Hán Việt :  Diễn Đàn Viện Việt Học
Diễn đàn thảo luận về các đề tài của chữ Hán Việt. 
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: Previous123Next
Current Page: 2 of 3
Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: Dương Ngọc Hà (---)
Date: January 24, 2008 06:26AM
Với số lượng trên hy vọng bạn đã đáp ứng nguyện vọng của bạn. Nếu bạn không ở Việt Nam thì tôi có thể mua sách cho bạn. Nếu bạn có nhu cầu thì mail riêng cho tôi. Thế nhé

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: khucthan (---.fbx.proxad.net)
Date: January 24, 2008 02:40PM
Xin Bác Ngọc Hà cho biết thêm về những câu đối đó. Không biết có phải tất cả đều được rút ra từ sách:

3000 hoành phi câu đối Hán Nôm/5000 hoành phi câu đối Hán Nôm

do Trần Lê Sáng (chủ biên) không?

Xin cám ơn Bác hồi âm.

Kính

Khúc Thần

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: h (---.dc.dc.cox.net)
Date: January 24, 2008 04:32PM
[www.szhua.com]

[zhidao.baidu.com]

v.v............

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: Dương Ngọc Hà (58.187.85.---)
Date: January 27, 2008 10:59PM
Thưa bác !
Các câu dối trên quả thực rút từ cuốn 5000 hoành phi câu đốiHán Nôm, trong đó cũng gồm khá nhiều câu đối nôm nữa,do Trần Lê Sáng chủ biên, bộ 3000 là lần xuất bản trước. Cuốn 5000 có bổ sung.

Dĩ nhiên tuy đây khá đồ sộ tổng hợp được nhiều câu đối hoành phi, song các bản dịch chỉ có tính chất tham khảo vì câu đối chữ Hán mà dịch Nôm thì không thể trọn nghĩa, vì vậy cũng cần xem xét về mặt nghĩa của chữ Hán trong câu.
Mặt khác tuy rằng các câu được thu thập nhiều câu đối. Rất nhiều câu có tác giả song người viết sách chưa phụ chú khiến người đọc phải tìm hiểu thêm và các câu sưu tập ở đình đền chùa miếu cũng vậy, không ghi rõ xuất xứ địa danh.
Tôi cũng đã thấy các câu trong đền Ngọc Sơn, đền thờ Trần Hưng Đạo, đền Hùng cũng có nhưng sách chỉ nêu ra, trong quá trinh đọc cần phụ chú thêm

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: Dương Ngọc Hà (58.187.85.---)
Date: January 27, 2008 11:05PM
Hiện nay tôi đang có mấy câu đối sưu tầm ở địa phương mà ngày trước tôi ở, đây là những câu đối trong đình đền, tư gia .
Tiện đây tôi cũng muốn đưa lên để các bác cùng xem cho vui tiện thể cũng muốn bàn thêm nghĩa một số câu, tôi rất hy vọng forum này sẽ còn dài dài , rất mong sự quan tâm của các bác

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: khucthan (---.fbx.proxad.net)
Date: January 28, 2008 12:31PM
Xin chân thành cám ơn Bác Ngọc Hà đã đính lên diễn đàn các câu đối đó và trả lời thắc mắc của tui.

Thực ra thì tui thấy tiếc cho việc bỏ qua xuất xứ của các câu đối. Nhưng biết sao, điều kiện có lẽ đã khg cho phép, hoặc đó là chủ trương của các tác giả. Còn các điển tích nằm sau rất nhiều câu đối nữa. Còn địa danh, v.v... và v.v...

Xin chúc Bác thành công trong mọi sự.

Kinh

Khúc Thần

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: nguyencungthong (203.162.3.---)
Date: January 31, 2008 03:32AM
Các bác kính
Ngoài cuốn của tác gia Trần Lê Sáng (2002) còn các cuốn khác như "282 câu đối" của Nam Anh sưu tập (Nhà Sách Quang Minh,2007), "Câu đối Việt Nam" Phong Châu (NXB Văn Học, 2008) và "Câu đối trong văn hoá Việt Nam" của Nguyễn Hoàng Huy (NXB Tổng Hợp TP HCM, 2004) ...v.v... đang có trong các nhà sách ở SaiGon. Tuy nhiên phải cẩn thận với các sách này - như cuốn thứ ba tôi dẫn - tôi có đọc sơ qua và thấy vài lỗi căn bản như trong trang 137 phần 2 (Câu đối chiết tự) thuật lại chuyện thân sĩ Tàu đố Mạc Đỉnh Chi câu 'An khứ nữ , dĩ thỉ vi gia' (chữ an bỏ chữ nữ, thay vào chữ thỉ thì thành chữ gia) ; Cụ Trạng đáp lại 'Tù xuất nhân , nhập vương thành quốc ' (chữ tù lấy chữ nhân ra, cho chữ vương vào thành chữ quốc ' . Các chữ Hán in trong sách chữ thỉ viết là thuỷ (nước) và quốc viết là bộ vi + chữ qua (tượng hình,chữ này thường gặp). Đây là các lỗi thường gặp (thỉ viết là thuỷ /nước) và chữ QUỐC có ít nhất 16 cách viết (từ giáp cốt văn, kim văn ... giản thể )(A). Thân gởi các bạn trên diễn đàn - cập nhật từ SaiGon, sẽ viết thêm nhiều chi tiết hơn khi về lại Úc.

(A) Các cách viết chữ QUỐC là khung cửa hé mở cho thấy khái niệm (thành lập) quốc gia (tập quyền) của Hán tộc : từ chữ qua tượng hình (giáo mác bảo vệ đất đai), bộ vi (giới hạn lãnh thổ), có người trong nước (có chữ nhân trong bộ vi) , có dân sinh sống (có chữ dân trong bộ vi), có vua lãnh đạo (có chữ vương trong bộ vi - trường hợp của câu đối đề cập bên trên), có đất đai (chữ thổ trong bộ vi), có sông ngòi (chữ xuyên trong bộ vi), có diện tích đất đai (có chữ phương trong bộ vi) .... nước nhà quý báo (có chữ ngọc trong bộ vi - đây là trường hợp chữ giản thể mà lại thêm một gạch vào chữ vương - cho thấy ảnh hưởng chính trị từ thời Mao Trạch Đông cố ý xoá bỏ khái niệm quân chủ qua chữ vương)...v.v... So sánh với chữ nước (cụ thể > trừu tượng ) trong tiếng Việt phản ánh khái niệm phân quyền địa phương.

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: Dương Ngọc Hà (---.fpt.vn)
Date: January 31, 2008 06:14PM
Nhân đây tôi cũng có một số câu đối Nôm. Nhẽ ra thì nên để mục chữ Nôm thì hợp lý hơn nhưng bởi lẽ chữ Nôm tôi không rành và bàn gõ Nôm của tôi trục trặc . Nếu bác nào có thời gian thì xin gõ lại bằng chữ Nôm cho.
Hơn nữa ban đầu bạn Phương Mai có hỏi câu đối hán và việt nên tôi cũng để đây để bạn tiện theo dõi:

Các câu đối chữ Nôm thường có tác giả cụ thể và giai thoại đi kèm nếu có trao đổi vè câu nào xin các bác cho ý kiến.
Vũ lược luyện hùng binh, Lục Thủy nghìn thu ghi sử Việt

Văn tài mưu thượng tướng, Bạch Đằng một trận thắng quân Nguyên.



2. Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Thao, non nước vẫn quay về đất Tổ

Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ mộ ông.



3. Mười mấy khoa còn gì, nhờ trời có phúc phận.

Năm mươi tuổi thành tài, mừng ông càng dẻo càng dai.



4. Lúa tám gặt, chín tháng tư

Nồi tư mua quan năm sáu.

(chơi chữ)



5. Tối ba mươi, khép cánh càn khôn ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới

Sáng mùng một, lỏng theo tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân về

(câu đối tết).



6.Đất chẳng phải chồng, đem gửi thịt xương sao đặng

Trời mà chết vợ, thử xem gan ruột mần răng

(câu đối khóc vợ)



7. Trước cũng tưởng Tấn Tần một nhà, vậy phận bạc phải nhờ đất khách

Nào có biết Bắc nam đôi ngả, đem gánh vàng đi đổ sông Ngô.



8. Giàu có thiếu chi tiền, đem một vài quan không phải nghĩa.

Sang không thì cũng bạc, kiếm năm ba chữ gọi là tình.



9. Cửa trai thiền nương tựa chửa bao lâu, dịp dàng như sư dạy, kinh kệ sư rèn, hương thắp đèn khêu khấn nguyện những mong sư mạnh khỏe.

Đường xa tịnh độ xa khơi nên phút chốc, chuông trống vãi khua, chùa chiền vãi quét, hoa dâng quả cúng, sớm khuya nỡ để vãi chơ vơ.



10.Trên có cây hoa dưới cây có hoa ông vinh hoa tôi thám hoa, Thư viết: Trùng Hoa thử chi vị dã

Ngoài sân có đỗ, trong nhà có đỗ, ngươi muốn đỗ, ta cho đỗ, Thi viết: Để Đỗ bất kỳ nhiên hồ.



11. Đã chót nhúng tay, xâu đều còn hơn tốt lỏi.

Quý hồ thuận mắt, thắm lắm lại phai nhiều.

(Vịnh nghề nhuộm).



12. Cô lô cô lốc, ốc….

Nhẩy lên nhẩy xuống, ong…..

(Trạng Quỳnh vịnh đồng cô)



13. Bán hàng chiều khách, khách nhớ nhà hàng, nhà hàng không nhớ khách.

Họp chợ lấy người, người làm nên của, của chẳng làm nên người.



14.Thiếp vì lòng trắng không thay hạt

Khách muốn môi son phải mượn trầu.

(Tú Xương vịnh cô hàng cau)



15.Giang sơn tóm lại đôi sân khấu

Văn vũ đem ra một khúc cầm.

(Cụ nghè Nguyễn Quý Tân tặng cụ thượng Nguyễn Công Trứ)



16.Mở khép càn khôn có ra tay mới biết

Ra vào tướng tướng thử liếc coi.

(Nguyễn Hữu Chỉnh).



17.Gió tựa tường ngang lưng gió phẳng

Trăng nhòm cửa sổ mắt trăng vuông.



18. Đất e biển cạn bù thêm nước.

Núi sợ trời nghiêng đỡ lấy mây.



19. Một và tuần chén trắng lấy làm vui thuở trước có thờ chi thánh rượu;

Ba mươi sáu tàn vàng cùng vậy, về sau không lễ giáng thần cơm.

( Phạm Thái tự vịnh).



20.Nước trong leo lẻo cá đớp cá.

Trời nắng chang chang người trói người.

(Minh Mạng – Cao Bá Quát)



21.Đọc ba trăm sáu mươi quyển kinh, chẳng thần thánh phật tiên nhưng khác tục

Hay tám vạn ngàn tư mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người.

(Nguyễn Công Trứ).



22.Gió quyến ngọn cây, cây quyến gió.

Trăng lồng đáy nước, nước lồng trăng.



23.Giơ tay với thử trời cao thấp

Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài.

(Hồ Xuân Hương ngã tự vịnh).



24.Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi.

(Nguyễn Gia Thiều vịnh góa phụ)



25.Trạng nguyên tám tuổi thơm người Việt

Sứ sự mười năm khét đất Ngô.



26.Được thì vơ, thua thì chạy, ghét chứng anh hùng rơm

Ăn lấy thủa, ở lấy thì, coi như rác.

(Vịnh đánh bạc)



27.Một chiếc cùm lim chân có đế.

Ba vòng xích sắt bước thì vương.

(Cao Bá Quát tự vịnh trong ngục)



28.Nghển cổ cò, trông bảng không tên trời đất hỡi văn chương xuống biển.

Lủi đầu cuốc, về nhà gọi vợ mẹ đĩ ơi tiền gạo lên trời.



30.In như mộc thảo trời Nam lại

Đem cả sơn hà đất bắc sang.





32. ra tay cầm cán sôi trong nước

Ngậm khói phum mây sạch bụi trần

(Cao Bá Quát vịnh điếu cày)



33.Nếp giầu quan thói kình cơi, con cháu nương nhờ vì ấm

Việc nước ra tay chuyển bát, bắc nam đâu đấy lại hàng.

(Câu đối vua Lê Thánh Tông vịnh hàng nước.)



34. Có tật giật mình cứu bệnh như cứu hỏa.

Đứt tay hay thuốc, làm phúc như làm giàu.



35. Cái cò lặn lội bờ sông, rủ rỉ nuôi con mà hóa thực

Gối phượng ngậm ngùi dưới suối bâng khuâng duyên chị lại từ đây.



36. Trói chan kỳ ký tra vào rọ

Rút ruột tang bồng trả nợ cơm,



37. Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông tây nam bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác

Trời đất nhẻ! Gắng một phan này nữa, xếp cung kiếm cần thư vào một gánh làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh.



38.Chữ nghĩa mớm dần con trẻ hết

Râu ria đâm mãi cái dài ra.



39.Đất dân chùa làng, phong cảnh phật.

Người đời của thế nước non tiên.



40.Hoa quả lòng thành dâng cúng phật

Đèn hương cung phụng kính gia tiên.





41.Không dưng xuân đến chi nhà tớ.

Có lẽ trời nào đóng cửa ai.



42.

Kiếm một cơi trầu thưa với cụ.

Xin đôi câu đối để thờ ông.

(Nguyễn Khuyến)



43.Tứ thời bát tiết canh chung thủy.

Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang.

(Nguyễn Khuyến)/



44.Kính thành hai chữ lễ

Trung hiếu một lòng thờ.



45.Phẩm quả cúng giàng nghênh phật tổ.

Hương hoa thành kính hiến thiên tiên..



46. Già trẻ gần xa nương bóng phật

Tuần rằm hoa quả độ sinh linh.



47.Chi thiết tu đạo muôn đời phúc

Thành tâm niệm phật vạn niên khang.



48.Cửa rộng theeng thang người qua lại.

Đường đi thẳng tắp khách ra vào.



49. Đất nước chùa làng phong cảnh phật.

Của đời người thế nước non tiên



50. Bốn trụ bốn nghê cười cười cái kẻ tranh thịt tranh xôi mà chẳng biết tranh đua cùng thế giới

Hai đầu long cuốn, cuốn những ai cuốn nước cuốn mây rồi mai đây cuốn sạch lũ bồi Tây.



51.Học trò Phú Khê ăn cơm cháy

Quan huyện thư trì uống nước ao.





52. Con rể nết na xem tử tế

Ông chồng cay đắng kể công phu.



53. Phu là chồng, phụ là vợ, vì chồng vợ phải đi phu

Ngã là ta, nhĩ là mày, vì mày nên ta hóa ngã.



54. mặc áo giáp, giải cài chữ đinh,mậu kỉ canh, khoe mình rằng quý.

Làm đĩ càn, tai đeo hạt khảm, tốn ly đoài, nói khéo rằng khôn.

(Hồ Xuân Hương- Chiêu Hổ).



55. Chuồng gà kê áp chuồng vịt

Cá diếc tức phường cá mè.



56.Lộc là hươu, hươu đi lộc cộc.

Ngư là cá, cá lội ngắc ngư.



57.Ông Thông đến gốc cây đề, ông Thông không đi là ông Thông lại.

Cụ Tú đi qua cửa cống, cụ tú nhảy được ấy cụ tú tài.

(Câu này chơi chữ khá hay).



58. Quân tử cố cùng, quân tử cùng, quân tử cố

Khổng Minh cầm túng, khổng minh túng, khổng Minh cầm.



59.Đi đất thịt đường trơn như mỡ

Ngồi gốc da gió mát tận xương.



60.Vợ cả, vợ hai đều vợ cả

Quan thừa quan thiếu, thiếu quan sao gọi là thừa.



61. Nhất sĩ nhì nông hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.

Trên sư dưới vãi, ngoảnh lưng lại trên vãi dưới sư.



62.Kiến đậu cành Mơ bò cuống quýt

Ngựa về đường Bưởi chạy lanh chanh.

(Mơ, bưởi là những địa danh ở hà nội có sử dụng chơi chữ: Mơ- quýt; Bưởi -chanh)



63.Phên đan mắt cáo mèo chui lọt

Nghé lội ao sen ngó nổi lên.



64.Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng

Con có cha như nhà không nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.



65.Khúc hát Tầm dương, gặp gỡ chan hòa người bốn biển

Cung đàn Thúy dịch. Đi về dan díu nợ ba sinh



66.Trời đất cũng đa tình xui bác xuân công, cứ phố yên hoa đi lại mãi.

Phấn son càng tủi phận, hỏi ông nguyệt lão, cùng phường khăn yếm ghét ghen chi



67.Khi khép tối om om quân tử tò mò nhìn chăng thấy

Lúc mở ra toang hoác, anh hùng tấp tỉnh đứng coi.

(Hồ Xuân Hương)



68. Kê là gà, gà ăn kê

Ấu là trẻ, trẻ ăn ấu.



69.

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: kt (58.187.178.---)
Date: February 01, 2008 08:37PM
"...(A) Các cách viết chữ QUỐC là khung cửa hé mở cho thấy khái niệm (thành lập) quốc gia (tập quyền) của Hán tộc : từ chữ qua tượng hình (giáo mác bảo vệ đất đai), bộ vi (giới hạn lãnh thổ), có người trong nước (có chữ nhân trong bộ vi) , có dân sinh sống (có chữ dân trong bộ vi), có vua lãnh đạo (có chữ vương trong bộ vi - trường hợp của câu đối đề cập bên trên), có đất đai (chữ thổ trong bộ vi), có sông ngòi (chữ xuyên trong bộ vi), có diện tích đất đai (có chữ phương trong bộ vi) .... nước nhà quý báo (có chữ ngọc trong bộ vi - đây là trường hợp chữ giản thể mà lại thêm một gạch vào chữ vương - cho thấy ảnh hưởng chính trị từ thời Mao Trạch Đông cố ý xoá bỏ khái niệm quân chủ qua chữ vương)...v.v... So sánh với chữ nước (cụ thể > trừu tượng ) trong tiếng Việt phản ánh khái niệm phân quyền địa phương."

Bác Nguyễn Cung Thông.
Bác viết đoạn này hơi tối nghĩa.

Chũ quốc có chữ vương hay ngọc trong bộ vi thì tổ tiên ông Mao đã viết rồi. Các nhà nho Việt Nam xưa cũng viết vậy (Chữ quốc viết thảo là chữ vương với hai chấm hai bên thay cho bộ vi)

Chữ quốc có chữ hoặc trong bộ vi có học giả Trung Quốc giải thích: Hoặc chính là chữ vực (thổ cộng hoặc), thời cổ hoặc vực đồng dụng. Chắc bác cũng thấy mối liên hệ ngữ âm hoặc/vực. Chữ quốc này nói rõ quốc nghĩa là một khu vực có thành vây quanh, điều này trùng với khái niệm thành quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc. Mất thành nghĩa là mất nước (quốc). (Đọc đã lâu nên chỉ nhớ láng máng, hình như là trong "Trung Quốc tư tưởng sử" của Hồ Phong hay Phùng Hữu Lan?)
Vài dòng góp vui.

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: kt (58.187.178.---)
Date: February 02, 2008 06:48AM
60.Vợ cả, vợ hai đều vợ cả. (Chắc bác gõ nhầm: vợ cả vợ hai, hai vợ đều là vợ cả)
Quan thừa quan thiếu, thiếu quan sao gọi là thừa.


Thêm một câu giai thoại của Phạm Thái:
Dầu vương ra đế
Ỉa vãi vào sư

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: nguyencungthong (203.162.3.---)
Date: February 03, 2008 06:45PM
Quên nữa - vừa được bác Trần Lê Sáng tặng cuốn "5000 hoành phi câu đối Hán Nôm" NXB Văn Hoá Thông Tin (in năm 2006 - cập nhật từ 3000 câu đối năm in năm 2002). Thông tin/thân gởi cho các bác trên diễn đàn

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: thachtiensinh (203.162.128.---)
Date: March 13, 2008 07:13PM
Các bác cho em hỏi, tác giả của đôi câu đối này là ai nhỉ? tkx!
志 氣 壯 山 河 救 國 英 雄 惟 有 壹
明 星 光 宇 宙 亞 區 豪 傑 是 無 雙

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: kt (58.187.182.---)
Date: March 14, 2008 01:59AM
Theo tôi được nghe nói, câu này là của ông Mao Trạch Đông gửi viếng ông Hồ Chí Minh năm 1969.

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: bùi phú thịnh (---.fpt.vn)
Date: March 30, 2008 07:18PM
cháu chào bác. bác cho cháu hỏi xem nên để 2 câu đối như thế nào đối với bức hoành phi "sơn nam vọng tộc" đó là 4 chử vua LÊ HIỂN TÔNG phong cho dòng họ bùi.
chau mong bác hồi âm
chau cam ơn bác

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: kt (58.187.180.---)
Date: April 02, 2008 06:10PM
Bạn bùi phú thịnh.
Bạn hỏi thế hơi không rõ. Câu đối chung chung treo nhà thờ họ thì nhiều. Câu đối chỉ riêng nhà thờ bạn thì phải sáng tác.

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: nguyễn xuân tài (58.186.215.---)
Date: February 23, 2009 07:49PM
bác có thể cho em 1 câu đối hán việt mà liên quan đến 2 chữ việt nam được không,còn không thì liên quan đến 2 chữ việt nam cũng được...thanks

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: doancongke (123.19.12.---)
Date: April 14, 2009 01:08AM
Tôi cần 4 câu đối để ghi trước cổng vào nhà thờ cha mẹ, ông bà xin các bác co giùm cả tiếng việt và hán nôm

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: thu Ca (---.dsl.irvnca.pacbell.net)
Date: April 14, 2009 08:15AM
xin hỏi các ban co biết ở đâu có ban sach cho câu đối
Xin cam ơn.
Trà My

Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: thu Ca (---.dsl.irvnca.pacbell.net)
Date: April 14, 2009 08:16AM
Quote:
thu Ca
xin hỏi các ban co biết ở đâu có ban
sach cho câu đối
Xin cam ơn.


Re: Câu đối Hán-Việt
Posted by: ha (---)
Date: May 12, 2009 07:23AM
cháu có 1 câu đối rất mong các bác giải nghĩa và tim vế đối lại giúp cháu . cháu không được học và chưa đọc nhiều sách về câu đối hán việt
câu đó là: Thất
Lục
Hùng
Phi
cháu rất mong sự hồi âm của các bác. cháu xin cảm ơn!

Goto Page: Previous123Next
Current Page: 2 of 3


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity