/1941 6,82 Mb (scan/pdf)
[www.rapidshare.com]

Tap Chí Tri Tân số 2 tháng 6/1941 6,82 Mb (scan/pdf)
[www.rapidshare.com]

Chữ Nôm (Nguồn gốc, Cấu tạo, Diễn biến) - Đào Duy Anh, 219 Trang 26,48 Mb (scan/pdf)
[www.rapidshare.com]

Chữ Nho Tự Học (sách xưa) 19,4 MB, (scan/pdf)
[www.rapidshare.com]

Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Thừa Thiên Huế 46,6 Mb (scan/pdf)
[www.rapidshare.com]

Cái Dũng Của Thánh Nhân (sách xưa) 86 Mb (scan/pdf)
[www.rapidshare.com]

Goto Page: Previous12
Current Page: 2 of 2


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity