Việt Sử - VN History :  Diễn Đàn Viện Việt Học
This forum hosts all discussions on VH History topic.  
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Current Page: 8 of 11
Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lê Hải Nam (125.212.249.---)
Date: March 16, 2009 08:38AM
Bạn Gôclê,

Khi nào rãnh rỗi tôi sẽ viết lại cho rõ ràng hơn, bổ sung thêm các nguồn tham khảo, các đọan trích dẫn, phần lớn lấy từ Internet xuống. Bạn Gôclê nếu có điều kiện thu thập thêm các nguồn thông tin về Longhouse, Family and kinship, Tribalism, Early state… để chúng ta cùng trao đổi thêm nhé!

Tiện đây cũng xin (tôi cũng sẽ dán lên một topic khác, vì topic này nói về ý nghĩa chữ “lạc” và cũng dài quá rồi) cung cấp thêm ý nghĩa các chữ khác (đều dựa trên kho từ nguyên của G.Starostin, đặc biệt chú ý từ nguyên Tiền Nam Á, nhánh Katu-Banahric, mà các học giả đều xem là anh em ruột của Vietic, theo Ferlus thì quê hương của 2 nhánh này ở Trung Lào, sau bị nhánh Khmer chen vào, đầy Vietic lên phía Bắc và Katu-Bana xuống phía Nam), mời bạn thẩm xét và cho ý kiến:

Viết tắt (PA: proto-Austic, PAA: Proto-Austoasiatic, Ka: Katuic, Ba: Banahric)

1.MÊ LINH: LÀNG MẸ
Me (PA, PAA, Ka, Ba.): Mẹ;

Ring : Làng, liên làng
Proto-North-Bahnaric: *ri:ŋ.L, tǝ-
Meaning: village
Bahnaric etymology:
Rengao form: tǝri:ŋ.L
Rengao meaning: village lands
Jeh form: tǝri:ŋ.L
Jeh meaning: administrative area
Sedang form: tǝriŋ.L
Sedang meaning: large area

(Theo Tự điển Bahnar- Pháp của Hội Thừa sai Paris xuất bản năm 1866 thì RING/TƠRING là : “ lãnh thổ được xác định rõ ràng, nơi tọa lạc tất cả các làng cùng một nhóm (và có lẽ cùng một nghuồn gốc)” (Territoire nettement délimité où sont situés tous les villages d’un même groupe (et sans doute de même origine))/

Hiện nay, các ring/tơring là một nhóm nhiều làng phổ biến ở vùng người Bahnar và Jarai. Theo CHU THÁI SƠN, NGUYỄN TRƯỜNG GIANG thì “ “ T’ring vốn là cộng đồng lãnh thổ. Những làng cùng một T’ring có thể do một làng gốc sau đó phát triển thành một làng lân cận. Theo tập quán họ vẫn xem nhau như người cùng một làng….Các chủ làng cử ra một chủ làng có uy tín cao nhất (thường là chủ làng lớn nhât) làm người đứng đầu t’ring “ (Người Gia rai, NXB Trẻ, HCMC 2004, trang 56)

Làng Mẹ là do các con (thế hệ gần) gọi như thế, các thế hệ sau phải gọi là LÀNG BÀ NGỌAI (xem dưới)

2.GIA NINH (Gia: từ ja; bà ngọai (PA, PAA, Ka, Ba),Ning từ Ring ở trên

Làng Mẹ và Làng bà ngọai phải gần nhau, hoặc bao trùm lên nhau, làng mẹ có trươc, sau đó thành Làng bà Ngọai. Vậy Mê Linh có trước Gia Ninh (huyện Gia Ninh mới đặt từ đời Ngô(Tam Quốc ) trên đất huyện Mê Linh đời Hán, theo Cựu Đường thư, Địa Lý chí)

Vậy còn LÀNG CHA ở đâu? Ở gần đó thôi, vì CHA và MẸ phải thuộc hai thị tộc gần nhau (hai thị tộc họ hàng). Đó là làng YÊN LÃNG

3. YÊN LÃNG:

LÃNG từ /lang/, /lhang/ Chỉ xóm nhà (PA, PAA)
YÊN từ Uam (Starostin):
Proto-East Katuic: *ʔam / *ʔuam
Meaning: father
Presyllable: ʔǝ-
Katuic etymology:
Pakoh: ʔaʔam
Pakoh meaning: father

Huyện Yên Lãng trước năm 1954 nằm kế bên huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phú), nay nhập vào huyện Mê Linh (mới) thuộc Hà Nội/

Đã có người để ý đến các âm linh, ninh, lang, lãng này rồi, nhưng khổ thay, ông ta (Trần Quốc Vượng) lại cho rằng nó mang tên một lòai chim là chim Bling, chim Blang ở Tây Nguyên, một lòai chim thần trong truyền thuyết, tức chẳng ai thấy cả, ông này là học trò ông Đào Duy Anh, người đầu tiên cho rắng Lạc là tên một con chim mà ông ta cho là chim trên trống đồng). Tham khảo bài về chim Bling chim Blang của ông Vượng ở dưới:

[www.baodatviet.vn]

4, VĂN LANG:
LANG : xem trên
VĂN có nghĩa là to lớn, bự xem Starostin:

Proto-Austric: *PVm
Meaning: big
Proto-Austroasiatic: *pǝ:m / *bʔǝm
Austroasiatic meaning: big
Proto-Thai: bǝ:m.A to increase; bʔe:m.C huge CK
Khmer: sǝmpɔ:ǝm
Meaning: huge, vast

Vậy Văn Lang là cái làng to, to nhất trong các làng (cho nên mới có tên như thế), mà làng to nhất là làng có thế lực hùng mạnh nhất (dân đông thì làm vua, dân ít thì làm cướp). Văn Lang là cái làng lâu đời nhất, làng gốc vậy. Địa điểm cụ thể ở đâu? Ở di chỉ LÀNG CẢ (nay thuộc thành phố Việt Trì, không xa Mê Linh bao nhiêu). Xem thông tin về khảo cổ di chỉ LÀNG CẢ (làng bự nhất, tương tự con cả: con lớn nhất) trong link dưới:

[www.lyhocdongphuong.org.vn]

(Dưới đây tóm tắt một số từ nữa, chờ rảnh nói rõ hơn):

5. TÂY VU : Đất tổ

TÂY từ Tej (PA, PAA, Ka, Ba): đất (mãi tới thời Trần, theo sứ Nguyên Trần Phu, dân Đại Việt còn gọi đất là /tei/ Theo phiên âm của Trần Phu (dân Khmer hiện nay gọi là /đây/
VU: BU từ Apu , Pu (PAA, PA): cha, tổ tiên

6.TÂY THỤC : vùng Đất của nước (quốc gia, lãnh thổ)

TÂY (xem trên)
THỤC : từ sruk, srik (PAA, PA, Ka, Ba) : vùng lãnh thổ, xứ sở, quốc gia (Khmer hiện là srok, mà dân ta gọi là Sóc như Sóc Trăng)
(để ý, cũng trong bảng từ Starostin trên thì sáu (số 6) từ nguyên PAA là /šraw/ (chữ š đọc như tiếng Tiệp (tức sz của Ba lan, nhẹ hơn sh của Anh)

Tây Thục không phải ở bên Tàu (tỉnh Tứ Xuyên) mà là Tây Thục gần sát Giao Chỉ , đã đem quân cùng Mã Viện đánh giáp công Hai Bà Trưng (theo Thủy Kinh chú). Vậy Tây Thục có thể là « nước » của người Khmer

7.TÂY ĐỒ : Đất lớn, đất của người Kdu (Katu)

TÂY ; đất
ĐU : duw (PA, PAA) « rộng, to, bự )

(theo tiếng Bana thì kơdua là làng, xóm).

Nước Tây Đồ ở phía nam Lâm Ấp, có thể là nước của người Katu (và Bana)

8.THỤC PHÁN (tên người)

THỤC từ srok (đã nói ở trên)
PHÁN từ Pon (Khmer)/Phum (Chăm) : ông chủ , vậy Thục Phán : chủ xứ sở, chúa lãnh thổ

9.TRƯƠNG DU : (tên người)

(Theo Hậu Hán Thư, vào năm 36AD, thủ lĩnh của người mọi (Man lý) ở bên ngòai Cửu Chân là Trương Du xin thần phục nhà Hán, được phong tước là QUY HÁN LÝ QUÂN (chúa của dân man theo về Hán)

TRƯƠNG hay CHƯƠNG : chàng trai con nhà quý tộc (còn dùng trong tiếng Lào và Khơmú) (trong tiếng ta thì trương là bất cứ CHÀNG trai nào : thí dụ Trương Ngáo : chàng ngốc, Trương Hống : chàng rống...)
DU hay Đu (bự , khỏe, đã nói ở trên, từ này sau ra là Đô (đô vật). Có thể Trương Du là thủ lĩnh của Tây Thục nói trên (vì đã quy Hán, nhận tước phong rồi nên phải theo Hán đánh Giao Chỉ vậy)

Còn nữa (Cửu Chân, Hoan châu, Lâm Ấp, Hòan vương, Cứu bất sự...)... từ từ đăng.......

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: gôcLê (---.rev.stofanet.dk)
Date: March 17, 2009 02:27AM
gôcLê biết là bác muốn gì rồi :-) Nhanh nhanh lên. Không thôi không kịp với những chàng nghiệp dư cũng từng ăn dầm nằm dề trong kho từ nguyên starling.ru.net :-) Đùa thôi chứ gôcLê biết chắc là bác không lo gì về hướng này :-)

Nồi cơm của gôcLê đang rạn nứt nghiêm trọng (bị vạ lây do bệnh ..."phồn vinh giả tạo" :-)), nhưng sẽ tranh thủ tiếp tục tìm hiểu về early statformation etc.

Lúc trước, khi biết có thêm một nha chương nữa được tìm thấy ở vùng thuộc ... đẩt tổ, gôcLê đã thấy nổi gai ốc do liên tưởng từ Tây Vu đến (PAA)*tVw, (Proto-Bahnaric)*taw =vua. Nhất thời không biết âm Hán cổ của Tây Vu có giá trị gì không khi so với đề nghị của bác, Tây Vu = đẩt tổ ? :-)

Nhưng khg. 2500 trước Tây Vu xem chừng toàn nước là nước? Nếu đúng thế, (ăn cắp ý NK :-)), lúc đó biết đâu nó có thể đã là một bến cảng, cửa khẩu thông thương, và do đó một phần thành Cổ Loa bắt đầu thành hình dần do nhu cầu, như một *dʔa:j (Proto-Bahnaric: SB *da:j; Khmer: pǝnda:j; fence, forth), còn *ńV (nhà) định cư, nhà tổ, đất tổ... ở sâu bên trong, đúng như đồng thuận khảo cổ ? Tác giả NK có ý cho là người dựng truyện An Dương Vương đã từ pǝnda:j (giữa những điều khác) mà liên tưởng đến Pandu, Pandeva, rồi từ đó Arjuna -> An Dương Vương.
Bác thấy sao? :-)

Nhân tiện cũng ghi thêm để may ra gợi hứng cho bác:

? Trắc <- Proto-Vietic: *cat, Proto-Katuic: *cVt

? Trưng <- Proto-Vietic: *lulh, t-, Proto-Katuic: *riɛl

Trưng Trắc là Trứng chắt, ("chắt" không sai chính tả, và Trứng hiểu theo ý nghĩa của truyện tích về nguồn gốc của Mường, Việt) của... *tVw :-)

gôcLê

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: huong ho (---.socal.res.rr.com)
Date: March 17, 2009 06:50AM
Bác Lê Hải Nam kính , bác bảo : [ Orang kaya (người giàu) có thể chuyển qua tiếng ta là kẻ khá giả ] làm tôi lại nhớ quay nhớ quắt đến cụ Bình Nguyên Lộc . Xin bác làm ơn nói rõ cho tôi biết về sự liên hệ giữa Vietic , Nam đảo , Katuic , Bahnaric với tiếng Tầu qua phát biểu Lạc Tướng = người lớn , người quan trọng (Big Man).

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Tích Dã (123.18.147.---)
Date: March 17, 2009 10:48PM
水经注

淹水叶榆水夷水油水澧水沅水泿水


交州外域记越王令二使者典主交趾九真二郡民后汉遣伏波将军路博德讨越王路将军到合浦越王令二使者赍牛百头酒千钟及二郡民户口簿诣路将军乃拜二使者为交趾九真太守诸雒将主民如故交趾郡及州本治于此也州名为交州后朱雒将子名诗索泠雒将女名征侧为妻侧为人有胆勇将诗起贼攻破州郡服诸雒将皆属征侧为王治泠县复交趾九真二郡民二岁调赋后汉遣伏波将军马援将兵讨侧诗走入金溪究三岁乃得尔时西蜀并遣兵共讨侧等悉定郡县为令长也
____________


Thủy kinh chú

Sông Yêm, sông Diệp Du, sông Di, sông Du, sông Lễ, sông Nguyên, sông Ngân


"Giao châu ngoại vực kí" nói: Việt Vương ra lệnh hai sứ giả làm chủ dân ở hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, sau nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức đánh dẹp Việt Vương. Lộ tướng quân đến Hợp Phố, Việt Vương ra lệnh hai sứ giả đem trăm con trâu, nghìn vò rượu, cùng sổ hộ khẩu của dân hai quận, đến yết kiến Lộ tướng quân. Bèn cho hai sứ giả làm Thái thú Giao Chỉ, Cửu Chân. Các Lạc tướng làm chủ dân như cũ. Quận Giao Chỉ và châu trị vốn ở đất này [Giao Chỉ] vậy, tên châu là Giao Châu. Sau con của Lạc tướng Chu [Chu Diên] tên là Thi, hỏi con gái của Lạc tướng Linh [Mi Linh] là Chinh Trắc [Trưng Trắc] làm vợ, Trắc là người đảm lược, cùng với Thi làm giặc, đánh phá châu quận, chinh phục các Lạc tướng, đều thuộc Chinh Trắc, làm vương, trị ở Linh, bỏ thu thuế hai năm cho dân ở hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Sau nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Mã Viện đem quân đánh Trắc, Thi chạy vào suối Kim Khê, ba năm mới bắt được. Thời ấy Tây Thục cùng phối hợp đem quân đánh Trắc, dẹp xong quận huyện lập ra lệnh trưởng [chức quan huyện lệnh] vậy.


[guji.artx.cn]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.77.---)
Date: March 18, 2009 01:32AM
Xin góp ý một chút với các bác :
Theo tôi thì việc dùng các ngôn ngữ Đông Nam Á hay các ngôn ngữ lân cận với tiếng Việt như Mường, Thái, Tày...để tìm hiểu ý nghĩa của các chữ Hán như Lạc Việt, Lạc Vương, Lạc tướng...chẳng soi sáng được gì vì ngay chính tiếng Việt mình xưa nhất cũng chỉ còn biết đến thông qua văn bản chữ Nôm còn lại từ đời Trần và các tự điển, tự vị xưa liên quan chữ quốc ngữ cũng không thể biết âm xưa nhất của chữ ký âm cho tiếng Việt cổ ra sao nhưng qua truyền khẩu và tài liệu xưa nhất ( Trương Vĩnh Ký viết quốc ngữ là Lạc Việt trong Cours d'histoire annamite - Trương Vĩnh Ký - Saigon 1875 ) cho biết có âm là " LẠC " nhưng âm Hán việt lại không hề có âm tương đương ! Tình hình này cũng vậy đối với các ngôn ngữ khác vì thật khó xác định tiếng cổ ở giai đoạn lịch sử nào nhất là khi không có các tài liệu chữ viết ký âm. Nê khi lấy ngôn ngữ khác làm chuẩn mực để xác nhận tiếng Việt thì e rằng là một nghịch lý, nếu không nói là thiếu khoa học , có khi còn ngớ ngẩn là đằng khác !

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: gôcLê (---.rev.stofanet.dk)
Date: March 18, 2009 02:35PM
Cám ơn bác Tích Dã đã dịch đoạn Thủy Kinh Chú. Hai Bà Trưng xuất thân thế nào theo sách cổ TQ không quan trọng lắm đối với người Giao Chỉ trước sách này mấy trăm năm. Đối với họ, Hai Bà là cháu chắt của vị lãnh đạo thần thánh của họ, điều Lĩnh Nam Chích Quái vv. đã ghi lại. Nếu bác đọc Đẻ Đất Dể Nước, có lẽ bác cũng thấy có chỗ mà mô tả đôi chim thần như thể lẩn lộn với kí ức về Hai Bà. Đó chỉ là một trong vài manh mối mà cần thiết thì gôcLê sẽ đưa ra.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Tích Dã (123.18.144.---)
Date: July 21, 2009 02:53AM
后汉书

吴盖陈臧列传


臧宫字君翁颍川郏人也。...

十一年将兵至中卢屯骆越。[]是时公孙述将田戎任满与征南大将军岑彭相拒于荆门彭等战数不利越人谋畔从蜀宫兵少力不能制会属县送委输车数百乘至宫夜使锯断城门限令车声回转出入至旦越人候伺者闻车声不绝而门限断相告以汉兵大至其渠帅乃奉牛酒以劳军营宫陈兵大会击牛酾酒飨赐慰纳之,[]越人由是遂安

[]中卢县名属南郡故城在今襄州阳县南盖骆越人徙于此因以为名
_______________


Hậu Hán thư

Ngô Cái Trần Tang liệt truyện


Tang Cung tự Quân Ông, người huyện Giáp, quận Dĩnh Xuyên...

Năm thứ mười một, đem binh đến Trung Lô, đóng đồn ở Lạc Việt. [Nhất] Bấy giờ Công Tôn Thuật đem Điền Nhung, Nhậm Mãn cùng Chinh Nam Đại tướng quân Sầm Bành chống nhau ở Kinh Môn, bọn Bành đánh nhiều trận không được lợi, người Việt mưu tính làm phản theo quân Thục. Quân của Cung ít, sức không thể chống đỡ. Gặp lúc thuộc huyện chuyên chở mấy trăm cỗ xe đến, Cung nhân đêm tối sai cưa đứt cánh cửa thành. Khiến cho cho tiếng xe ra vào đến sáng. Người Việt nghe ngóng nghe tiếng xe không dứt, mà cánh cửa bị đứt, bảo nhau cho là quân Hán đến. Cừ súy của họ bèn đem trâu ngựa đến để an ủi quan quân. Cung bày binh hội họp, giết trâu rót rượu, bày tiệc ban thưởng cho họ, do đó người Việt mới yên.

Chú thích [Một] Trung Lô, tên huyện, thuộc Nam Quận, thành cũ ở phía nam của Dương Huyện, Tương Châu. Có lẽ người Lạc Việt dời đến đấy, nhân đấy lấy làm tên.


[cathay.ce.cn]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Tích Dã (123.18.144.---)
Date: July 21, 2009 03:15AM
通典卷第一百七十七

州郡七


襄阳汉中庐县也盖貉越人徙于此在襄水之阳又有汉水及岘山又有马鞍山昔晋刘弘山简九日宴处

________


Thông điển

Châu quận


Huyện Tương Dương là huyện Trung Lô thời Hán. Có lẽ người Lạc Việt dời đến đó, ở phía bắc sông Tương. Lại có sông Hán và núi Hiện. Lại có núi Mã Yên, xưa người thời Tấn là Lưu Hoằng, Sơn Giản bày tiệc chín ngày ở đó.


[202.101.244.103]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Tích Dã (123.18.144.---)
Date: July 21, 2009 04:10AM
文选


杂诗十首五言

张景阳

昔我资章甫聊以適诸越章甫以喻明德诸越以喻流俗也庄子曰宋人资章甫而適诸越越人敦发文身无所用之司马彪曰断也取也章甫冠名也於也尔雅曰往也行行入幽荒欧骆从祝发史记曰东海王摇者其先越王勾践之後也姓驺氏摇率越人佐汉汉立摇为东海王都东瓯世俗号为东瓯王徐广曰驺一作骆穀梁传曰夷狄之国祝发文身范甯曰断也郑玄毛诗曰随也。...

_________________


Văn tuyển


Tạp thi

Trương Cảnh Dương

Xưa ta lấy mũ chương phủ, tạm để đến với người Chư Việt. Chương phủ, để dụ đức sáng. Chư Việt, để dụ thay tập tục. Trang Tử nói: Người nước Tống lấy mũ chương phủ đến người Chư Việt, người Việt cắt tóc vẽ thân, không có ai dùng nó. Tư Mã Bưu nói: độn, là đoạn vậy. Tư, là thủ vậy. Chương phủ, tên mũ. Chư, là Ư vậy. Nhĩ Nhã nói: Thích, là vãng vậy. Đi vào chỗ xa xôi, người Âu Lạc theo nhau cắt tóc. Sử kí nói: Đông Hải Vương Dao, tổ tiên của ông ta là con cháu của Việt Vương Câu Tiễn, họ Sô. Dao thống lĩnh người Việt giúp nhà Hán, nhà Hán lập Dao làm Đông Hải Vương, đô ở Đông Âu, người đời gọi là Đông Âu Vương. Từ Quảng nói: "Sô, đều viết là Lạc. Cốc Lương truyện nói: "Ngô, là nước của người Di Địch, cắt tóc vẽ thân. Phạm Ninh nói: Chúc, là đoạn. Trịnh Huyền mao thi nói: Tòng, là tùy vậy...


[www.guoxue.com]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.fpt.vn)
Date: February 01, 2010 09:39PM
嶺南摭怪
Lĩnh Nam trích quái

鴻龐氏傳
Hồng Bàng thị truyện

貉龍君
Lạc Long Quân

涇陽王
Kinh Dương Vương

嫗姬
Ẩu Cơ

[zh.wikisource.org]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.fpt.vn)
Date: February 01, 2010 09:43PM
嶺南摭怪
Lĩnh Nam trích quái

金龜傳
Kim quy truyện


甌貉國安陽王
Âu Lạc quốc An Dương Vương

清江使
Thanh giang sứ


[zh.wikisource.org]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.fpt.vn)
Date: February 01, 2010 09:48PM
史記
Sử kí

南越列傳
Nam Việt liệt truyện

甌駱
Âu Lạc


[zh.wikisource.org]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.fpt.vn)
Date: February 01, 2010 10:01PM
史記
Sử kí

龜策列傳
Quy sách liệt truyện

江使
Giang sứ

神龜
Thần quy

宋元王二年江使神龜使於河至於泉陽漁者豫且舉網得而囚之置之籠中夜半龜來見夢於宋元王曰:「我為江使於河而幕網當吾路泉陽豫且得我我不能去身在患中莫可告語王有德義故來告訴。」元王惕然而悟
Tống Nguyên Vương nhị niên, Giang sứ thần quy sứ ư Hà, chí ư Tuyền Dương, ngư giả Dự Thả cử võng đắc nhi tù chi. Trí chi lung trung. Dạ bán, quy lai kiến mộng ư Tống Nguyên Vương viết: "Ngã vi Giang sứ ư Hà, nhi mạc võng đương ngô lộ. Tuyền Dương Dự Thả đắc ngã, ngã bất năng khứ. Thân tại hại trung, mạc khả cáo ngữ. Vương hữu đức nghĩa. Cố lai cáo tố". Nguyên Vương dịch nhiên nhi ngộ.


[zh.wikisource.org]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.fpt.vn)
Date: February 01, 2010 10:12PM
Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (1):

Quốc tổ mang hai giòng máu


Truyền tích bà Ngu Kơ của Mường được kể như sau [9]:

Ngày xửa ngày xưa, có một nàng công chúa xứ Mường tên là Ngu Kơ, mang tiền kiếp một con nai có đốm ngôi sao (cerf étoilé), cưới một ông hoàng tử con byua Yịt tên Lương Wong, gốc vốn loài cá. Ít lâu sau, Ngu Kơ sinh được 50 con gái và 50 con trai. Nhưng rồi cơm không lành canh chẳng ngọt. Từ ở chỗ con cái không đủ đồ ăn thức uống, Ngu Cơ và Lương Wong ưa cãi vã với nhau. Cuối cùng, Ngu Kơ và Lương Wong đành phải chia tay, đôi ngả đôi ta. Ngu Kơ dẫn 50 người con lên miền rừng núi, và Lương Wong dẫn 50 người con kia xuôi về miền sông biển. Ngu Kơ và đám con tạo nên những dòng vua chúa mặc áo màu đen, và Lương Wong, các gia đình vua mặc áo màu vàng.

Dân Mường thờ kính bà Ngu Kơ như mẫu tổ và thường làm cờ có hình con nai đốm sao, như một vật tổ để tưởng nhớ đến bà.


[9] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mương – Géographie humaine et sociologie. Institut d’Ethnologie. Paris


[e-cadao.com]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.fpt.vn)
Date: February 01, 2010 10:18PM
水經注
Thủy kinh chú

交州外域記
Giao Châu ngoại vực kí


雒田
Lạc điền

雒民
Lạc dân

雒王
Lạc vương
雒侯
Lạc hầu

雒將
Lạc tướng


[zh.wikisource.org]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.fpt.vn)
Date: February 01, 2010 10:31PM
= = (各聲)



[www.zdic.net]

[www.zdic.net]

[www.zdic.net]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (117.6.129.---)
Date: January 07, 2012 07:05AM
雒越是个伟大的民族
Lạc Việt là một dân tộc vĩ đại

Thời gian đăng bài: ngày 02 tháng 07 năm 2010


[www.luoyue.net]


________________


Bài này có giải thích từ "Lạc", "Việt", "Di", "Bộc".

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (171.237.190.---)
Date: January 07, 2012 02:43PM
Trang [www.luoyue.net] đọc có cảm giác như tung hỏa mù. Trong đó không hề đả động gì đến người Việt (Kinh) là nhóm Lạc Việt chính cả, chỉ có đoạn nhắc tới người Kinh trong số các hậu duệ Bách Việt nhưng xếp người Kinh gần áp chót: "Hậu duệ các tộc Bách Việt nay phân hóa thành Tráng tộc , Đồng tộc , Thái tộc , Thủy tộc , Bố y tộc , Mô lão tộc , Ngật lão tộc , Lê tộc , Di tộc , Cáp ni tộc , Ngõa tộc , Lạp cổ tộc , Nạp tây tộc , Bố lãng tộc , Đức ngang tộc , Miêu tộc , Dao tộc , Mao nam tộc , Kinh tộc , Thổ gia tộc , Cao sơn tộc, gồm 21 tộc" (như vậy đã lờ đi không kể các nhóm đã Hán hóa như Mân Việt... ?)

Ngay từ trang 1 của thread này, bác Huongho đã chỉ ra là chữ Lạc được đề cập sớm nhất trong Sử ký, xin mạn phép trích lại:
"Sách đầu tiên nhắc đến tên Lạc là Sử Kí của Tư Mã Thiên ( 145-86 ? B.C. ) ở quyển 113 , Nam Việt Liệt Truyện . Ðoạn văn đó như sau : 高后崩卽罷兵佗因此以兵威邊財物賂遺閩越西甌役屬焉 = “Cao hậu băng , tức bãi binh . Ðà nhân dĩ binh oai biên , tài vật lộ dị Mân Việt , Tây Âu , Lạc , dịch thuộc yên = Cao Hậu mất, liền bãi binh . Đà nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu, Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình ."

Muộn hơn là Hán Thư, có nhắc đến Lạc Việt trong Nam Man Truyện, Mã Viện Truyện, Tang Cung Truyện.

Cả hai sách trên đều không cho biết cụ thể dân "Lạc" là tộc nào. Nhưng căn cứ vào Mã Viện truyện trong Hán thư viết “援好马善别名马于交趾得骆越铜鼓乃铸为马式” = "Viện thích ngựa, hay dùng biệt danh Mã, vào Giao Chỉ lấy được trống đồng (của người) Lạc Việt thì đem đúc ngựa" ... thì có thể đoán Lạc Việt là các nhóm tộc có dùng trống đồng, mà đông nhất chính là ở Giao Chỉ.

Riêng sách "Dư địa chí" của Cố Dã Vương 顾野王(519—581) thì chỉ đích danh Lạc Việt là Giao Chỉ "交趾周时为骆越秦时曰西瓯" (Giao Chỉ thời Chu là Lạc Việt, thời Tần gọi là Tây Âu). Tây Âu lại được một số sách TQ giải thích là vùng phía tây Quảng Tây và Quế Lâm, như vậy chính sách của TQ đã "gợi ý" cho Đại Việt Sử Ký Toàn thư kể cương vực nhà nước Văn Lang là cả Lưỡng Quảng và vùng Tương Giang phía nam hồ Động Đình, chứ không phải do sách Lĩnh Nam Trích Quái (đời Trần, thế kỷ 14) "đầu têu".

Ngoài ra chữ "LẠC" được đề cập trong Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ 4) được Thủy Kinh Chú (thế kỷ 6) dẫn lại, cũng gắn liền với Giao Chỉ : 交趾昔未有郡县之时土地有滩田其田从潮水上下民垦食其田因名为雒民设雒王雒侯主诸郡县县多为雒将雒将铜印青绶 = Giao Chỉ tích vị hữu quận huyện chi thì ,thổ địa hữu Lạc điền. Kì điền tòng triều thuỷ thượng hạ ,dân khẩn thực kì điền ,nhân danh vi Lạc dân. thiết Lạc vương 、Lạc hầu ,chủ chư quận huyện .Huyện đa vi Lạc tướng ,Lạc tướng đồng ấn thanh thụ . = Xưa lúc Giao Chỉ chưa có quận huyện , đất đai có ruộng Lạc . Ruộng ấy theo nước triều lên xuống ( mà làm ) , dân khai khẩn ruộng ấy ( mà ăn ) nên gọi là dân Lạc . Ðặt Lạc vương , Lạc hầu để làm chủ các quận huyện . Các huyện phần nhiều là các Lạc tướng , Lạc tướng thì có ấn đồng giải xanh

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.17.---)
Date: January 07, 2012 03:17PM
Đó là trang nhà của người Quảng Tây, cả người Hán và Choang nên có "thiên vị". Họ còn cố chứng minh là kinh đô của 骆越古国 nước Lạc Việt cổ là ở bên 大明山 núi Đại Minh gần thành phố Nam Ninh ngày nay, cương vực của nước Lạc Việt cổ phía bắc đến sông Quế, phía nam đến đồng bằng sông Hồng ở miền bắc Việt Nam.

Xưa thì sử gia Việt bành trướng nước Văn Lang lên đến hồ Động Đình, nay sử gia Quảng Tây lại bành trước "nước Lạc Việt cổ" xuống đến đồng bằng sông Hồng!

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.17.---)
Date: January 07, 2012 03:59PM
Chắc nhiều người rất giật mình (shock) với quan niệm trên. Chưa hết, còn động trời hơn là từ nghiên cứu của tác giả 覃圣敏 Đàm Thánh Mẫn trong hai bài viết vào năm 2011 vừa rồi rằng:

瓯骆古都及其南迁
Kinh đô cổ của người Âu-Lạc và sự di chuyển về phía nam của nó
[www.luoyue.net]

西瓯骆越新考
Khảo cứu mới về Tây Âu-Lạc Việt
[www.luoyue.net]

Sau khi phân tích suy đoán, tác giả kết luận như sau:

至此我们可以把从秦始皇用兵岭南开始到瓯骆国最后灭亡的时间表简列如下

公元前219秦军开始进军岭南并抵达今广西兴安县的湘江上游

公元前218开始凿挖灵渠

公元前216灵渠凿通秦军得以继续南进深入西瓯地并击杀西瓯君公元前216年下半年至215年上半年瓯骆联盟成立夜袭并重创秦军

杀秦军将领尉屠睢秦军迅速补充集结准备与瓯骆盟军决战

公元前215瓯骆联盟仓促南迁在今越南北部建立了瓯骆国并建造螺城企图抵抗秦军

公元前214秦军攻破瓯骆国并在岭南设置三郡

公元前208瓯骆国的王族乘陈胜吴广起义中原动乱之机复国

公元前205-204复国后的瓯骆国又被赵佗攻破从此臣服于南越国

公元前112汉武帝开始发兵平定南越

公元前111南越国瓯骆国最后灭亡

"Đến đây, chúng ta có thể đặt ra biểu thời gian từ khi Tần Thủy Hoàng dùng binh mở mang đất Lĩnh Nam đến khi nước Âu Lạc bị diệt như sau:

- Năm 219 TCN, quân Tần bắt đầu tiến quân đến Lĩnh Nam cùng đến thượng du sông Tương thuộc huyện Hưng An - tỉnh Quảng Tây ngày nay.

- Năm 218 TCN, bắt đầu đào vét kinh Linh Cừ

- Năm 216 TCN, đào xong kinh Linh Cừ, quân Tần được thể tiếp tục tiến về phía nam, vào sâu đất Tây Âu và giết quân trưởng của người Tây Âu. Từ nửa cuối năm 216 TCN đến nửa đầu năm 215 TCN, liên minh Âu-Lạc thành lập, buổi đêm đánh úp đại phá quân Tần, giết chủ tướng của quân Tần là Đồ Thư. Quân Tần nhanh chóng tăng viện, tập kết, chuẩn bị quyết chiến với liên quân Âu-Lạc.

- Năm 215 TCN, liên minh Âu-Lạc vội vàng chuyển về phía nam, đắp dựng thành Loa và lập nên nước Âu Lạc, mưu đồ đánh chống quân Tần.

- Năm 214 TCN, quân Tần đánh phá nước Âu Lạc, cùng lúc đặt ra ba quận ở Lĩnh Nam.

- Năm 208 TCN, quý tộc của nước Âu Lạc thừa lúc Trần Thắng-Ngô Quảng khởi nghĩa, Trung Nguyên rối loạn mà dựng lại nước.

- Năm 205-204 TCN, nước Âu Lạc sau khi dựng lại lại bị Triệu Đà đánh phá, từ đó thần phục vào nước Nam Việt.

- Năm 112 TCN, Hán Vũ Đế bắt đầu phát binh bình định Nam Việt.

- Năm 111 TCN, cuối cùng nước Nam Việt, nước Âu Lạc diệt vong".

Current Page: 8 of 11


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity