Nôm :  Diễn Đàn Viện Việt Học
Diễn đàn thảo luận về các đề tài chữ Nôm. 
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: 12345678910Next
Current Page: 1 of 10
"Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 05, 2007 08:45AM
Tạp chí Hán Nôm 3/2000
PHÁT HIỆN THÊM MỘT SỐ CÁCH PHIÊN ÂM KHÁC VỀ HAI CHỮ “SONG NHẬT”
NGÔ ĐĂNG LỢI


Hai chữ song nhật xuất hiện 8 lần trong Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi được Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm phiên âm là song viết(1), 12 lần trong Hồng Đức Quốc âm thi tập được Phạm Trọng Điềm và Bùi Văn Nguyên phiên âm là song viết(2), xuất hiện 3 lần trong Bạch Vân Quốc ngữ thi tập được Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà phiên âm là song nhật hay song nhặt(3). Đào Duy Anh trong Nguyễn Trãi toàn tập thì cho rằng hai chữ song viết là do các chữ: sớm tối, nô bộc, thong thả, túng kiết bị sao chép sai nên đã chữa theo cách hiểu của mình(4). Đỗ Văn Hỷ cho rằng vốn là chữ song nhật nhưng nên phiên âm là suông nhạt. Nguyễn Công Hoan cho là song kiết(5). Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn vận dụng phương pháp ngữ âm lịch sử cho rằng hai chữ đó phải đọc là rông vát(6). Cụ Nguyễn Quảng Tuân cho rằng thư tịch cổ nước ta và thư tịch cổ Trung Quốc như Đường thư, Tống sử, Khúc lễ... đều có chữ song nhật nghĩa là ngày chẵn, trái với chích nhật là ngày lẻ. Từ đó cụ khẳng định hai chữ ấy cứ đọc là song nhật, chứ không phải là song viết(7). Paul Schneider khi dịch Bạch Vân Quốc ngữ thi và trong Tự vựng lịch sử chữ Nôm (Dictionnaire historique des Idéogrammes Vietnamiens) đều phiên âm hai chữ trên là song viết với nghĩa là của cải, tài sản, gia tài, đầy tớ.

Như vậy, giữa các nhà học giả đã có cách phiên âm, cách hiểu hai chữ trên khác nhau.

Vừa qua, nhân có người nhờ tôi đi xem và chú thích hộ một cuốn sách Hán - Nôm nhan đề: “Chiêm nam nữ kết hôn hợp ngũ hành bát quái kiến cung cát hung”. Người nhờ xem cho biết cuốn sách này của cụ Kiều Văn Chú hơn 90 tuổi, người thôn Quang Thẩm, xã Hồng Phong, huyện Vũ Thư, Thái Bình. Trước kia cụ làm nghề dạy chữ Hán, bốc thuốc và lấy số tử vi. Cụ đã phiên âm ra Quốc ngữ sách trên với cách phát âm của người vùng ven biển Thái Bình như s=th, l=n...

Trong sách trên có hai chữ ( ) xuất hiện hai lần mà cụ phiên âm là thong nhật:

a- Tuổi Canh Thìn kết duyên với tuổi Tân Tị thì:

Vàng tuy bạch lạp tính khá gan,
Mệnh ấy chẳng giàu nhiều cái con.
Đã phá hết giàu thời lại có,
Cửa nhà thong (song) nhật hết lại còn.

b- Tuổi Giáp Ngọ kết duyên với tuổi Ất Mùi thì:

Đất vàng trong cát một mang (?) trong,
Mệnh ấy nào ai dám sánh cùng,
Quan tước được giàu tài vật có,
Cửa nhà thong (song) nhật thuở nào xa.

Ngoài ra tủ sách của gia đình tôi còn giữ được quyển Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa do Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Lê Thành ý soạn, Nhà in Nghiêm Hàm, Hà Nội ấn hành năm 1925, trong đó có bài thơ vịnh Ngư, Tiều, Canh, Mục (trang 148). Bài vịnh Ngư như sau:

Bông lau muôn khóm mọc xanh - om,
Bàn đá trơ - trơ đứng đấy nom,
Mảnh áo - yên hoa bay tướp tướp,
Cần câu thủy-nguyệt rủ khom khom.
Ngư hà song nhặt ngày hằng đủ,
Bạch duật - đôi co thế ngại nom.
Phạm - Lãi, Tử - Nha tìm bạn cũ,
Năm hồ bốn bể một đôi chòm.
Vô danh thị (Thơ cổ)

Điều đáng chú ý là trong cuốn sách này, các soạn giả đặc biệt quan tâm giải thích, giảng nghĩa từ ngữ, điển cố, thành ngữ, tục ngữ... nhưng hai chữ song nhặt thì không. Chúng tôi đoán rằng các soạn giả cho hai chữ song nhặt là thông dụng, không cần giảng giải. Chúng ta cũng thấy khi Đông Châu giới thiệu Bạch Vân thi tập (thơ văn của cụ Trạng Trình) trên Nam Phong tạp chí từ năm 1918, số 14, hai lần người soạn đã lưu ý bạn đọc “Thơ này kể ra đã cổ lắm, bản quán cứ theo bản Nôm cũ mà soạn ra, hoặc có chỗ nào ngợ, xin các ngài có biết thì sửa lại cho. Đông Châu” và bên cạnh những chữ còn ngờ, soạn giả kèm dấu hỏi (?) để chỉ sự nghi vấn, nhưng cạnh chữ song nhặt ở bài 38 không thấy có dấu hỏi (?). Như vậy đối với Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến chữ song nhặt không có gì xa lạ với người đọc lúc ấy.

Theo chúng tôi ba trường hợp phiên âm là song nhật, song nhặt vừa nêu, nghĩa của từ là tài sản, của cải, đầy tớ thì hợp với mạch văn và ý nghĩa cũng trở nên rõ ràng.
CHÚ THÍCH

(1) Xem Ức Trai quốc ngữ thi tập. Nxb. Sử - Địa, Hà Nội, 1956.

(2) Xem Hồng Đức Quốc âm thi tập. Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1962.

(3) Xem Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý. Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1957.

(4) Xem Nguyễn Trãi toàn tập. Nxb. KHXH, Hà Nội, 1962.

(5) Xem Nguyễn Công Hoan. Tạp chí văn học số 5. 1974.

(6) Xem Nguyễn Tài Cẩn. Tạp chí văn học số 2. 1974.

(7) Xem Nguyễn Quảng Tuân. Tạp chí Hán Nôm số 2. 1984.

(8) Xem Paul Schneider (Dictionnaire historique des Idéogrammes Vietnamiens). Bản đánh máy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ức Trai Quốc ngữ thi tập. Trần Văn Giáp - Phạm Trọng Điềm phiên âm chú giải. Nxb. Văn, Sử, Địa, Hà Nội, 1956.

2. Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà thơ triết lý - Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà. Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1957.

3. Hồng Đức quốc âm thi tập. Phạm Trọng Điềm - Bùi Văn Nguyên phiên âm, chú giải, giới thiệu. Nxb. Văn hóa, Hà Nội 1962.

4. Nguyễn Trãi toàn tập. Đào Duy Anh phiên âm lại và chú giải toàn bộ phần Quốc âm thi tập. Nxb.KHXH tái bản lần thứ hai, Hà Nội, 1976.

5. Bạch Vân Quốc ngữ thi tập. Paul Schneider dịch ra Pháp văn và chú giải, in trong Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises - Sai Gon 1974. Tr.612-849.

6. “Song viết” hay “song kiết”, “song biết” - Nguyễn Công Hoan. Tạp chí văn học số 5. 1974.

7. Thử tìm cách đọc Nôm hai chữ "song viết" - Nguyễn Tài Cẩn. Tạp chí văn học số 2. 1974.

8. "Song nhật" chứ không phải là "Song viết" - Nguyễn Quảng Tuân. Nghiên cứu Hán Nôm số 2. 1985.

9. Tự vựng lịch sử chữ Nôm (Dictionnaire historique des Ideogrammes Vietnamiens) Paul Schneider. Bản đánh máy.
____________________________________________________________
Thông Báo Hán Nôm 2000

MỘT CÁCH ĐỌC VÀ HIỂU KHÁC VỀ TỪ “SONG VIẾT”
NGÔ ĐỨC THỌ
PGS.TS. Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Đã trên 40 năm công bố Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi với hai bản phiên âm của ba nhà nghiên cứu danh tiếng Trần Văn Giáp - Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh. Và cũng đã hơn ¼ thế kỷ đã trôi qua kể từ khi có cuộc thảo luận về hai chữ “Song viết” mở đầu bằng bài viết của thầy học của tôi là Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn. Tiếp theo có đến hơn hai chục bài viết của các tác giả đăng trên Tạp chí Văn học, Tạp chí Ngôn ngữ, Báo Văn nghệ v.v.. Lược thuật lại lập luận của từng tác giả về vấn đề này là một việc lý thú, nhưng dù ngắn gọn cũng phải mất vài trang (nên ở đây tôi xin phép lướt qua).
Cuộc tranh luận hào hứng đó, với vài chục cách đọc cách hiểu khác nhau về từ “song viết” thật rất hào hứng và bổ ích. Nhưng cùng với thời gian trôi qua, mọi người dường như cũng phải tạm chấp nhận một sự thực là hình như vẫn chưa có đáp án nào được chấp nhận rộng rãi(1).
Sau một thời gian khá dài, gần đây lại mới có bài của Ngô Đăng Lợi quay lại vấn đề này. Tác giả bài ấy dẫn thêm được một văn bản là cuốn “Chiêm nam nữ kết hôn…” mà trong đó một câu có từ “song viết” (mà tác giả đọc là “song nhật”). Tiếc vì tác giả không cung cấp một bản chụp photocopy, nên không thể nghĩ bàn gì được, vì đây là một vấn đề cần phải có văn bản cụ thể. Còn kết luận nghĩa song viết là “tài sản, của cải, đầy tớ” thì có lẽ không phải mới vì trước đây đã có người nêu lên. Ngô Đăng Lợi cũng có điểm qua một số ý kiến của các nhà nghiên cứu trước đây, nhưng không thấy nêu bài của Lê Hữu Mục mà chính đó là tác giả đã có bài lập luận “song viết = “của cải” đã đăng trên TC Văn học trước đây. Nhưng đó không phải là vấn đề chính trong bài viết của tôi.
Bản thân tôi cũng có lập một hồ sơ về hai chữ “song viết”, và phải nói là hơn hai chục năm qua mỗi khi đầu óc thư thái đôi chút lại không thôi suy nghĩ về nó.
Trước hết, có một chi tiết về văn bản xin nêu thêm cho rõ:
- Trước nay mọi người quan tâm vấn đề “Song viết thường cho rằng chữ đó 8 lần xuất hiện QÂTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm, 7 lần trong Hồng Đức quốc âm thi tập, 1 lần trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn.
Để đề phòng tình trạng tranh luận mà thoát ly văn bản, tôi đã khảo kỹ văn bản và thấy vấn đề không hoàn toàn như vậy:
- Trong QÂTT đúng là chữ 8 câu)
- Hồng Đức quốc âm thi tập, viết 2 cách: 双.
Nhưng trong BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm (3 lần) và trong Thập giới cô hồn thì viết khác: @ Cả 4 chữ (trong 2 văn bản) này, người chép đều rất viết nắn nót chừng như để cho người đọc nhận ra chữ bát @(2) chứ không phải song 双. Lấy QÂTT bản in duy nhất hiện còn lưu tàng ở Thư viện Viện Hán Nôm để xem lại, tái khẳng định QÂTT đều viết chứ không phải @. Nhưng ở một câu có chữ “song viết”, có ai đó đã viết lơ lửng lên lề trắng phía trên một chữ (bút)”. Tôi nhận thấy chủ nhân củ của cuốn sách (nếu tôi không lầm thì đó là cụ Nhàn Vân Đình, Trần Duy Vôn) hiểu “song viết” và cả “bát viết” đều là “bút viết”. Nhưng có vấn đề gì đó chưa ổn vì tự dạng của chữ “bút” và chữ “song” hoàn toàn khác nhau, mà nếu đúng muốn nói “bút viết” thì tại sao không dùng ngay chữ “bút” có sẵn, cần gì phải mượn chữ “bát” vừa không đúng chữ vừa không đúng âm? Còn một khả năng thứ hai là người chép thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không hiểu chữ “song viết”, đoán là “bút viết” nên cố ý chép thật rõ chữ “bát” (đọc Nôm là “bút”).
Điều đó chưa trực tiếp giải đáp vào chữ “song viết”, nhưng tôi được củng cố thêm suy nghĩ về trường ngữ nghĩa đại thể của “song viết” là nói công việc viết lách văn chương.
Viết là động tác viết chữ như cách hiểu xưa nay. Tại đây cũng cần nói qua: chữ “viết trong Hán văn cổ của Trung Quốc nghĩa là nói (Tử viết, nghĩa là Khổng Tử nói), chứ không có nghĩa là viết chữ (mà Hán văn phải dùng chữ “thư ”). Nhưng vì lời nói của thánh hiền đạo Nho là nói bằng văn tự, chứ không phải lời nói thông thường như người cùng thời, cho nên sang Việt Nam, chữ viết chuyển nghĩa thành động tác viết chữ. Sắc thái chuyển nghĩa này có từ rất xưa, nhưng tôi chỉ mới tìm được chứng cớ từ thế kỷ XV qua văn bản Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh:
- Đệ tử nhược muốn trả được ơn ấy thì vì chưng áng nạ viết lục kinh này, vì chưng áng nạ đọc niệm kinh này (28b)
- Hay vì áng nạ, chịu gìn giữ, đọc niệm, viết lục một câu kinh phụ mẫu ân trọng đại thừa (38b)
Hai câu đó cho thấy chữ viết được hiểu là viết chữ đúng như ta hiểu ngày nay, có điều là dùng chữ “biệt ” để ghi âm “viết” mà đương thời chắc chắn là đọc bằng phụ âm Bv (@).
Cũng có thể dẫn thêm cứ liệu trong CNNÂ (tr.kỉ XVII):
Khải trát 楷 扎: viết chữ tốt thay (Văn tự bộ, 43b)
Xin trở lại với ý kiến của GS Nguyễn Tài Cẩn trước đây: Mặc dầu đáp án “song viết”, đọc là rong vát hoặc rông vát, với nghĩa là “đi rong vát, đi vất vưởng, đi bá vơ” v.v.. của thầy dường như chưa được công luận thừa nhận, mà gần đây cũng chưa chắc thầy còn giữ ý kiến này, nhưng những chứng minh ngữ âm lịch sử trong bài viết đó thì rất có giá trị. Tuy từ viết > vát tôi chưa dám tin hẳn là đúng, nhưng ngay từ khi bài của thầy được công bố(3) tôi đã nhận thấy là thầy đã đúng được một chữ : Song > Rông.
Ngoài những cứ liệu mà sau hơn 25 năm tôi sẽ dẫn ra dưới đây, ngay trong bài viết của mình, GS Nguyễn Tài Cẩn đã bổ sung vào chú thích mấy cứ liệu trích từ Chỉ nam ngọc âm:
- Tẫn kê gà cái báo rông (53a).
- Đêm khuya kêu gở miệng đà dữ rông (54a)
Có thể do bị thu hút bởi 2 mục từ: “đi rông vát, đi rong rổi” trong Từ điển của P.Của mà GS Nguyễn đã hiểu nghĩa Rông thiên về sự đi. Dưới đây là tìm kiếm thêm của tôi về chữ Rông:
- Ô trì 污 池: là giữa lòng ao,
Lưới xích chăng vào, cá đuối nhiều rông (4a)(4).
- Thúc phụ 叔 父: là chú lành rông,
- Thúc mẫu 叔 母 là thím một lòng chính chuyên (7a)(5).
- Lễ tháp @ @ thuyền buôn cả rông (27a)(6)
- Cảnh chẩm 警 枕: cái gối tốt rông (39a)
Thống kê trên đây có thể còn thiếu vài câu nữa, nhưng chừng đó cũng tạm đủ để cho trực giác của tôi nhận ra đằng sau chữ tất cả những chữ rông đó có một chữ Hán là chữ “hung ”. Những chứng cứ để củng cố cho suy đoán của tôi là ở chỗ ta có thể nhận ra cách nói cổ xưa đó cũng chính là cách nói ngày nay ta quen dùng:
- Nhiều rông = nhiều hung, nhiều dữ! (= rất nhiều!).
- Lành rông = rất lành, lành hung! (= rất tốt lành)
- Cả rông = lớn hung, lớn dữ! (= rất lớn)
- Tốt rông = tốt lắm, tốt dữ, tốt ghê! (= rất tốt!)
- Dữ rông = rất hung dữ (xấu, ác), dữ ghê! (= rất dữ), v.v..
Hung @ trong tiếng Hán có 6 nghĩa:
(1) Ác (hung ác, hung bạo) (2) Gây sát thương, hai người (hung thủ) (3) Mất mùa đói kém (hung niên) (4) Không thuận lợi, không tốt (cát hung) (5) Sợ hãi (6) Tranh cãi, tranh luận kịch liệt.
Trừ nghĩa (6) ít gặp ít dùng, còn 5 nghĩa trên đều quen thuộc với chúng ta. Điều đáng lưu ý là trong đó không có nghĩa nào chỉ mức độ như cách nói “tốt hung” “nhiều hung”, “lớn hung” như trong tiếng Việt (cả xưa và nay). Điều đó cho thấy chữ hung khi nhập tịch tiếng Việt đã có thêm một sắc thái ngữ nghĩa mới: chỉ một sự khác thường, kỳ lạ. Đúng là một sự việc gì khác thường, quá mức bình thường thì theo tư duy của người cổ đều không phải là một sự tốt lành: nhiều hung là nhiều một cách dữ dội, dữ tợn, đáng sợ, dễ sợ (nay cũng vẫn nói thế). Chuyển nghĩa ban đầu có lẽ là như thế, nhưng lâu dần quen dùng, dùng nhiều thì chuyển hóa không còn thực nghĩa là dữ, sợ nữa, mà chuyển hóa thành một tính từ làm trạng ngữ chỉ mức độ đặc biệt: (nhiều, tốt, lớn) hung/ghê/dữ.
Cách dùng từ hung như trên từ Bình - Trị - Thiên trở vào cho đến hiện nay vẫn là phổ biến. Bài hát Tiếng đàn Ta lư của Huy Thục có câu: “Các anh đánh hay hung!”(7). Miền Bắc thường dùng từ “ghê”, nhưng nếu nói hung, dữ, dễ sợ cũng không kém thông dụng.
Ý kiến trên đây của tôi như vậy đồng nghĩa với việc đã chứng minh Rông là một từ Cổ Hán Việt (hoặc Tiền Hán Việt) của Hung. Hung @, theo nhà cổ âm học Lý Phương Quế (Trung Quốc) âm thượng cổ là [hjung](8). Từ hj > R là có khả năng lý thuyết(9).
Trên đây tôi đã nói đến cả âm và nghĩa của Rông.
Các câu trong CNNÂ: nhiều rông, lành rông, cả rông (đã dẫn) tức là có cấu trúc tính từ vị ngữ. Còn trong Rông viết lại là một cấu trúc khác: rông + (động từ) viết. Như vậy rông là một phó từ làm trạng ngữ để chỉ trạng thái: viết như thế nào? Viết rất hung dữ = viết rất nhiều, viết lung tung, viết làm thàm v.v..
Như vậy cụm từ Rông viết đặt theo cấu trúc Trạng - Động: rông + viết
Cấu trúc này ngay cả thời Nguyễn Trãi cũng thấy dùng rất ít, nhưng nó vẫn hiện diện cả trong tiếng Việt hiện nay, như cả cười, cả giận v.v.. Còn trong thơ Nguyễn Trãi thì có những cụm từ có cấu trúc này:
- Chèo lan nhàn bát thuở tà dương (bài 42)
- Trái thì trai vượn nhọc đơm (bài 64)
- Sự nghiệp nhàn khoe phú Tử hư (bài 36)
- Đem mình non nước nhàn qua tuổi (bài 143)
Và cả 1 trường hợp còn dính ngay trong câu đang nghiên cứu: “Đèn sách nhàn làm song viết nho”. Đã ít dùng (hiếm) nên có ¾ câu dẫn trên dùng với chữ nhàn, có vẻ đơn điệu. Tuy vậy cũng đủ cho thấy thời Nguyễn Trãi vẫn có dùng cấu trúc này trong thơ văn.
Đến đây chúng ta đã có thể thấy: Song viết, đọc là rông viết, nghĩa là viết một cách nhiều, rông dài, lung tung. Đây là cách nói khiêm tốn mà văn nhân xưa vẫn thường dùng, tự làm giảm giá trị cao quý việc viết lách của mình đi, tỏ ý tự cười mình về nghiệp văn chương, cho là không có gì lớn lao ghê gớm v.v.. Trong đời thường nếu có ai đó hỏi một nhà văn nhà thơ: “Ông đang viết gì đấy?”, thì có khi nhà văn ấy sẽ thân mật đáp: “Mình viết lông rông thôi, viết thàm thàm, bậy bậy, viết lung tung thôi!”.
Đấy cũng chính là ứng với một câu trong BVTT:
- Khách đến hỏi: “Nào rông viết?” (Ông đang viết lông rông gì đấy?) Nhớ rằng còn một túi thơ đeo! (bài 38/39a)
Cũng rất đúng với câu trong Thập giới cô hồn:
- Rông viết liền tay, gương lờ non ánh (55b)
Cũng rất đúng với các câu trong HĐQÂTT:
- Rông viết ai bằng rông viết ngư = Viết lông rông, viết lung tung chi bằng viết lông rông về ngư (người đánh cá) (ai bằng = chi bằng)
- Rông viết ai bằng rông viết tiều = Viết lông rông, viết tung tung chi bằng viết lông rông về tiều (người hái củi) v.v..
Lại đến hai câu tiếp trong BVQNTT:
- Rông viết chưa rằng đã hổ = Viết lông rông, viết lung tung chưa chắc đã phải xấu hổ! (bài 334/8a).
- Rông viết hãy còn hai rặng quýt = Tôi viết lông rông viết lung tung đấy, nhưng không sao cả, nhà còn hai rặng quýt! (bài 51/12a)
Bây giờ kháp vào với cả 8 câu trong QÂTT của Nguyễn Trãi:
1. Con cháu chớ hiềm rông viết ngặt = Con cháu đừng lo vì theo đòi văn chương viết lách lông rông mà gia cảnh nghèo ngặt: Thi thư thực ấy báu ngàn đời! (bài 10)
2. Con cháu mựa hiềm rông viết tiện = Con cháu tụi bay chớ lo (tôi, ta) viết lách văn chương lông rông mà thân phận phải hèn kém (tiện), vẫn sang lắm: nghìn đầu cam quýt ấy là tôi (là bề tôi, tôi tớ của ta đấy! (bài 13)
3. Rông viết hằng lề phiến sách cũ = Viết lông rông, viết lung tung đấy, nhưng vẫn là trong phép thường của thi thư cả! (không thể giàu được đâu, nhưng) Hôm dao đủ bữa bát cơm xoa! (bài 18)
4. Rông viết lại toan nào của tích = Viết lông rông viết tung tung mà lại toan có của cải tích trữ ư? (nhiều của cải) (bài 49).
5. Đèn sách nhàn làm rông viết nho = Theo nghiệp sách đèn làm anh nhà nho viết lách lông rông thôi! (bài 58)
6. Một yên một sách một con lều, Rông viết bao nhiêu mặc bấy nhiêu = Một chiếc bàn một cuốn sách, cứ thoải mái viết lông rông thôi, viết nhiều ít đều không quan tâm (hoặc: không quản ngại gì)! (bài 164)
Hai câu trong bài 143 và 156 cũng với nghĩa như trên, nhưng liên hệ trừu tượng hơn một chút:
7. Rông viết có nhiều dân có khó (bài 143)
Bài này bên trên đã có ý than phiền về sự “quân thần chẳng phải duyên”, nói vào bản thân: nào viết biểu dâng sớ điều trần, can gián v.v.. đã nhiều mà rốt cuộc thì cuộc sống của người dân vẫn khốn khó, không cải thiện được gì.
8. Rông viết huống còn non nước cũ = Mình cứ viết lách rông dài như thế, nhưng mà còn non nước cũ thì ra sao đây? (bài 156)
Nói tóm gọn: Rông viết là cách nói của nhà văn khiêm tốn tự hạ thấp giá trị để nói về công việc cầm bút sáng tác văn chương của mình, sắc thái tu từ tuy có khác nhưng ý nghĩa thì y hệt như cách nói: “Lời quê góp nhặt rông dài” của tác giả Truyện Kiều.
Mặc dầu tôi tự tin ở kiến giải của mình, nhưng vấn đề “song viết” này đặc biệt hóc hiểm, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng đã đem ra các cách giải thích khác nhau. Tôi hứng thú theo dõi ngẫm nghĩ chuyện này đã lâu, lo để lâu quên lãng, ghi lại ý kiến như trên để thảo luận về một vấn đề hứng thú chắc vẫn còn được những người nghiên cứu thơ văn Nguyễn Trãi quan tâm.
Chú thích:
1. Bằng chứng là trong lần xuất bản mới đây nhất của QÂTT, các câu có từ “song viết” vẫn phải để nguyên âm như cách lần xuất bản đầu tiên đã làm. Xem: Nguyễn Trãi toàn tập. Tân biên. Nxb Văn học và Trung tâm Quốc học xb. 2000, T.3.
2. Chữ @ âm Hán Việt đọc là Bát (QV: 北 末 切 末 韵 帮) có nghĩa là hai chân giang rộng có dáng sắp bước đi, không dùng độc lập, chỉ dùng làm bộ thủ (bộ Bát) để tạo chữ.
3. Tạp chí Văn học số 2 -1974
4. Ô có 2 cách đọc: Ô (ai đô thiết) và Hộ (Hậu cổ thiết), Trần Xuân Ngọc Lan phiên là Hộ, cũng đúng. Nhưng @ phiên là “lưới khít”; cá @ phiên là “cá giải” (?) thì có lẽ không đúng.
5. Lành rông: TXN Lan phiên là “lành song” (để nguyên), không thây giải thích gì.
6. Cả rông, TXNL để nguyên “cả song”, không thấy giải thích.
7. Anh Mai Xuân Hải nhắc cho bổ sung dẫn chứng này. Chân thành cám ơn.
8. Xem: Lý Phương Quế, Thượng cổ âm nghiên cứu, Thương vụ ấn thư quán, Bắc kinh, 1998, tr.72.
9. GS Nguyễn Tài Cẩn khi xét về lai nguyên của R trong tiếng Việt tuy không trực tiếp nhưng cũng đã nói đến một phụ âm (hr) khi nói về lai nguyên của tửu/rượu (x. Giáo trình Lịch sử tiếng Việt. Nxb. Giáo dục, 1995, tr.297).

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: 石 生 (---.dip.t-dialin.net)
Date: July 05, 2007 01:40PM
Xem những văn cảnh thì tôi e rằng: chả có cách dịch nào mà ăn khớp với tất cả các câu "双 曰" (奴 仆, 从 且) dẫn trên!
Tôi rất muốn biết Paul Schneider đã căn cứ vào đâu (trừ văn cảnh của một số câu ra) mà cho ý nghĩa là "gia tài" trong khi để "nguyên" âm là "song viết"!?
Ai đời lại nói "làm [rông] viết (gì)"?
Nghe hơi khó chịu, không "ổn định" cho lắm!

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 05, 2007 10:11PM
bắt chước các bài trên viết "lông rông"...smiling smiley

nhưng nhìn thấy bài ô NĐT giải thích "song viết" là "viết lông rông" có vẻ không hợp văn cảnh trong các bài thơ trên, và sự "viết lông rông" không có gì là quan trọng mà cần có các câu thơ nói đến như:
- Con cháu mựa hiềm rông viết tiện.
- Con cháu chớ hiềm rông viết ngặt.
..v.v..
huống nữa một vị thầy như Nguyễn Bỉnh Khiêm cần gì phải nói câu thơ:
-Rông viết chưa rằng đã hổ.(viết lông rông chưa rằng đã hổ)..smiling smiley
-Rông viết hãy còn hai rặng quýt
Thất gia chẳng hết một căn lều (Bài 51)
ối ông NĐT ơi ! làm như cụ Nguyễn Bỉnh Kiêm là người viết mướn, viết "lông rông, thiếu hụt nhờ vào hai rặng quýt....

như ông NĐT đã đổi "song viết" thành "rông viết" (viết lông rông).
theo ông "hung" biến âm thành "rông" để đọc chữ [], chỉ cho dữ lắm( rất nhiều lắm)

như ông NĐT trích dẫn Chỉ Nam Ngọc Âm:
-Đêm khuya kêu gở miệng đà dữ rông (54a)
- Thúc phụ (叔 父)là chú lành rông.
- Cảnh chẩm (警 枕)cái gối tốt rông.

có lẽ chữ vẫn đọc là song, chỉ cho "vô song" nói tắt, chỉ nghĩa "rất nhiều lắm" hầu như "vô song", và bớt chữ "vô" cho nhẹ nghĩa một chút.
Thúc phụ (叔 父)là chú lành song: ông chú tốt rất nhiều.
Cảnh chẩm (警 枕)cái gối tốt song: cái gối rất tốt.
..............................................
còn chữ "viết" trong song viết là "viết" hay là "nhật" ?, ..không có bản gốc để xem nếu thấy chữ "mập mập" là "viết", nếu mập là "ổng" rồi, không có bản gốc đành chịu....
nhưng thử "nghĩ lông rông"...smiling smiley......chơi....
viết:
phiên thiết 王伐切 vát.
âm Nôm cũng có âm "vất" cho chữ này.
và VN cũng có câu nói:
nhà chỉ có "đôi vách" lá.
ám chỉ cho gia cảnh bần hàn, nói đến đời sống gia cảnh...
"song" trong "song viết" có thể mang nghĩa là "đôi".
hề hề ! biết đâu song viết đọc là song vách nghĩa "đôi vách": nghĩa lóng, nghĩa bóng ám chỉ cho: nghĩa1-gia cảnh đời sống, hoặc nghĩa 2- gia cảnh bần hàn.. (thêm hàm nghĩa bần hàn mà siêu thoát..?)

Con cháu mựa hiềm song vách tiện.
con cháu chớ hiềm nhà bần hàn là tiện.

Song vách hãy còn hai rặng quýt.
Thất gia chẳng hết một căn lều.
nhà nghèo vẫn còn hai rặng quýt.
căn nhà chẳng hết một căn lều.

.hoặc ám chỉ theo nghĩa 1: đời sống gia cảnh.
Năm hồ nhưng lấy làm 双曰.
Bốn bể đều thời thảy nết na (Hằng Nga nguyệt)

Năm hồ nhưng lấy là gia cảnh.
Bốn bề đều thời thảy nết na.

nhưng đến đây có nghi vấn nảy lên..!, thí dụ nếu là song vách, chữ "vách" chữ Nôm có 𡋦, 壁 sao các câu thơ không dùng.?
..biết đâu dùng 𡋦, 壁 thì thành rõ "nghĩa đen" là "đôi vách" hơi trắng trợn không hay, và không nên thơ bóng bẩy chăng...?

Khách đến hỏi nào song vách nữa,
Rằng còn một túi thơ treo.

Khách đến hỏi [gia cảnh thế nào!] nữa.
Rằng còn một túi thơ treo.

Một yên một sách một con lều
Song vách bao nhiêu mặc bấy nhiêu

Một yên một sách một con lều
Đời sống(gia cảnh) bao nhiêu mặc bấy nhiêu.

Bốn mùa song vách một thuyền chài
Sớm chốn giang hồ tối nguyệt đài

Bốn mùa đời sống một thuyền chài
Sớm chốn giang hồ tối nguyệt đài

(...gia cảnh nghèo mà siêu thoát thong dong...)
__________________________________________________
....chuyện 双曰 có lẽ nên ...dừng..ở đây, bàn thêm.....lỡ biến âm thành song vợ" thì .....đổ nợ, ủ tờ...đóng bail, ..tội....song hôn..sad smiley
..và dĩ nhiên các cảm nghĩ ở bài này chỉ là "viết lông rông" ..smiling smiley

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 05, 2007 10:29PM
một vài lỗi chính tả
sửa lại:

bắt chước các bài trên viết "lông rông"...smiling smiley

nhưng nhìn thấy bài ô NĐT giải thích "song viết" là "viết lông rông" có vẻ không hợp văn cảnh trong các bài thơ trên, và sự "viết lông rông" không có gì là quan trọng mà cần có các câu thơ nói đến như:
- Con cháu mựa hiềm rông viết tiện.
- Con cháu chớ hiềm rông viết ngặt.
..v.v..
huống nữa một vị thầy như Nguyễn Bỉnh Khiêm cần gì phải nói câu thơ:
-Rông viết chưa rằng đã hổ.(viết lông rông chưa rằng đã hổ)..smiling smiley
-Rông viết hãy còn hai rặng quýt
Thất gia chẳng hết một căn lều (Bài 51)
ối ông NĐT ơi ! làm như cụ Nguyễn Bỉnh Kiêm là người viết báo mướn, viết "lông rông, thiếu hụt nhờ vào hai rặng quýt....

như ông NĐT đã đổi "song viết" thành "rông viết" (viết lông rông).
theo ông "hung" biến âm thành "rông" để đọc chữ [], chỉ cho dữ lắm( rất nhiều lắm)

như ông NĐT trích dẫn Chỉ Nam Ngọc Âm:
-Đêm khuya kêu gở miệng đà dữ rông (54a)
- Thúc phụ (叔 父)là chú lành rông.
- Cảnh chẩm (警 枕)cái gối tốt rông.
----------------------------------
theo tôi chữ vẫn đọc là song, chỉ cho "vô song" nói tắt, chỉ nghĩa "rất nhiều lắm" hầu như "vô song", và bớt chữ "vô" cho nhẹ nghĩa một chút.
Thúc phụ (叔 父)là chú lành song: ông chú tốt rất nhiều.
Cảnh chẩm (警 枕)cái gối tốt song: cái gối rất tốt.
..............................................
còn chữ "viết" trong song viết là "viết" hay là "nhật" ?, ..không có bản gốc để xem nếu thấy chữ "mập mập" là "viết", nếu mập là "ổng" rồi, không có bản gốc đành chịu........
nhưng thử "nghĩ lông rông"...chơi...smiling smiley
viết:
phiên thiết 王伐切 vát.
âm Nôm cũng có âm "vất" cho chữ này.
và VN cũng có câu nói:
nhà chỉ có "đôi vách" lá.
ám chỉ cho gia cảnh bần hàn, nói đến đời sống gia cảnh...
"song" trong "song viết" có thể mang nghĩa là "đôi".
hề hề ! biết đâu song viết đọc là song vách nghĩa "đôi vách": nghĩa lóng, nghĩa bóng ám chỉ cho: nghĩa1-gia cảnh đời sống, hoặc nghĩa 2- gia cảnh bần hàn.. (thêm hàm nghĩa bần hàn mà siêu thoát..?)

Con cháu mựa hiềm song vách tiện.
con cháu chớ hiềm nhà bần hàn là tiện.

Song vách hãy còn hai rặng quýt.
Thất gia chẳng hết một căn lều.
nhà nghèo vẫn còn hai rặng quýt.
căn nhà chẳng hết một căn lều.

.hoặc ám chỉ theo nghĩa 1: đời sống gia cảnh.
Năm hồ nhưng lấy làm 双曰.
Bốn bể đều thời thảy nết na (Hằng Nga nguyệt)

Năm hồ nhưng lấy làm gia cảnh.
Bốn bề đều thời thảy nết na.

nhưng đến đây có nghi vấn nảy lên..!, thí dụ nếu là song vách, chữ "vách" chữ Nôm có 𡋦, 壁 sao các câu thơ không dùng.?
..biết đâu dùng 𡋦, 壁 thì thành rõ "nghĩa đen" là "đôi vách" hơi trắng trợn không hay, và không nên thơ bóng bẩy chăng...?

Khách đến hỏi nào song vách nữa,
Rằng còn một túi thơ treo.

Khách đến hỏi [gia cảnh thế nào!] nữa.
Rằng còn một túi thơ treo.

Một yên một sách một con lều
Song vách bao nhiêu mặc bấy nhiêu

Một yên một sách một con lều
Đời sống(gia cảnh) bao nhiêu mặc bấy nhiêu.

Bốn mùa song vách một thuyền chài
Sớm chốn giang hồ tối nguyệt đài

Bốn mùa gia cảnh một thuyền chài
Sớm chốn giang hồ tối nguyệt đài

(...gia cảnh nghèo mà siêu thoát thong dong...)
__________________________________________________
....chuyện 双曰 có lẽ nên ...dừng..ở đây, bàn thêm.....lỡ biến âm thành "song vợ" thì .....đổ nợ, ..ủ tờ...đóng bail, ..tội....song hôn..sad smiley

..và dĩ nhiên các cảm nghĩ ở bài này chỉ là "viết lông rông" ..smiling smiley

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: 石 生 (---.dip.t-dialin.net)
Date: July 05, 2007 11:55PM
"奴 仆" xin sửa lại thành "奴白"

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.80.---)
Date: July 06, 2007 08:49PM
GÓP PHẦN GIẢI MÃ HAI CHỮ SONG VIẾT TỪ CÂUHỒ CỔ Ở THỪA THIÊN HUẾ Nguyễn ThếPhòng Văn hoá Thông tin huyện Phong Điền, Thừa Thiên HuếHội nghị Quốc tế về chữ NômHuế, 2006
Tóm tắt bài viếtHai từ SONG VIẾT đã từng xuất hiện trong các tác phẩm chữ Nôm cổ như NguyễnTrãi Quốc âm thi tâp, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc âm thi tập mà hàngchục năm qua các nhà nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ học – đặc biệt là giới nghiêncứu Hán Nôm – đã có khá nhiều bài viết trao đổi về cách đọc của hai chữ này.Nhiều đề nghị cách đọc Nôm của hai chữ SONG VIẾT đã được đưa ra, nhưng hầunhư đến nay, chưa có giả thiết nào được mọi người tán đồng và đi đến thống nhấtcao. Bởi lẽ, mọi người chỉ nhìn thấy con chữ rồi tuỳ theo ngữ cảnh mà đưa ra cáchđọc khác nhau chứ trong dân gian chưa thấy nơi nào còn dùng hai chữ này. Gần đây,GS Nguyễn Tài Cẩn lại viết tiếp bài: Xin trở lại vấn đề Song Viết, Ông đã mở đầu bàiviết như sau:“Nửa thế kỷ đã trôi qua, các nhà nghiên cứu đã lên tiếng, nhưng hai chữSONG VIẾT mãi đến nay vẫn đang còn là 2 chữ X+Y đầy bí ẩn, chưa từngđược giải mã”.GS Nguyễn Tài Cẩn (NTC), người đã biên soạn và xuất bản nhiều công trình nghiêncứu về Ngôn ngữ học và Hán Nôm học có giá trị. Riêng đối với hai chữ SONGVIẾT, NTC đã có những bài nghiên cứu khá công phu về những yếu tố biến âm, cáchđọc, ngữ nghĩa… Trong bài Thử tìm cách đọc Nôm hai chữ SONG VIẾT, tác giả đãlập bảng thống kê, so sánh, đối chiếu với các tư liệu thu thập được (kể cả tư liệungôn ngữ, văn tự của các dân tộc ít người và các quốc gia lân cận), tra cứu từ nguồncác từ điển chữ Nôm cổ có ở trong nước cũng như đang lưu trữ ở nước ngoài để tìmcách giải mã, tìm ra âm đọc của hai từ SONG VIẾT. Từ những kết quả khảo cứu trên,NTC đã đề nghị âm đọc của hai chữ SONG VIẾT là RÔNG VAT. NTC đã viết:“Trong tình hình nghiên cứu hiện nay, có thể tạm cho song viết là cách ghiNôm của rông vát, một từ đôi đã cổ, hiện chỉ còn lưu lại trong từ điển cuối thếkỷ XIX (Từ điển thường ghi rông vát nhưng một lần ghi dông vát, một lần rongvát và một lần giong vác). Song viết là một lối ghi Nôm khá cổ và khá phù hợpvới ngữ âm lịch sử.”Khi nghiên cứu di sản văn hoá dân gian ở làng Phò Trạch, xã Phong Bình, huyệnPhong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi đã bắt gặp nhiều câu hò mang lời cổ.Đặc biệt trong đó có câu:Con chim đại bàng bay ngang hòn núi bạc, con cá ngư ông giong vát ngoài khơi.Gặp nhau đây phân tỏ một đôi lời, kẻo một mai tê con cá ngư ông về sông vịnh,con chim nọ đổi dời non xanh (non cao).Điều chúng tôi quan tâm ở đây là hai từ giong vát (có người hò thành gióng vát) ởtrong câu hò. Phải chăng đây chính là âm đọc của hai từ SONG VIẾT đã từng xuấthiện trong các tác phẩm chữ Nôm cổ nêu trên.
--------------------------------------------------------------------------------
Page 2
Làng Phò trạch, xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một làng cólịch sử hình thành khá sớm, có thể người dân ở đây đã có mặt từ buổi đầu di dân mở nước ởvùng Thuận Hoá.. Nghề đan đệm bàng ở đây được xem là một nghề thủ công truyền thống có từlâu đời và được người dân mang theo từ quê cũ đến nơi vùng đất mới. Qua nghiên cứu các tưliệu lịch sử và gia phả các dòng họ trong làng thì làng này có nguồn gốc từ vùng đồng bằng venbiển Bắc bộ. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn đã từng ghi: “Làng Phò Trạch thuộc huyện Hương Trà (nay là Phong Điền) có nghề dệt lác làm chiếu tục gọi là chiếu đệm, cũng dùng làmbuồm như ở Quảng Lãm, Kinh Bắc”.1Nơi đây hiện còn bảo lưu được các loại hình nghệ thuậtdân gian cổ như: Hát sắc bùa, hát trò, tập chèo, múa phương tướng… Trong nghi thức tế lễ củalàng còn có cả Thài dật, múa (chạy chữ) Thiên hạ thái bình. Đây chính là những hình thức lễ hộimang dấu ấn văn hoá thời Lê Đặc biệt, nội dung của ca từ, lời thoại ở các bài ca có sử dụng mộtsố từ Nôm cổ mà hiện nay hầu như những từ ấy đã bị biến mất trong ngôn ngữ đời thường. Ví dụnhư trong tiết mục hát sắc bùa có đoạn:Trong nhà tắt lửa, thì thổi lửa lên cho chúng min2vào bắt thằng tà thằng quỉ, bắtthằng lũ lĩ3chân tay, bắt thằng ngay thằng vạy4, đố thằng nào chạy khỏi tay ông.Hoặc câu:Đăng trà quả thực hương hoa, Bàn thờ tiên tổ ông bà chiêu đăm5(5).Trong ngôn ngữ của nghề đan đệm bàng ở làng này vẫn còn tồn tại một số âm đọc cổ củachữ Nôm, ví dụ: Trong động tác rút cây bàng để chọn kích thước cho đồng đều, người dân ở đâygọi là tót. Chữ tót ( ) trong tiếng Nôm cổ được viết phần biểu ý là bộ thủ xóc (nằm bên trái),phần biểu âm là chữ tốt (nằm bên phải). Thông thường, ở trong Tự điển và các văn bản Nôm chữnày được đọc là rút. Trong Đại Nam Quốc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của có ghi nhận chữtót và giải nghĩa là: Rút ra, quá khỏi, hơn, nhọn, vót.Khi nghiên cứu di sản văn hoá dân gian ở vùng này, chúng tôi đã bắt gặp nhiều câu hòmang lời cổ vẫn được các cụ già cất lên khi ru cháu. Đặc biệt trong đó có câu:Con chim đại bàng bay ngang hòn núi bạc, con cá ngư ông giong vát ngoài khơi.Gặp nhau đây phân tỏ một đôi lời, kẻo một mai tê con cá ngư ông về sông vịnh,con chim nọ đổi dời non xanh (non cao).Điều chúng tôi quan tâm ở đây là hai từ giong vát ở trong câu hò. Phải chăng đây chính làâm đọc của hai từ SONG VIẾT đã từng xuất hiện trong các tác phẩm chữ Nôm cổ như NguyễnTrãi Quốc âm thi tâp, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc âm thi tập mà hàng chục nămqua các nhà nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ học—đặc biệt là giới nghiên cứu Hán Nôm—đã cókhá nhiều bài viết trao đổi về cách đọc của hai chữ này.1Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.1977, tr. 324.2Chúng min: chúng ta.3Lũ lĩ: lũ người tương đối đông.4Vạy: không thẳng thắng.5Chiêu: bên trái, đăm: bên phải.
--------------------------------------------------------------------------------
Page 3
Để có cái nhìn tổng quan về sự xuất hiện của hai từ song viết trong các tác phẩm Nôm cổ,chúng tôi xin phép dẫn lại bản lại bản lượt kê các câu thơ có chứa hai từ SONG VIẾT do cố họcgiả Đào Duy Anh thống kê.Trong Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập:1- Con cháu chớ hiềm (song viết) ngặt,Thi thư thực ấy báu ngàn đời. (Ngôn chí 9)2- Con cháu mựa hiềm (song viết) tiệnNghìn đầu cam quít ấy là tôi. (Ngôn chí 12)3- Song viết hằng lề phiến sách cũHôm dao đủ bữa bát cơm xoa. (Ngôn chí 19)4- Song viết lại toan vào cửa tích,Bạc mai vàng cúc để cho con (Thuật hứng 4)5- Buồng văn lấp cửa trọn ngày thuĐèn sách nhàn làm song viết nhu (Thuật hứng 13)6- Song viết có nghèo dân có khó,Cửa nhà càng rộng thế càng phiền (Tự giới 16)7- Song viết huống còn non nước cũ,Mặc dầu thua được có ai tranh (Tự giới 29)8- Một yên một sách một con lềuSong viết bao nhiêu mặc bấy nhiêu (Tự giới 37)Trong Hồng Đức Quốc âm thi tập:9- Năm hồ nhưng lấy làm song viếtBốn bể đều thời thảy nết na (Hằng Nga nguyệt)10- Ngư hà song viết ngày thường đủBạng duật đôi co thế ngại dòm (Vịnh ngư)11- Nẻo đầu kể bốn thú nhàn cưSong viết ai bằng song viết ngư (Tứ thú 1, Vịnh ngư)12- Một rìu một búa cửa hôm diêuSong viết ai bằng song viết tiều (Tứ thú 2, Vịnh tiều)13 - Một cày một cuốc phận đã đànhSong viết ai bằng song viết canh (Tứ thú 3, Vịnh canh)14- Nẻo ra thời có phu đồng bọcSong viết ai bằng song viết mục (Tứ thú 4, Vịnh mục)15- Phong nguyệt ít nhiều song viết đủKhứng đâu vay bợ khứng cho ai (Ngư nhân thuyền)16- Bốn mùa song viết một thuyền chàiSớm chốn giang hồ tối nguyệt đài (Ngư nhân thuyền 2)Trong Bạch Vân Quốc âm thi tập:17- Song viết chớ rằng đã hổĐến đâu thời cũng có xuân phong (Bài 33)
--------------------------------------------------------------------------------
Page 4
18- Khách đến hỏi nào song viếtNửa rằng còn một túi thơ treo (Bài 38)19- Song viết hãy còn hai dặng quýtThất gia chẳng hết một căn lều (Bài 51)20- Mựa hiềm song viết nhà còn ngặtTích đức cho con ấy mới mầuNhiều đề nghị cách đọc Nôm của hai chữ SONG VIẾT đã được đưa ra, nhưng hầu như đếnnay, chưa có giả thiết nào được mọi người tán đồng và đi đến thống nhất cao. Bởi lẽ, mọi ngườichỉ nhìn thấy con chữ rồi tuỳ theo ngữ cảnh mà đưa ra cách đọc khác nhau chứ trong dân gianchưa thấy nơi nào còn dùng hai chữ này. Gần đây, GS Nguyễn Tài Cẩn lại viết tiếp bài: Xin trởlại vấn đề Song Viết, đăng trong cuốn Từ Đông sang Tây (Tập biên khảo về Khoa học xã hội vànhân văn - do Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc, Vĩnh Sính chủ biên. NXB Đà Nẳngấn hành năm 2005). Ông đã mở đầu bài viết như sau:“Nửa thế kỷ đã trôi qua, các nhà nghiên cứu đã lên tiếng, nhưng hai chữ SONG VIẾTmãi đến nay vẫn đang còn là 2 chữ X+Y đầy bí ẩn, chưa từng được giải mã”.Chúng tôi xin được lượt kê một số ý kiến của các nhà nghiên cứu đối với hai chữ Song viết:1- Giữ nguyên cách đọc Hán việt: Song viết.Từ năm 1956, khi hai cụ Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm tiến hành nghiên cứu vàphiên dịch các bản Quốc âm thi tập đã giữ nguyên âm Hán Việt của hai chữ này và đểchúng vào mục tồn nghi. Hai cụ viết: “Chúng tôi cũng không dám cố chấp, cũng đã theo nguyên tắc muôn thuở, đọc chữ Nôm phải linh động, theo nghĩa trong câu có thể chệch điít nhiều cho hiểu được nghĩa. Nhưng sau khi đem hai chữ “song viết”… chuyển lên,chuyển xuống, chuyển ngang, chuyển dọc, cũng không đi đến đâu cả. Vì vậy, chúng tôiđành giữ nguyên âm mặt chữ, xin các bạn nghiên cứu giúp và góp ý kiến”.2- Năm 1962, cụ Đào Duy Anh đã viết một bài đăng ở tập san Nghiên cứu lịch sử đưa ýkiến cho rằng hai chữ này khi thì phải đọc nô bộc, khi thì phải đọc sớm tối, khi phải đọcthong thả, vì song viết chính là do ba từ đó chép nhầm mà thành.3- Năm 1967, Đỗ Văn Hỷ đưa ra giả thuyết hai chữ này là song nhật, và đề nghị đọc theoâm Nôm là suông nhạt.4- Nguyễn Quảng Tuân cho rằng đó là hai chữ Song nhật chứ không phải là song viết. Ông ta viện dẫn theo thư tịch cổ của Trung Quốc như Đường thư, Tống sử, Khúc lễ và các bộtừ điển lớn như: Từ Nguyên, Từ Hải. Các sách ấy đã ghi: Song nhật là ngày chẵn, trái vớichích nhật là ngày lẻ).5- Trong bài viết “Phát hiện thêm một số cách phiên âm khác về hai chữ Song nhật” đăng ởTạp chí Hán Nôm số 3 năm 2000, Ngô Đăng Lợi (NĐL) đã dẫn hai trường hợp xuất hiệnhai chữ phiên âm song nhặt ở hai cuốn sách:— Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa (sách Quốc ngữ) do Đông Châu Nguyễn Hữu Tiếnvà Lê Thành Ý biên soạn (Nhà in Nghiêm Hàm, Hà Nội ấn hành năm 1925) cótuyển một bài thơ Nôm khuyết danh: “Ngư, Tiều, Canh, Mục” (trang 148) trong đócó câu:Ngư hà song nhặt ngày hằng đủ,Bạch duật đôi co thế ngại nom.
--------------------------------------------------------------------------------
Page 5
— Chiêm nam nữ kết hôn hợp ngũ hành bát quái kiến cung cát hung (sách Hán Nôm)của cụ Kiều Văn Chú ở Vũ Thư, Thái Bình. Trong sách có hai câu có chữ song nhật, được chính tác giả phiên âm ra Quốc ngữ là thong nhật (thong = song, cáchphát âm của người vùng ven biển Thái Bình).- Đã phá hết giàu thời lại cóCửa nhà thong (song) nhật hết lại còn.- Quan tước được giàu tài vật có,Cửa nhà thong (song) nhật thuở nào xa.NĐL cho rằng: Âm song nhật, song nhặt nêu trên có nghĩa là tài sản, của cải, đầy tớ thì phùhợp với mạch văn và ý nghĩa cũng trở nên rõ ràng…6- Trong Bạch Vân Quốc âm thi tập, Sở Cuồng Lê Dư cũng phiên là Song nhặt (đọc trại âmsong nhật).7- Cụ Vũ Văn Kính cũng cho hai chữ trên là Song nhật chứ không phải là Song viết và đềnghị đọc là Suông nhạt, lấy cớ là dịch từ chữ Thanh đạm trong chữ Hán mà các nhà Nhonghèo thường tự cho mình là Nho gia thanh đạm (nghèo nhưng vẫn trong sạch liêmkhiết).Ví dụ: Ba câu trong Bạch Vân Quốc âm thi tập có thể đọcconfused smileyuông nhạt chưa rằng đã hổ,Đến đâu thời cũng có xuân phong.Khách đến hỏi nào suông nhạt nữa,Rằng còn một túi thơ treo.Suông nhạt hãy còn hai rặng quít,Thất gia chẳng hết một con lều.Trong quá trình tìm cách giải mã hai chữ song viết, một số nhà nghiên cứu còn bắt gặpnhững bài thơ Nôm có chứa các từ này. Ví dụ như bốn câu thơ của cụ Nguyễn Hằng (1548 –1625) do Nguyễn Công Hoan giới thiệu trong bài: “Song viết hay song kiết, song biết” (Tạpchí Văn học số 5 năm 1974). Trong câu thơ thứ hai, ghi theo trí nhớ của gia đình là songkiết, nhưng theo cụ Nguyễn Tường Phượng thì lại là song biết:Ba mươi chín tuổi đổ đăng khoaSong kiết (biết) ai bằng song kiết (biết) taĐãi khách vẻ vang rau lộc: muốngĐiều canh chan chứa nước chè: càNgoài ra còn có một số ý kiến nêu thêm một số cách đọc khác như: Túng kiết, song kiết,song cát…GS Nguyễn Tài Cẩn (NTC), người đã biên soạn và xuất bản nhiều công trình nghiên cứuvề Ngôn ngữ học và Hán Nôm học có giá trị. Riêng đối với hai chữ SONG VIẾT, NTC đã cónhững bài nghiên cứu khá công phu về những yếu tố biến âm, cách đọc, ngữ nghĩa… Trong
--------------------------------------------------------------------------------
Page 6
bài “Thử tìm cách đọc Nôm hai chữ SONG VIẾT”, tác giả đã lập bảng thống kê, so sánh, đốichiếu với các tư liệu thu thập được (kể cả tư liệu ngôn ngữ, văn tự của các dân tộc ít người vàcác quốc gia lân cận), tra cứu từ nguồn các từ điển chữ Nôm cổ có ở trong nước cũng nhưđang lưu trữ ở nước ngoài để tìm cách giải mã, tìm ra âm đọc của hai từ SONG VIẾT. Từnhững kết quả khảo cứu trên, NTC đã đề nghị âm đọc của hai chữ SONG VIẾT là RÔNGVAT. NTC đã viết:“Cái ấn tượng đầu tiên đến với chúng ta là rông vát, rong vát, róng vát đọc lên nghe rấtlạ. Nhưng đây lại là từ đôi có sẵn, và khá cổ.Nói như cụ Đào Duy Anh thì đây đúng là những từ “thiên thành” đã được ghi nhận nhiềulần ở từ điển Génibrel (trong mục chữ róng và chữ vát) cả ở từ điển Taberd, từ điểnG.Huê, cả ở từ điển H.T Của (trong mục chữ róng). Riêng rông vát, rong vát thì chỉ xuấthiện ở H.T Của. Nhưng ở từ điển này lại còn có cả “giong vát” giảng ở mục chữ“giong” và “dông vat” nằm trong câu giải thích từ “dông dài”.Trong phần kết luận NTC đã nhận định:“Trong tình hình nghiên cứu hiện nay, có thể tạm cho song viết là cách ghi Nôm của rông vát, một từ đôi đã cổ, hiện chỉ còn lưu lại trong từ điển cuối thế kỷ XIX (Từ điểnthường ghi rông vát nhưng một lần ghi dông vát, một lần rong vát và một lần giong vác).Song viết là một lối ghi Nôm khá cổ và khá phù hợp với ngữ âm lịch sử.Với mô hình thanh điệu “bằng - trắc”, với đặc điểm ngữ pháp là một động từ đôi láynghĩa, và nhất là với nghĩa trường phong phú của mình (= dong chơi, thơ thẩn, nhàn tản,phóng túng…) rông vát đáng được xem là một từ tương đối đủ điều kiện để thoả mãn cácyêu cầu của 23 văn cảnh đang xét”.Sau năm 1975, NTC lại tiếp thu thêm từ miền Nam một cách đọc thứ 2 nữa là SONG viếtvới ý nghĩa Tài Sản. Cách đọc RÔNG VÁT trước kia thì đa nghĩa: từ cái nghĩa gốc là LANGTHANG XUÔI NGƯỢC, nhiều nghĩa phụ phát sinh:— LANG THANG XUÔI NGƯỢC > VUI THÚ, NGAO DU— LANG THANG XUÔI NGƯỢC > CHƠI BỜI, ĐÀNG ĐIẾM— LANG THANG XUÔI NGƯỢC > PHIÊU BẠT, VẤT VƯỞNGCách đọc SONG VIẾT với ý nghĩa là TÀI SẢN lại có ngoại diên rất rộng, do đó trong rấtnhiều câu hình như dùng RÔNG VÁT với ý nghĩa là VUI THÚ cũng được, mà dùng SONGVIẾT với ý nghĩa VUI THÚ cũng được. So sánh:Nguyễn Trãi:Đèn sách nhàn làm VUI THÚ nhoĐèn sách nhàn làm TÀI SẢN nhoNguyễn Bỉnh Khiêm:VUI THÚ hãy còn hai rặng quítTÀI SẢN hãy còn hai rặng quítLê Thánh Tông:VUI THÚ ai bằng VUI THÚ tiềuTÀI SẢN ai bằng TÀI SẢN tiều
--------------------------------------------------------------------------------
Page 7
Nhóm Hồng Đức:Bốn mùa VUI THÚ một thuyền chàiBốn mùa TÀI SẢN một thuyền chàiNhững văn cảnh chỉ dùng được một cách đọc duy nhất (hoặc là RÔNG VÁT hoặc là SONGVIẾT ) tự nhiên trở nên rất hiếm.Chúng tôi, là kẻ hậu học, chỉ biết noi gương người đi trước để cố gắng làm sao hiểu đượcnhững lời hay ý đẹp trong văn chương của cổ nhân. May sao, khi đọc những bài nghiên cứuvề hai chữ song viết, đặc biệt là những bài của GS Nguyễn Tài Cẩn, bổng nhiên tôi nhớ đếncâu hò cổ mà ngày xưa Bà và Mẹ chúng tôi đã hò để ru chúng tôi qua từng giấc ngủ:À ơi…Con chim đại bàng bay ngang hòn núi bạc, con cá ngư ông giong vát ngoài khơi.Gặp nhau đây phân tỏ một đôi lời, kẻo một mai tê con cá ngư ông về sông vịnh, con chimnọ đổi dời non cao.Hai chữ giong vát trong câu hò mà chúng tôi nêu ở trên cũng có người hò thành gióng vát.Ngoài ra, câu hò này vẫn còn có dị bản:Con chim đại bàng bay ngang hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nác ngoài khơi…Chúng tôi nghĩ rằng có thể vì nghe hai chữ giong vát (hay gióng vát) hơi lạ và khó hiểu nên người đời sau đã chữa thành móng nác (móng nước), và về sau hai chữ móng nác được sửdụng thịnh hành hơn. Ở làng Phò Trạch, những người lớn tuổi (khoảng 70 trở lên) trong đócó mẹ tôi cho đến nay vẫn hò đúng hai chữ giong vát (hay gióng vát). Chúng ta cũng dễ dàngnhận thấy rằng hai con vật nêu trong câu hò này là hai con vật khá đặc biệt: Đại bàng là mộtloài chim lớn nhất trong các loài chim, còn cá ngư ông, hay còn gọi là cá ông chính là loài cávoi to lớn nơi biển cả, mà đối với cá voi thì động tác “giong vác” có vẻ hợp lý hơn “móngnác”.6Hơn nữa đây đúng là trường hợp hiếm có đã nói ở trên: chỉ có thể dùng GIONG VÁCvới ý nghĩa XUÔI NGƯỢC, VUI THÚ, NGAO DU chứ không thể dùng cách đọc SONGVIẾT với ý nghĩa TÀI SẢN, CỦA CẢI.Trở lại với từ đôi rông vác hay dong vác mà NTC đã nêu trong các bài nghiên cứu, trước hếtchúng tôi nhận thấy rằng NTC đã có sự nhất quán trong quan điểm của mình khi cho rằngcách đọc của hai chữ song viết ở các bài thơ Nôm cổ nêu trên là rông vát hay dong vát, vàxem đây là “từ tương đối đủ điều kiện để thoả mãn các yêu cầu của 23 văn cảnh đang xét”.Trong bài tiếp theo: Bàn thêm về “song viết? song biết? song kiết? đăng trong Tạp chí Văn học số 6 năm 1975, NTC đã phân tích khá sâu về vấn đề này và tiếp tục “bảo vệ” giả thiết vềcách đọc Nôm hai từ song viết là rông vát. Tuy vậy, khi kết thúc bài viết, NTC vẫn chưahoàn toàn thoả mãn với những điều kiện mà ông đã nêu, ông mong sẽ còn những khám phámới về hai chữ này. Ông viết:6Trong cuốn Tự vị An Nam La Tinh của Pierre Pigneaux de Béhaine (1772-1773), có mụctừ Róng vát, được giải nghĩa là: (Buồm) chạy vát (xéo), trườn mình lên cao. Đặc biệt khi xét vềâm vận ở trong câu hò này ta dễ dàng nhận thấy các yếu tố: Bàng/ngang; ông /giong; khơi/lời;ông/sông; lời/dời).
--------------------------------------------------------------------------------
Page 8
“Cố nhiên chúng tôi vẫn hy vọng rằng đến đây vấn đề chưa phải là đã chấm dứt. Hyvọng rằng trong tương lai chúng ta sẽ đang còn có dịp phát hiện thêm được nhiều cứ liệumới nữa, phát hiện được một số lượng cần thiết, đáng tin cậy, đủ để dám đưa ra một sựkhẳng định dứt khoát hơn về cách đọc “rông vát”, hoặc đủ để có thể bác bỏ nó, tiến tớitìm ra được một giả thiết khác, thú vị hơn, gần chân lý hơn”.Khi dẫn chứng câu hò cổ này để lạm bàn thêm về hai từ giong vát, chúng tôi không dám nóilà một khám phá, hay phát hiện vì đây là câu hò mà chúng tôi và bao thế hệ người dân làng PhòTrạch đã được nghe từ thuở còn nằm nôi. Là một người con sinh ra và lớn lên trong một làng quêmang đậm dấu ấn của thời di dân mở nước của vùng Thuận Hoá, nơi còn bảo lưu những loạihình văn hoá dân gian của người Việt vùng đồng bằng ven biển Bắc bộ xưa. Đặc biệt, nơi đây tôiđã sinh ra và lớn lên trong môi trường ngôn ngữ “chân quê”, nơi mà những từ Nôm cổ của chaông xưa vẫn chưa hề biến mất trong trí nhớ của người lớn và trong ngôn ngữ đời thường. Chínhnhững yếu tố này đã giúp tôi dễ dàng tiếp cận để tìm hiểu văn tự Nôm nói chung và chữ Nômcủa vùng Thừa Thiên Huế. Câu hò cổ mà chúng tôi nêu ra hôm nay với mong muốn được đónggóp một cứ liệu nhỏ bé nhằm góp phần giải mã cách đọc Nôm của hai từ song viết. Chúng tôi rấtmong được các bậc thức giả chỉ bảo thêm. Đặc biệt là GS Nguyễn Tài Cẩn, người đã dày công nghiên cứu hai từ song viết trong hơn ba mươi năm. Chính nhờ được những bài nghiên cứu củaGS mà chúng tôi có được tư liệu để hoàn thành bài tham luận này
_____________________Tài liệu tham khảo1.Nguyễn Tài Cẩn: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb Đại học và Trung học chuyênnghiệp, Hà Nội, 1985.2.Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Nxb Văn học – Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Tp Hồchí Minh, 2001.3.Phát hiện thêm một cách phiên âm khác về hai chữ “song nhật”, Tạp chí Hán Nôm số3(44), Viện nghiên cứu Hán Nôm, 2000.4.Vũ Văn Kính: Học chữ Nôm, Nxb Đồng Nai, 1995.5.Cao Huy Thuần - Nguyễn Tùng - Trần Hải Hạc – Vĩnh Sính (cb), Từ Đông sang Tây,Nxb Đà Nẵng, 2005.6.Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu): Dictionarium Anamitico Latinum1772-1773 (Tự vị An Nam La Tinh), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giớithiệu, Nxb Trẻ, 1999.7.Huình Tịnh Paulus Của: Đại Nam Quốc âm tự vị, Sai Gòn, 1895.8.Lê Quý Đôn toàn tập, Tập I Phủ biên tạp lục, Nxb KHXH, Hà Nội.1977.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn,Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 07, 2007 10:51AM
Thập giới cô hồn:
- Rông viết liền tay, gương lờ non ánh (55b).

hà hà!
"cô hồn" mà viết lông rông, hoặc ngao du vui thú(đi lông rông vui chơi)
kể cũng là "cô hồn" ...độc đặc!.
gương lờ: mờ nhạt, lem luốc ?
non ánh: ánh sáng sớm ?
nghèo nàn liên miên, mặt mũi lem luốc, dậy sớm...chạy gạo..??

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 07, 2007 02:55PM
Trích trong Nguyễn Trãi toàn tập:....
Về cách đọc thì Quốc Âm Thi tập là bản Nôm tuy in vào thời Nguyễn, nhưng có nhiều chữ còn viết theo quy cách thời Lê sơ, cho nên so với các bản Nôm thời Nguyễn thì nó là sách khó đọc. Nhiều chữ sách đời sau viết theo cách hình thanh, mà sách này viết theo cách giả tá mượn chữ Hán đọc theo âm Hán Việt chệch đi là chữ Nôm thông dụng thời Lê sơ. Ví như "mừng" phần nhiều viết (những chỗ viết là 𢜠 là viết theo hình thanh đời sau), chữ "đêm" viết là 店..v.v., có những chữ phải đọc nhiều cách khác nhau, tùy nghĩa cả câu, như chữ có khi đọc là "chạy" có khi đọc là "trễ"..v.v.
...........
hì hì ! song viết lông rông thành song vách.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 07, 2007 07:00PM
Sang cùng khó bởi chưng trời,
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi.
Tả lòng thanh, vị núc nác,
Vun đất ải, luống mồng tơi.
Liêm cần tiết cả, tua hằng nắm,
Trung hiếu niềm xưa, mựa nỡ dời.
Con cháu chớ hiềm 双曰 ngặt,
Thi thư thực ấy báu ngàn đời.
Nguyễn Trãi.
....
một bài thơ chỉ cho thanh bần trung hiếu như vầy, nếu thay 双曰 là viết lông rông, hoặc đi vui thú lông rông thì thật ....quái dị.

con cháu chớ hiềm "vui thú" ngặt..?? smiling smiley, ( vui thú xả láng, no care! the future ..smiling smiley, ha ha!!

Sang cùng khó bởi chưng trời,
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi.
Tả lòng thanh, vị núc nác,
Vun đất ải, luống mồng tơi.
Liêm cần tiết cả, tua hằng nắm,
Trung hiếu niềm xưa, mựa nỡ dời.
Con cháu chớ hiềm đôi vách ngặt,
Thi thư thực ấy báu ngàn đời.
Nguyễn Trãi.

đôi vách: nhà, gia cảnh, gia cảnh bần hàn.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 08, 2007 07:53AM
昆𡥙馬嫌双曰賤
𠦳頭柑橘意U+f0033纙碎

...
hai câu này của cụ Nguyễn Trãi, ở trên ghi lầm của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm

..xin lỗi.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 08, 2007 07:54AM
昆𡥙馬嫌双曰賤
𠦳頭柑橘意纙碎
...
hai câu này của cụ Nguyễn Trãi, ở trên ghi lầm của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm

..xin lỗi.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 08, 2007 08:21AM
双曰矣羣台孕橘
thật câu này của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm
vậy ở trên ghi không lầm,
xin bỏ đính chánh ở trên.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: 石 生 (---.dip.t-dialin.net)
Date: July 08, 2007 10:40AM
Xin hỏi "đầu" cam quít là gì?
Và hai cụ Khiêm, Trãi đã cần gì chừng ấy nhiều (cây) cam quít?

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 08, 2007 12:00PM
Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi.
hà hà! ,
đây là cụ Nguyễn Trãi mượn ý chuyện Lí Hoành, ngàn đầu cam quýt không nhiều đâu, ý câu thơ trên theo tôi nghĩ là ý nói: gia cảnh sao thì sống vậy.

千頭橘奴】thiên đầu quất nô (ㄑ|ㄢ ㄊㄡˊ ㄐㄩˊ ㄋㄨˊ): 李衡植橘樹千株以養家並稱橘為奴見三國志˙卷四十八˙吳書˙三嗣主傳˙孫休傳˙裴松之˙注引襄陽記後遂以千頭橘奴為橘的代稱亦指用以維持家計的些許產業

漢英字典:
些許: a little; a few; a modicum.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 08, 2007 01:01PM
Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi.
cũng ý chỉ sống thanh liêm, của cải chỉ để tạm sống qua ngày.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 08, 2007 03:27PM
Con cháu chớ hiềm 双曰 tiện.(7)
Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi.(8)
Trong Nguyễn Trãi toàn tập (nhà xuất bản Khoa Học xã hội -Hà Nội)
dịch 双曰 là [nô bộc] và chú thích đoạn này:
Nô bộc tiện: tức là nghèo (ít), câu 8 nói rằng "Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi" thì càng rõ nghĩa nô bộc tiện.
Hai câu 7, 8 nghĩa là: con cháu đừng lo ít tôi tớ, vì nghìn hàng cam hàng quýt trong vườn đó là tôi tớ cả (xưa ta hay gọi đầy tớ là thằng cam, thằng quýt.
__________________________________
thực ra "ấy là tôi" không có liên hệ gì đến "tôi tớ" theo nghĩa đen, mà "nô" trong "quất nô" chỉ là gọi "cây quýt"
橘奴】quất nô (ㄐㄩˊ ㄋㄨˊ): 橘樹見木奴條˙杜甫˙驅豎子摘蒼耳詩加點瓜薤間依稀橘奴跡
木奴】mộc nô (ㄇㄨˋ ㄋㄨˊ): ① 丹陽太守李衡因其妻不善治家遂密遣十人於武陵龍陽洲上作宅種柑橘樹千株臨死乃告知兒女後家道殷足見三國志˙卷四十八˙吳書˙三嗣主傳˙孫休傳˙裴松之˙注引襄陽記後用以稱柑橘為木奴˙柳宗元˙柳州城西北隅種柑樹詩方同楚客憐皇樹不學荊州利木奴亦稱為橘奴。②果實的通稱
橘奴】quất nô《三國誌·吳誌·孫休傳》“ 丹陽 太守 李衡 裴鬆之 註引襄陽記》:“ 衡每欲治家妻輒不聽後密遣客十人於 武陵 龍陽 汜洲 上作宅種甘橘千株臨死敕兒曰:‘汝母惡我治家故窮如是然吾州裏有千頭木奴不責汝衣食歲上一匹絹亦可足用耳。’”後遂以橘奴為橘樹或橘子的別稱唐 杜甫 驅豎子摘蒼耳:“加點瓜薤間依稀橘奴跡。” 金 張子羽 壽張和滑益之:“病眼衹貪書味永渴心頻夢橘奴香。” 元 郝經 橄欖:“始覺衆果俗橘奴復棃兒。”
千頭木奴】thiên đầu mộc nô: 指千棵柑橘樹漢末李衡 為官清廉晚年派人於 武陵 龍陽 汜洲種柑橘千株臨死對他的兒子說:“汝母惡我治家故窮如是然吾州裏有千頭木奴不責汝衣食歲上一匹絹亦可足用耳。”三國誌·吳誌·孫休傳裴鬆之 註引襄陽記》、 晉 習鑿齒 襄陽耆舊傳·李衡傳》。後多用以為典亦省作千奴 ”。 宋 蘇軾 食柑:“坐客慇勤爲收子千奴一掬奈吾貧。”
..........................
Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi.
người cha làm quan thanh liêm, chỉ để lại các cây quýt cho con đủ sống qua ngày
.............................
xem các giải thích trong các từ điển Hán ở trên đây về chuyện "cam, quýt" .

Con cháu chớ hiềm 双曰 tiện.
Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi.

..thì rõ ràng "双曰" trong hai câu thơ này liên quan đến "gia cảnh đời sống".

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: huongho (---.socal.res.rr.com)
Date: July 10, 2007 07:39AM
Cửa đạt
Cảnh thanh mát thú càng thanh mát
Mọi cửa đều thông danh cửa Đạt.
Sóng lẩn đầu ghềnh thuở gió doi
Khói loà mặt nước khi sương toát.
Thanh thơi bến liễu tiện vào ra
Ngang dọc thuyền lan dầu cậy bát
Bờ cõi văng băng chẳng cấm ngăn
Mặc ai chiếm lấy làm SONG VIẾT.
BÙI XƯƠNG TỰ (NGHIÊN CỨU HÁN NÔM SỐ 1 NĂM 1986)

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: huongho (---.socal.res.rr.com)
Date: July 10, 2007 11:34AM
Tác giả Bùi Xương Tự (1656-1728)[là ông nội cuả Bùi Huy Bích (tác giả cuả Hoàng Việt Thi Văn Tuyển)]chỉ còn truyền lại 16 bài thơ Nôm chép trong sách Bùi Thị Gia Phả (kí hiệu A 640 thư viện Hán Nôm).Đáng tiếc lá Tạp Chí Hán Nôm không công bố nguyên bản chữ Nôm cuả bài thơ Cưả Đạt.Cứ theo nội dung bản phiên âm cuả bài thơ này,SONG VIẾT có lẽ có nghĩa là "Tài Sản, Cuả Cải".Còn âm Nôm cuả nó là gì thì vẫn chẳng ai biết cả.

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: 石 生 (---.dip.t-dialin.net)
Date: July 10, 2007 11:44AM
Âm vận trong thơ "Cửa đạt" rõ ràng là "-át" nên vận của "" chắc cũng là "-át" chứ!?

Re: "Song Viết" ..??
Posted by: Nguyển.Ng (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: July 10, 2007 12:18PM
Bồng châu
Càng ngẫm càng nhìn hãy chửa no
Cảnh nào hơn nữa cảnh Bồng Châu.
Hoa mừng xuân tới hoa phô gấm
Mai đượm sương nhuần lá điểm châu.
Vơ giỏ chiều ai nàng Chức Nữ
Trưa cày vì chúa đứa nông phu.
Ước đâu mượn được tài tay thợ
Một bức đan thanh ướm vẽ đồ.
BÙI XƯƠNG TỰ (NGHIÊN CỨU HÁN NÔM SỐ 1 NĂM 1986).

Goto Page: 12345678910Next
Current Page: 1 of 10


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity