Việt Sử - VN History :  Diễn Đàn Viện Việt Học
This forum hosts all discussions on VH History topic.  
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: Previous1234567891011
Current Page: 11 of 11
Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 14, 2012 09:00PM
水經注
Thủy kinh chú


林邑記渡比景至朱吾朱吾縣浦今之封界朱吾以南有文狼人野居無室宅依樹止宿食生魚肉采香為業與人交市若上皇之民矣縣南有文狼究下流逕通
Độ Tỉ Cảnh chí Chu Ngô, Chu Ngô huyện phố kim chi phong giới. Chu Ngô dĩ nam, hữu Văn Lang nhân, dã cư vô thất vũ, y thụ chỉ túc, thực sinh ngư nhục, thải hương vi nghiệp, dữ nhân giao bố, nhược thượng hoàng chi dân dĩ. Huyện nam hữu Văn Lang cứu, hạ lưu kính thông.

Qua huyện Tỉ Cảnh đến huyện Chu Ngô, bến sông của huyện Chu Ngô là ranh giới ngày nay. Từ huyện Chu Ngô về phía nam có người Văn Lang, ở hoang không có nhà cửa, dựa vào cây mà ở, ăn thịt cá sống, làm nghề hái cây trầm hương, trao đổi với người khác, như dân thời thượng cổ vậy. Phía nam huyện có suối Văn Lang, hạ lưu nhỏ hẹp.


[zh.wikisource.org]


______________



Chú ý

Thái Bình Ngự lãm dẫn Lâm ấp kí chép nhầm 朱吾 thành 苍梧, chép 文狼人 thành 文郎野人, là điều thường thấy trong sách này, không tôn trọng nguyên tác.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 14, 2012 09:20PM
Quote:
huongho
文 郞 được Chệt Quảng Đông phát âm
là man4 ( man6 ) long4

Mấy ông lùn xứ Phù Tang đọc chữ
này là BUN ( MON ) .

Do đó thiển ý cho rằng 文 郞 là ghi âm
của MLONG , BLONG trong tiếng Nôm .



文 郞 Văn Lang = Bun Lang = Môn Lang.

Văn/Bun/Môn theo tui không thể là phiên âm từ phụ âm *B được.

Có chăng từ Văn là phiên âm của từ "Bản" trong "Bản Làng" vậy. 文 郞 Văn Lang là Bản Làng !

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.159.---)
Date: January 15, 2012 04:25AM
Quote:
Lí Nhĩ Chân
Tôi cho là LẠC ở Bắc Việt không phải
là LẠC VIỆT , LẠC VIỆT mà sử Tầu
nói chung về các giống người sống ở
Giao Chỉ, Cửu Chân không xác định rõ
là tộc người nào, nhưng trong đó tất
có ÂU LẠC của An Dương bao gồm cả
đất của LẠC dân hay cũng có khả
năng
là Tây Âu và Lạc (?) và các tộc khác
nữa, kể cả một phần dân Việt ở
Lưỡng Quảng của nước Nam Việt.


Quan điểm Tây Âu và Lạc Việt dung hợp
lập nên nước Âu Lạc ở Giao Chỉ
chẳng có cơ sở nào cả, chỉ là kết
quả chủ quan của một nhóm học giả
Đào-Hà cũ thôi.

Thục Phán có gốc từ đâu còn chưa rõ,
làm sao mà là Tây Âu được? Tây Âu theo
sử cũ là các bộ lạc ở phía bắc sông
Chu. Các nhà khảo cổ Quảng Tây đã
nghiên cứu dựa theo sự phân bố các di
chỉ khảo cổ và sự khác biệt giữa
các nhóm dân Choang-Đông đã kết luận
Tây Âu ở phía đông bắc Quảng Tây,
trung tâm là vùng Thương Ngô ở bên sông
Li và sông Quế, còn Lạc Việt ở phía
tây và phía nam sông Châu, trung tâm là
lưu vực sông Tả-Hữu.

Thực hư ra sao chưa biết được.
Tây âu trốn vào rừng phục kích Tần, vị trí? sau đó chạy về đâu?
Cái tên gọi Âu-Lạc (hay Âu và Lạc?) của sử Tầu chỉ dân nào, địa lý?
Lạc và lạc Việt xưa nay các học giả đều hiểu là một nhưng sách Tầu chỉ vùng đất khi nhà Hán chưa chia thành quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Vậy người Việt (Kinh - Mường) hiện nay và người Choang ai là di duệ chính cống?
Sách xưa nhất của Tầu đã nói về LẠC đầu tiên sau đó mới có tên Lạc Việt và Lạc thuộc vùng đất trước Giao Chỉ (Bắc Việt hiện nay?) Địa lý ra sao?
Trả lời những câu hỏi này may ra mới làm sáng tỏ văn đề.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Khánh (116.109.168.---)
Date: January 16, 2012 12:19AM
Quote:
Lí Nhĩ Chân
Sử Tàu đã ghi liên hệ giữa Trung Quốc
và Tứ Di như sau:

- Cơ Tử là hậu duệ của nhà Ân sang
phía đông lập nước Triều Tiên.

- Thuần Duy là hậu duệ của nhà Hạ
lên phía bắc lập nên Thiền vu của
người Hung Nô.

- Vô Dư là hậu duệ của vua Thiếu Khang
của nhà Hạ sang phía đông nam đến núi
Cối Kê, phát cỏ lập ấp, dựng nước
Việt.

- Thái Bá là hậu duệ của nhà Chu sang
đất Kinh Man lập nên nước Ngô.

- Trang Kiểu là hậu duệ của vua Sở
xuống phía tây nam lập nên nước
Điền.

- Hùng Vương là hậu duệ của Thần
Nông xuống phía nam lập nên nước Văn
Lang.

- Thục Phán là hậu duệ của vua Thục
xuống phía nam diệt Văn Lang lập nên
nước Âu Lạc.

xin bác nói rõ sử Tàu nào phân định như thế vì nghe có vẻ gượng gạo, các đời cách nhau hàng trăm năm , có khi cả ngàn năm chồng chéo lung tung

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (171.252.2.---)
Date: January 16, 2012 10:40AM
Quote:
Lí Nhĩ Chân
水經注
Thủy kinh chú


林邑記渡比景至朱吾朱吾
��今之封界朱吾以南有文狼人
野居無室宅依樹止宿食生魚肉
采香為業與人交市若上皇之民矣
��縣南有文狼究下流逕通
Độ Tỉ Cảnh chí Chu Ngô, Chu Ngô huyện
phố kim chi phong giới. Chu Ngô dĩ nam,
hữu Văn Lang nhân, dã cư vô thất vũ, y
thụ chỉ túc, thực sinh ngư nhục, thải
hương vi nghiệp, dữ nhân giao bố,
nhược thượng hoàng chi dân dĩ. Huyện
nam hữu Văn Lang cứu, hạ lưu kính
thông.

Qua huyện Tỉ Cảnh đến huyện Chu Ngô,
bến sông của huyện Chu Ngô là ranh giới
ngày nay. Từ huyện Chu Ngô về phía nam
có người Văn Lang, ở hoang không có nhà
cửa, dựa vào cây mà ở, ăn thịt cá
sống, làm nghề hái cây trầm hương, trao
đổi với người khác, như dân thời
thượng cổ vậy. Phía nam huyện có suối
Văn Lang, hạ lưu nhỏ hẹp.


[zh.wikisource.org]%
E6%B3%A8/36


______________



Chú ý

Thái Bình Ngự lãm dẫn Lâm ấp kí chép
nhầm 朱吾 thành 苍梧, chép 文狼人
thành 文郎野人, là điều thường thấy
trong sách này, không tôn trọng nguyên
tác.

Đúng là không tôn trọng nguyên tác. Nhưng có thể vì nguyên tác sai nên phải sửa !

Chu Ngô 朱吾 được giải thích là tỉnh Quảng Bình của Việt Nam hiện nay, xem [zh.wikipedia.org] . Thời Thủy Kinh Chú 水經注 tức là thời Bắc Ngụy (386~557), khi đó phía Nam Chu Ngô thuộc về đất Lâm Ấp, phía bắc Chu Ngô mới là nước Văn Lang cũ. Có lẽ Thái Bình Ngự Lãm thấy cái sai này của Thủy Kinh Chú nên đã sửa lại.

Theo Thái Bình Ngự Lãm thì phía nam Thương Ngô là Văn Lang, hóa ra vùng Quảng Tây, Nam Ninh thuộc đất Văn Lang ! Tức là phù hợp với sử Việt ! (mời tham khảo bản đồ google, dán 2 chữ 苍梧 vào và tra )

Cứ giả sử Thái Bình Ngự Lãm viết sai, thì cũng đã rõ ràng một việc chuyện đất Quảng Tây thuộc cương vực nhà nước Văn Lang không phải do sử gia Việt bịa ra một cách vô cớ, mà nguồn gốc từ chính thư tịch Tàu, vì Thái Bình Ngự Lãm là thời Bắc Tống, trước Lĩnh Nam Trích quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhiều thế kỷ ...

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 16, 2012 12:18PM
Hãy đọc lại đoạn văn, rõ là nói huyện Chu Ngô, phía nam huyện Chu Ngô có "người Văn Lang" hoang dã ở trên cây, chứ không nói là có "nước Văn Lang". Vả lại sách Lâm Ấp kí chép về đất Lâm Ấp là huyện Chu Ngô chứ không chép quận Thương Ngô.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (171.252.141.---)
Date: January 16, 2012 01:34PM
Lúc đó còn nước Văn Lang đâu nữa mà nói ?

Vấn đề là Thái Bình Ngự Lãm đã viết thế thì người đọc tự nhiên phải suy luận rằng cương vực của nhà nước Văn Lang thời xưa ít ra cũng tới Thương Ngô.

Cho nên không thể kết tội sử gia Việt bịa đặt không có căn cứ.
Đây mới là vấn đề tại hạ muốn đề cập

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.88.---)
Date: January 17, 2012 12:55AM
Tôi cho Dạ lang hay Văn lang của thư tịch Tầu không phải là nước Văn Lang của Hùng vương, nước văn Lang của người Việt xưa chỉ có thể hiểu theo ý đồ của soạn giả Đại Việt sử lược và Lĩnh Nam trích quái mà thôi. Biên giới nước Văn Lang của 2 bộ sách trên không hoàn toàn khớp nhau lắm và có lẽ đây là do hư cấu từ huyền thoại mà ra chứ không phải là sự thật lịch sử

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Trần Anh Mỹ (---.dsl.wlfrct.sbcglobal.net)
Date: January 17, 2012 02:45PM
Nước Văn Lang có vua là vua Hùng ở Phú Thọ.
Nghe vậy biết vậy, chứ không có sử sách nào viết
Vua Hùng tên là gì, ngày ra đời, ngày chết, ngày lên ngôi,
chữ viết, pháp luật, thu thuế, mộ lính ra sao, đồn lính
đóng ở đâu, biên giới chống giặc nào.
Cũng chẳng để lại một món đồ cổ nào cho con chấu vẻ vang.
*
Hay là Nước lúc ấy cũng như bộ lạc người Mèo ở Hà Giang?
*

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: bacle (Moderator)
Date: January 17, 2012 03:50PM
Quote:
fanzung
Cứ giả sử Thái Bình Ngự Lãm viết sai, thì cũng đã rõ ràng một việc chuyện đất Quảng Tây thuộc cương vực nhà nước Văn Lang không phải do sử gia Việt bịa ra một cách vô cớ, mà nguồn gốc từ chính thư tịch Tàu, vì Thái Bình Ngự Lãm là thời Bắc Tống, trước Lĩnh Nam Trích quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhiều thế kỷ ...

Nếu dựa vào Thái Bình Ngự Lãm để định "cương vực nhà nước Văn Lang", thì tại sao không tiếp tục dựa vào sách đó để biết về "người Văn Lang".

Quote:
... người Văn Lang, ở hoang không có nhà cửa, dựa vào cây mà ở, ăn thịt cá sống, làm nghề hái cây trầm hương, trao đổi với người khác, như dân thời thượng cổ vậy ...

Nếp sống primitive như vậy thì chưa thể hình thành một "nhà nước" được.

Mà như thế nào là một "nhà nước", "bộ lạc" có thể kể là nhà nước chăng?

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 17, 2012 08:14PM
太平御覽
Thái bình ngự lãm

州郡部
Châu quận bộ


峰州
Phong châu

方輿志峰州承化郡古文郎國有文郎水亦陸梁地秦屬象郡二漢屬交趾郡吳分置新興郡晋改爲新昌陳置興州隋平陳改爲峰州煬帝初唐複置峰州
Phương dư chí viết: Phong châu, Thừa Hóa quận. Cổ Văn Lang quốc, hữu Văn Lang thủy. Diệc Lục Lương địa. Tần thuộc Tượng quận. Nhị Hán thuộc Giao Chỉ quận. Ngô phân trí Tân Hưng quận. Tấn cải vi Tân Xương. Trần trí Hưng châu. Tùy bình Trần, cải vi Phong châu; Dạng Đế sơ, phế. Đường phục trí Phong châu.

林邑記蒼梧以南有文郎野人居無室宅依樹止宿食生肉采香爲業與人交易若上皇之人
Lâm Ấp kí: Thương Ngô dĩ nam hữu Văn Lang dã nhân, cư vô thất vũ, y thụ chỉ túc, thực sinh nhục, thải hương vi nghiệp, dữ nhân giao dịch, nhược thượng hoàng chi nhân.


[zh.wikisource.org]


_______________


Thái bình ngự lãm chỉ trích dẫn từ sách khác, lại còn chép sai hoặc tự suy luận.

Cứ cho là từ Thương Ngô về phía nam có người hoang Văn Lang đi nữa thì cũng không phải là nước Văn Lang ở đấy. Nước Văn Lang cổ là ở Phong châu như sách Phương dư chí đã chép, giống Thông điển.

Theo sách Lâm Ấp kí chép thì từ Thương Ngô (Chu Ngô) về phía nam có người Văn Lang sống hoang trên cây, chỉ là một trong nhiều nhóm dân khác mà thôi. Ngoài người Văn Lang, còn có các bộ lạc bản địa có thể sinh sống ở đồng bằng, hoặc ở miền núi, nhưng họ biết làm nhà, trồng trọt, và người Hoa đến trú ngụ nữa, như người Mã Lưu chẳng hạn.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 17, 2012 09:24PM
安南志原
An Nam chí nguyên


Thanh - Cao Hùng Trưng soạn


城池
Thành trì

昔在周時交趾有貉王築文郎城安陽王築螺城皆其都城也
Tích tại Chu thì, Giao Chỉ hữu Lạc Vương trúc Văn Lang thành, An Dương Vương trúc Loa thành, giao kì đô thành dã.

Ngày xưa vào thời nhà Chu, đất Giao Chỉ có Lạc Vương đắp thành Văn Lang, An Dương Vương đắp thành Loa, đều là đô thành của đất ấy.


[ishare.iask.sina.com.cn]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (---.235.128.86.adsl.viettel.vn)
Date: January 17, 2012 10:50PM
Sorry ! Cái trang forum nhảy bậy, không biết chạm phím nào mà đã post bừa
Nhờ bác moderator xóa giúp, thay bằng poster này:

Bác tuyệt đối tin vào sử Tàu à ? Trời nóng dân Việt thích cởi trần thì Tàu nói "Âu Lạc là xứ ở lõa", rồi hiểu là "ở truồng", thực tế ở Bắc Bộ mùa đông có thể lạnh xuống dưới 5 độ, không mặc quần áo sao chịu nổi ...

Thủy Kinh Chú đang nói về nhóm người Văn Lang ở phía Nam Quảng Bình, thuộc lãnh địa Lâm Ấp, không phải nói về nước Văn Lang cũ.

Bộ lạc tất nhiên chưa phải nhà nước, nhưng ranh giới cũng không rõ rệt lắm, thời Chu có nhiều tiểu quốc nhỏ tý mà cũng xưng "quốc" được đó. Hay như bộ lạc của Thành Cát Tư Hãn đó, có mấy chục năm đã chuyển từ chế độ bộ lạc trở thành một đế quốc.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: bacle (Moderator)
Date: January 17, 2012 11:34PM
Cởi trần chẳng có gì sai cả, nhìn qua Lào, Thái, Miến, Ấn, Cambodge nóng bằng mấy VN, dân vẫn ở trần luôn, ngay cả vua, hoàng tử cũng ở trần, phim lịch sử Thái vẫn chiếu như vậy, và đọc Chân Lạp Phong Thổ Ký cũng viết như vậy. Còn lạnh thì mùa đông ở Miến, Thái, Lào cũng lạnh không kém hay hơn cả vùng bắc bộ, v.v... nhưng bản chất văn hóa ở các xứ đó thời xưa cũng là cởi trần, và nước mình cũng chẳng khác.

Trích: Vó ngựa và cánh cung
Quote:
Sứ nhà Tống đã chép là cả vua Lê Hoàn cũng cởi trần đóng khố. Sứ nhà Nguyên là Trần Cương Trung cũng ghi nhận là ngay giữa cung đình nhà Trần vẫn có “người đóng khố bao, cởi trần … đàn bà đi chân không … mười người con trai đều cởi trần …”, còn trong dân gian thì “dân đều đi chân không … da chân họ rất dày, trèo núi như bay, chông gai cũng không sợ”.[64] Thành thử người mình đã được gọi là giống dân “sơn răng chằng đít chít đầu”.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.13.91.183-ftth.cmcti.vn)
Date: January 18, 2012 10:04PM
Thời xưa không như bây giờ. Vải vóc là một vật quý hiếm. Vả lại người xưa không có máy móc, phải làm việc chân tay rất nhiều, đổ mồ hôi, nóng bức, nhất là ở xứ nóng như Việt Nam. Do đó văn hoá cởi trần không có chi lạ. Quanh năm ở trần, chỉ trừ một số ngày đông lạnh vậy. Thậm chí ngày đông lạnh mà làm việc cũng có khi phải cởi trần.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (117.6.129.---)
Date: January 19, 2012 12:34AM
Quote:
fanzung
Thủy Kinh Chú đang nói về nhóm người
Văn Lang ở phía Nam Quảng Bình, thuộc
lãnh địa Lâm Ấp, không phải nói về
nước Văn Lang cũ.


Việc quá rõ, tiên sinh còn thắc mắc gì nữa? Đừng để tham vọng vượt khỏi lí trí. Văn Lang là một nước nhỏ ở châu Phong, hoặc xa về phía nam một ít đến Chu Ngô, nơi có "người Văn Lang", chứ không đến Thương Ngô hay Động Đình được!

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Nguyễn Cung Thông (122.151.224.---)
Date: January 19, 2012 08:53AM
Bác Lí Nhĩ Chân/LNC viết (14/1/2012)

"Lạc Việt" là từ người Tàu gọi về các bộ lạc mà họ tiếp xúc trên con đường xuống phía nam, đương nhiên họ gặp các bộ lạc ở Thương Ngô, Quế Lâm trước Giao Chỉ. Vậy muốn tìm gốc gác của từ "Lạc Việt" phải sang Quảng Tây đến các làng bản người Choang mà nghiên cứu. Các bộ lạc này có đặc điểm chung nào đó nên họ gọi như thế. Cũng như ta gọi người Trung Quốc là "Tàu" vậy, chứ họ có gọi là người "Tàu" đâu?


Đồng ý với bác LNC một phần - một phần có lẽ nằm trong thư tịch cổ nhưng cần phải gạn lọc một cách thận trọng:


Chữ y lạc 伊 雒 trong thiên Vũ Cống (kinh Thi) nguyên là chữ lạc 洛 . Có nhà nói vì nhà Hán vượng về hỏa đức, kiêng nước thích lửa, nên mới đổi chữ lạc ra lạc (xem lại chữ ); từ thời Nhĩ Nhã thì chữ Lạc bộ Mã đã dùng thông với Lạc bộ Chuy. Lạc đọc 曷各切音鶴 âm hạc (chim sếu) ... Lạc có các cách đọc (a) lô các thiết 盧各切 ĐV, lực các thiết 力各切 TV, CV âm lạc 音落 (b) lô cốc thiết, âm lộc 盧穀切音祿. Sơn Hải Kinh ghi Lạc là tên sông ở Ung Châu (Nam Ninh, khu vực dân Tráng - Lạc Việt ở Quế Lâm, Ung Châu) và Chu Lễ cũng ghi nhận điều này. Liên hệ giữa lạc và nước được Long Giam Thủ Giám ghi lại: nhược 渃, hoặc tác âm lạc. Nhược còn là tên sông ở Tứ Xuyên. Để ý nhược/nhã (Danh từ) Thần Nhược, thần bể. ◇Trang Tử 莊子: Bắc hải Nhược viết: Tỉnh oa bất khả dĩ ngữ ư hải giả 北海若曰: 井鼃不可以語於海者 (Thu thủy 秋水) Thần Nhược ở biển Bắc nói: Ếch giếng, không thể nói chuyện (với nó) về biển được.

Vài hàng cùng đóng góp

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: huongho (---.lightspeed.irvnca.sbcglobal.net)
Date: February 07, 2012 10:25AM
Nước Văn Lang và cương vực của nó qua tài liệu ngôn ngữ học
Hoàng Thị Châu

Trước đây, trong một bản báo cáo khoa học học đăng 1963 về mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông, chúng tôi đã có dịp trình bày về một hệ thống tên sông được hình thành trên một cơ sở ngôn ngữ chung cho cả miền Đông Nam Á. Tiêu biếu cho hệ thống đó là sự trùng tên hai con sông lớn nhất trong vùng: sông Dương Tử và sông Mê-kông (cả hai đều có tên là Công). Hệ thống tên sông này có thể cắt nghĩa bằng ngôn ngữ của các dân tộc hiện đang sống ở đây. Điều này chứng minh rằng: những ngôn ngữ ở đây đã được phát triển liên tục. Trong quá trình phát triển lịch sử ở đây không xảy ra viện thay thế những ngôn ngữ khác nhau (1 Trường Đại học Tổng hợp: Thông báo khoa học, Tập Ngôn ngữ-Văn học Hà Nội, 1966).
Tuy nhiên tên sông là loại địa danh cổ nhất, nó ứng với thời kỳ các tộc người chưa phân hóa rõ rệt thành những dân tộc cụ thể, với những tên gọi và những đặc trưng nhiều mặt khác nhau chưa hình thành rõ nét. Hệ thống tên sông ở Đông Nam Á chỉ giúp chúng ta hình dung được phần nào địa bàn sinh sống và nền tảng ngôn ngữ của những dân tộc kế tục phát triển trên đó. Nhưng trên cái nền bao quát đó, tổ tiên người Việt ở đâu? Đâu là nơi tổ tiên chúng ta dựng làng, lập nước, khởi đầu cho một dân tộc có truyền thống vẻ vang ngày nay?
Muốn trả lời câu hỏi trên, chúng ta phải lần lượt xét đến nhưng loại địa danh gần gũi với chúng ta hơn như: tên nước, tên làng...
Về tộc danh này đã có nhiều ý kiến giải thích như: “Văn Lang là nước của những quan lang xăm mình” Đào Duy Anh, “Văn Lang là do chép nhầm từ tên Dạ Lang” (Ma-xpê-rô).
R.Xtai-nơ, tác giả cuốn Nước Lâm Ấp đặt tên Văn Lang vào trong một hệ thống tộc danh và địa danh có yếu tố “Lang” như Bạch Lang (Tứ Xuyên), Việt Lang (Quảng Đông), Dạ Lang (Quảng Tây), Mơ-ran, Mơ-ren, Mơ-nông, Tchang-lang, Khang lang... và đối chiếu yếu tố lang trong danh từ riêng với những danh từ chung chỉ ao, hồ, làng, đầm ở các địa phương trên. Xtai-nơ có ý muốn giải thích tộc danh Văn Lang bằng những từ này.
Chúng tôi tán thành phương pháp làm việc của Xtai-nơ trong khi nghiên cứu vấn đề này, vì đó là một phương pháp ngôn ngư học, đúng hơn là phương pháp của các tác giả khác. Không theo giải thích tộc danh bằng cách phán đoán tùy tiện và hơn nữa lại tách một tên gọi ra làm hai phần và mỗi phần giải thích bằng một thứ ngôn ngữ khác nhau. Tên Văn Lang không đứng một mình mà nằm trong một hệ thống tộc danh có yêu tố chung là “-Lang”. Ở Đông Nam Á (cũng như ở nhiều nơi khác trên the giới) chúng ta có thề tìm thấy nhiều hệ thống tộc danh kiểu này. Chẳng hạn hệ thống tộc danh có yêu tố “pu” “phu”: Phu Xai là tên người Lào tự xưng, Phu Thung: tên một dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Thái mà người ta còn gọi là Mường Cửa Rào. Pu Y (Bố Y) là tên người Choang tự xưng ở các huyệt Long An, Điền Lâm, Tam Giang thuộc Quảng Tây. Pú Thủ (Bố Thổ): tên gọi người Choang ở huyện Điền Dương, Bách Sắc.
Hệ thống tộc danh Mon, Moe, Mọi là tên tự xưng của nhiều dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ-me sinh sống dọc Trường Sơn và rải rác ở vài nơi trên đất Miến Điện.
Hệ thống tộc danh Thái, Xai, Đay, Tày... là tên tự xưng của nhiều dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Thái.
Và hệ thống tộc danh có yếu tố “Lang” chúng ta có thể bổ sung một vài tài liệu cho danh sách mà Xtai-nơ đã thống kê. Theo sử cũ chép lại thì có nhóm người Dạ Lang sinh sống ở bắc Quảng Trị. Theo các sách viết vào đời Minh ở Trung Quốc, như Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư, thì ở tỉnh Quảng Tây có nhiều người Lang (Lang nhân), đâu đâu cũng thấy, do đó thổ bình vùng này được gọi là Lang binh. Thế là người Choang, cách đây đến 4, 5 thế kỷ vẫn còn được gọi là người Lang. Tên Choang tộc hiện nay đọc theo âm Hán Việt là Chàng tộc, chẳng qua chỉ là biến thể ngữ âm của tên Lang, cũng như cách phát âm khác nhau giữa tên lang Hán Việt và chàng trong tiếng Việt.
Vậy những yếu tố được lắp đi lắp lại ở những địa danh trên là gì. Từ phu, phu trong hệ thống tộc danh thứ nhất tìm thấy trong các ngôn ngữ nhóm Thái với nghĩa là “người đàn ông”. Chính từ phu này đã thâm nhập vào tiếng Hán và với nghĩa là “đàn ông” “chồng” như: nông phu, thất phu, phu quân... Từ này còn tìm thấy trong những ngôn ngữ ở cực nam Trung Bộ như trong tiếng Bi-at, Stiêng thì bu có nghĩa là “Người”. Các từ môn, mol, mọi trong nhiều ngôn ngữ thuộc nhóm Môn Khơ-me dọc Trường Sơn và trong tiếng Mơ-nông đều có nghĩa là “người”. Trong tiếng Dao, từ mun cũng có nghĩa là người.
Thông thường tộc danh và nhất là những tộc danh cổ đều xuất phát từ những danh từ chung có nghĩa là “người”. Trên thế giới loại tộc danh như thế, hiện nay còn gặp được rất nhiều, nhấl là ở những dân tộc thiểu sổ sống ở miền rừng núi.
Vậy Lang có nghĩa là gì? Chúng ta thấy từ Lang xuất hiện trong tiếng Hán rất muộn, mãi đến đời Đường trong sách vở mới có từ này, với nghĩa là “đàn ông” đối lập với chữ “nương” là nàng. Trong tiếng Việt có những từ tương đương là chàng và nàng. Những từ này hiện nay không còn dùng với vẻ tôn kính như xưa. Nhưng nếu chúng ta đi thăm lại các di tích thờ cúng cũ như những nơi thờ nhân thần và thiên thần thời Hùng Vương như thờ Tản Viên và các vị quan lang con các Vua Hùng chẳng hạn thì chúng ta sẽ được nghe tên những vị thần đại loại như sau: Đức Chương Nhị đại vương, Đức Chương Út đại vương, Đức Cương Trực đại vương-tên 3 vị thánh thờ ở đình Bảo Đà, Việt Trì.
Xã Hồng Hà (Lâm Thao, Vĩnh Phú) có đình thờ nữ thần tên là Non Trang da nàng... Những tên này được kiêng cữ rất kỹ, chỉ có cụ tiên chỉ và ông từ biết để khấu khi cúng hèm mà thôi.
Như thế là trong tên nôm húy, các vị thần đều được gọi bàng chàng và nàng.
Theo Lĩnh Nam chích quái thì các con trai Hùng Vương gọi là quan lang, con gái gọi là mỵ nương. Nhiều học giả cho rằng chính từ quan lang này đã lưu lại ở người Mường và về sau vẫn dùng để gọi giai cấp quý tộc phong kiến: quan lang là người đứng đầu một mường. Nhưng như chúng ta đã thấy ở trên, những từ lang và nàng (nương) dùng để gọi con trai con gái Hùng Vương vẫn được ghi lại trong các đình miếu người Việt và được phát âm theo kiểu hiện nay là chành và làng (sau này chúng ta sẽ trở lại những từ quan lang và mị nương).
Vậy những từ lanq và nương đã từ những ngôn ngữ phía nam Trung Quốc thâm nhập vào tiếng Hán, cũng như từ giang là “sòng” đã được phân tích ở trên. Đi thêm vào các ngôn ngữ phương Nam, chúng ta sẽ gặp từ drang-lô trong tiếng Ba-na có nghĩa là “đàn ông”, trong tiếng, Ê-đê a-rang là “người”, trong tiếng Chàm u-rang, trong các ngôn ngữ In-đô-nê-xi-a, Mã Lai o-ranq đều có nghĩa là người.
Vậy những tộc danh Lang, Văn Lang, Dạ Lang... đã bắt nguồn từ một danh từ có nghĩa là “đàn ông”, “người” với những hình thái biến đổi khác nhau tùy theo ngôn ngữ, phương ngữ và tùy theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Những tộc danh như Văn Lang, Việt Lang, Bạch Lang, xét về cách phát âm tiếng Việt cổ và tiếng Hán cổ (vì dùng tiếng Hán để phiên âm tiếng địa phương), đều bắt đầu bằng bán nguyên âm môi “w” hay phụ âm môi “p” và theo với quy luật biến âm thì những âm này thông vớt các nguyên âm trên môi, như o, u tức là có thể chuyển âm lẫn cho nhau từ trạng thái nọ sang trạng thái kìa, cũng như hai phụ âm l và r cùng thông với nhau. Những từ như Văn Lang, Việt Lang với u-rang, o-rang cũng như Dạ Lang với drang (trong drang-lô) vẫn được xem là những từ giống nhau trong phương pháp so sánh của ngôn ngữ học lịch sử. Hơn nữa, trong tiếng Hán, trong khoảng 2.000 năm trở lại đây, không có phụ âm r, do đó những từ có phụ âm r trong các ngôn ngữ khác đều được phiên âm sang chữ Hán bằng l. Chữ nôm của ta cũng phản ánh điều này.
Nếu chúng ta chiếu trên bản đồ thì sẽ thấy khu vực có tộc danh Lang dài ra từ sông Dương Tử cho đến miền Trung Bộ Việt Nam, tập trung nhất ở vùng Lưỡng Quảng và Bắc Bộ và bắc Trung Bộ Việt Nam. Còn những danh từ chung chỉ “người” có dạng tương tự: lang, drang-lô, o-rang... chiếm một địa bàn lớn hơn: cả vùng đồng bằng duyên hải và các hải đảo bao quanh và tạo thành Nam Hải. Nếu vì vai trò của Nam Hải trong lịch sử các dân tộc Đông Nam Á với Địa Trung Hải đối với các nước Nam Âu và Bắc Phi thì cũng không có gì quá đáng.
Mộl lần nữa, chúng ta lại bắt gặp sự liên quan về nguồn gốc giữa tên riêng với danh từ chung. Xét về phương diện địa lý thì vùng các dân tộc danh Lang nằm gọn trong lõi của địa bàn có danh từ chung tương tự. Thông thường, tên riêng gắn liền với quê hương cũ, nơi đó được sinh ra, còn danh từ chung theo với sự trao đổi, tiếp xúc giữa các tộc người và giữa các ngôn ngữ có thể đi xa hơn.
Sự xuất hiện tộc danh đánh dấu thời kỳ bắt đầu phân hoá, cá tính hóa giữa các tộc người để hình thành các dân tộc (hiểu theo nghĩa rộng). Vậy tộc danh Văn Lang, đúng như truyền thuyết đã lưu lại, có thể là một trong những tộc danh cổ nhất của dân ta, đồng thời nó cũng chỉ cho chúng ta mối quan hệ chặt chẽ về họ hàng, về ngôn ngữ với những tộc người xung quanh và địa bàn sinh sống của họ. Theo Lĩnh Nam chích quái về các sách sử của nước ta như: Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư thì Hùng Vương hưng khởi ở “bộ” Văn Lang, tức là đất Phong Châu cũ, bao gồm các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Tây, Hà Nội hiện nay, và từ đây thu phục các “bộ” khác xung quanh gồm cả thảy 15 bộ (con số theo truyền thuyết), chiếm cả một phần miền Lưỡng Quảng, Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Xem thế thì khu vực chúng ta tìm thấy các tộc danh Lang khá ăn khớp vớt cương vực nước Văn Lang trong sử sách.
Bây giờ chúng ta chuy ển sang một loại tài liệu địa danh khác có thể xác minh thêm về cương vực nước Văn Lang: tên xã thôn.
Với phương pháp thống kê địa danh học có thể vạch một cách khái quát ngay trên bản đồ những vùng dân cư có nguồn gốc khác nhau. Tây Bắc là vùng tập trung tên nơi cư trú với từ mường, chiền.
Vùng Việt Bắc thì tập trung địa danh với từ bản, nà.
Địa danh ở Tây Nguyên được chia thành hai cụm:
-trên cao nguyên Đắc Lắc là cụm địa danh với từ buôn
-ở cao nguyên Côn Tum lại là cụm địa danh với từ plây.
Những từ như mường, bản, buôn, plây đều là những danh từ chung trong các ngôn ngữ dân tộc để chỉ những đơn vị cư trú tương đương với xã thôn. Bên cạnh những cụm địa danh ấy là một mảng rộng lớn những địa danh Hán Việt trải dài từ Bắc đến Nam. Nhưng đấy chỉ là quan sát địa danh theo sự phân bố hiện nay. Nhưng nếu chúng ta thử đào sâu xuống mảng địa danh Hán Việt đang trùm kín hầu như khắp nơi vùng người Việt ở thì có thể thấy, phía dưới còn có một lớp địa danh cổ hơn, đây là lớp tên nôm với yếu tố cấu thành là từ Kẻ.
Không phải đi xa, chỉ cần ra ngoại thành Hà Nội, chúng ta có thể nghe các ông già, bà cả hay trong nhưng câu chuyện thân mật giữa những người cùng làng, những tên nôm như Kẻ Mẩy (tên Hán Việt là Mễ Trì, Kẻ Cót (tức là làng Yên Quyết), Kẻ Vọng (Dịch Vọng)… Những tên nôm như thế rất nhiều và có thể nói rằng hầu hết các xã thôn Việt Nam ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, bắc Trung Bộ (Khu 4 cũ) đều có. Nhưng đi quá hơn nữa vào nam Trung Bộ và Nam Bộ thì không thấy nữa. Ở vùng thượng du Bắc Bộ và miền núi bắc Trung Bộ cũng không có.
Tên nôm hiện nay đang bị quên dần vì ít được dùng đến, nhưng nó đã tồn tại rất lâu và trước đây trong một thời gian dài đó lồn tại song song với tên Hán Việt, với sự phân công khá rõ ràng, tên nôm dùng để gọi, tên Hán Việt dùng để viết. Do đó, mà tên Hán Việt còn được gọi là tên chữ. Như chúng ta đều biết, tên đặt ra trước tiên để gọi, và khi xã hội phát triển ở mức độ khá cao mới nảy sinh ra nhu cầu ghi chép. Hơn nữa, xét tương quan ngữ âm giữa cặp tên nôm và những tên chữ thì chúng ta thấy rất rõ là tên chữ được đặt ra bằng cách phiên âm tên nôm (và trong một vài trường hợp riêng biệt, bằng cách dịch nghĩa). Điều này một lần nữa, khẳng định nhu cầu ghi chép là điều kiện xuất hiện của tên Hán Việt.
Sự tồn tại lâu đời của tên nôm còn có thể hiện ra ở bản thân nó là những từ khó hiểu, nhiều từ không tìm thấy trong từ vựng tiếng Việt hiện đại. Vì nhưng từ này càng cổ thì càng khó hiểu. Đọc thơ của Nguyễn Trãi, cách chúng ta có năm thế kỷ mà cũng lắm từ rất xa lạ với tiếng Việt ngày nay. Và cuối cùng cái biên giới mà lớp tên nên dừng lại, như đã nói ở trên, không vượt quá phía nam vùng Trị Thiên, cũng chứng tỏ rằng lớp địa danh này gắn bó với địa bàn sinh tụ của người Việt từ cổ cho đến đời Lý, Trần. Những miền đất đai người Việt đến ở về sau chỉ thấy có tên Hán Việt, không có tên nôm đi với từ kẻ nữa. Như thế tức là việc đặt tên nôm vời từ kẻ bây giờ bắt đầu lỗi thời và kiệu địa danh đặt bằng từ Hán Việt đã trở thành hợp thời, và từ kẻ từ sau thời Lý, Trần trở đi bị đẩy ra khỏi vốn từ vựng tích cực và đã trở thành từ cổ. Đến nay thì không ai biết đến nghĩa của nó nữa. Tuy nhiên xét vị trí và chức năng của chúng trong địa danh, chúng ta có thể hiệu được.
-Từ kẻ đặt trước tên nôm để gọi một địa điểm cư trú tương đương với xã thôn hiện nay. Từ kẻ có thể thay thế bằng từ làng. Hiện nay từ kẻ không thấydùng một mình ngoài tên nôm nữa, vì nó là một bộ phận của tên nôm.
Trong tiếng Mường cũng có một từ tương tự về nghĩa và âm với từ “kẻ”, đó là từ “ku-el”. Ku-el là một đơn vị hành chính cơ sở trong tổ chức xã hội người Mường tương đương với xã thôn của người Việt và cùng có một nội dung như từ kẻ. Ở thế kỷ thứ 17, còn thỉnh thoảng gặp từ “kẻ” trong tiếng Việt, và có nghĩa là “quê hương”, “xứ sở”. Từ quê có thể cũng là một dạng biến đổi của từ kẻ trong quá trình sinh sôi nảy nở danh từ chung trong vốn từ vựng tiếng Việt.
Về vùng địa danh có từ “kẻ”, nhiều học giả còn chỉ thêm rằng, những từ có âm tương tự với từ “kẻ” Việt Nam như “cô”, “cổ”, “qua”, “quá“ là đặc điểm của tên nơi cư trú vùng Lưỡng Quảng (Từ Tùng Thạch, R.Xtai-nơ). Trong nhiều tên làng Việt Nam, từ “kẻ” trong tên nôm cũng được phiên âm ra tên Hán Việt bằng từ “cổ” như: Kẻ Trai thành Cổ Trai (ở Thừa Thiên), Kẻ Nưa thành Cổ Ninh (ở Thanh Hóa), Kẻ Noi thành Cổ Nhuế (ở ngoại thành Hà Nội), Kẻ Giai thành Cổ Trai (ở Duyên Hà, Thái Bình), Kẻ Nét thành Cổ Niệt (ở Hải Phòng, vùng Kiến An). Đào Duy Anh cũng cho rằng từ “Cổ” trong tên Cổ Loa có lẽ được chuyển âm từ kẻ mà ra. Tuy nhiên Từ Tùng Thạch lại nghĩ rằng có, cổ, qua, quá, trong địa danh vùng Lưỡng Quảng là chuyển âm từ danh từ cá có nghĩa là “người”, cũng như Đào Duy Anh đã giải thích từ kẻ trong địa danh cổ Viểt Nam bằng một từ của tiếng Việt hiện đại, kẻ tức là “người”.
Như thế là tên nơi cư trú có từ kẻ và những dạng tương tự như: cô, cổ, qua, quá... chiếm một khu vực bao gồm miền Lưỡng Quảng nối liền với vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ và bắc Trung Bộ Việt Nam.
Vậy một lần nữa, lần thứ ba, chúng ta lại tìm thấy một địa bàn, được vẽ lên bằng hệ thống tên xã thôn, cấu tạo với yếu tố “kẻ, cổ...” hoàn toàn khớp với địa bàn các tộc danh Lang và với cương vực nước Văn Lang được ghi lại trong truyền thuyết dựng nước.
Có một điều đáng chú ý là trong địa danh bằng tiếng dân tộc chỉ nơi cư trú của người Việt, người Thái, người Tày, người Khơ-me, người Ba-na, Xtiêng, Ê-đê, Gia-rai và những dân tộc khác trên đất nước Việt Nam đều phản ánh một đơn vị tổ chức xã hội duy nhất và giống nhau ở mọi nơi. Đây là kẻ, là bản, là mường, là srok, là buôn, là plây... tức là đơn vị cơ sở, tương đương với xã thôn hiện nay. Những địa danh này không hề phản ánh những đơn vị tổ chức ở các cấp bậc cao hơn như quận, huyện, tỉnh mà như chúng ta biết, việc phân chia quận huyện ở nước ta đã có từ lâu, lúc bắt đầu thời kỳ Hán thuộc.
Xét sự phát triển nghĩa của danh từ chung, chúng ta cũng thấy kẻ, mường, srok là những danh từ có nghĩa ban đầu là “làng, xóm” chuyển thẳng thành nghĩa “xứ, nước” mà không qua các cấp bậc trung gian: quận huyện, tỉnh. Trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ dân tộc anh em không hề có danh từ để gọi các đơn vị ở các cấp bậc cao hơn mà chỉ có danh từ gọi “làng” mà thôi, chúng ta phải vay mượn từ Hán để gọi những đơn vị kia. Ngôn ngữ dân tộc không chịu đặt tên cho chúng.
Tất cả những sự việc vừa kể trên đều nói lên rằng kẻ hay bản, buôn, plây là những tổ chức cơ sở và đồng thời là tổ chức duy nhất-không có một tổ chức nào khác nữa-trong xã hội người Việt cổ và ở các dân tộc anh em gần đây.
Hiện tượng khác biệt thổ ngữ giữa những thôn xã ở đồng bằng và Trung du Bắc bộ, Bắc Trung bộ Việt Nam rất đáng cho chúng ta chú ý. Ở đây, có khi hai thôn chỉ cách nhau một con đường hai một hàng cây mà thổ ngữ của hai bên rất khác nhau, nghe qua giọng nói có thể phân biệt ra người thôn nọ với người thôn kia. Trái lại, ở vùng thượng du Bắc Bộ, vùng nam Trung Bộ và Nam Bộ không có nhiều thổ ngữ phức tạp đến thế. Ở đây, tiếng Việt trong những vùng rộng lớn gồm đến hai ba tỉnh, cũng rất ít khác nhau, nhất là ở Nam Bộ khó tìm ra được những nét khác biệt trong tiếng nói các tỉnh.
Hiện tượng thổ ngữ đa dạng, phức lạp nói trên ở nông thôn miền Bắc, một mặt phản ánh cội rễ lâu đời và bền vững, mặt khác cũng nói lên tính chất biệt lập của tổ chức xã thôn ở đấy. Vì những nét khác biệt này là kết quả của tập quán ngôn ngữ được hình thành dần dần từ thế hệ này qua thế hệ khác và chỉ có thể được tạo ra trong điều kiện gần như cô lập với những địa phương xung quanh. Chính thổ ngữ là sản phẩm trực liếp của các tổ chức gọi là “kẻ”, là con đẻ của cái “bầu trời riêng” đó-nếu ta dùng cách nói của Mác. Sau khi được hình thành, thổ ngữ lại trở thành một trong những đặc trưng khu biệt chủ yếu giữa các “kẻ”. Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy vùng thố ngữ đa dạng miền Bắc Việt Nam hoàn toàn khớp với khu vực địa danh có tử kẻ. Ở những miền khác không có “kẻ” thì không có hiện tượng thổ ngữ khác biệt giữa những xã thôn liền nhau.
Vậy tính chất của “kẻ” phù hợp vời tính chất của những “công xã kiểu châu Á” mà Mác rất chú ý nghiên cứu khi Người chuẩn bị viết cuốn “Tư bản”.
Kết luận
Thế là lần đầu tiên chúng ta đã áp dụng ngôn ngữ học để nghiên cứu một cách có hệ thống một vấn đề lịch sử lớn: thời kỳ lịch sử Hùng Vương và đã thu được vài kết quả bước đầu trong việc xác minh vùng đất đai cư trú cổ của người Việt.
Như trên tôi đã lưu ý, không nói về từ kẻ, khả năng của ngôn ngữ học góp được phần soi sáng lịch sử cả về tổ chức xã hội và chính trị nữa. Chúng tôi cũng đã bước đầu nghiên cứu những từ cổ chỉ chức vị, thân phận xã hội, từ đó đã có một số kết luận đầu tiên về mặt này. Xin sẽ có dịp khác trình bày.
Ở đây, xin kết luận về cương vực nước Văn Lang:
1.Về mối quan hệ ngôn ngữ và dân tộc với người Việt cổ.-Hệ thống tên sông đã chỉ ra khu vực, trên đó hình thành các nhóm ngôn ngữ cùng ngữ tộc ở Đông Nam Á. Sau đó, các hệ thống tộc danh và tên xã thôn giúp chúng ta thu dần địa bàn và thời điểm thăm dò từ khu vực rộng đến hẹp, từ lúc chưa hình thành các tộc người đến lúc tổ tiên ta dựng làng, lập nước: thời kỳ nước Văn Lang.
Có một điều đáng chú ý là tộc danh, địa danh của ta ở thời kỳ này (cũng như một số từ xưng hô trong xà hội Văn Lang) được truyền thuyết lưu lại đều tìm thấy trong nhiều ngôn ngữ nhóm Thái và nhóm Mã-lai (như Chàm, Ê-đê, Gia-rai, Mã-lai, In-đô-nê-xi-a), tức là ngôn ngữ của những dân tộc ở miền duyên hải và hải đảo bao quanh Nam Hải, vùng Địa Trung Hải của châu Á. Điều này cho thấy rằng: ý kiến của Bê-nê-đích và sau đó của Ô-đri-cua về quan hệ gần gũi giữa hai nhóm ngôn ngữ Thái và Mã Lai là có cơ sở.
2.Đất đai “nước Văn Lang” của Hùng Vương nằm trong vùng có hệ thống tộc danh-Lang và tên xã thôn Kẻ, Cổ bao gồm một phần Lưỡng Quảng và miền Bắc nước ta hiện nay.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Nguyễn Cung Thông (122.151.224.---)
Date: February 07, 2012 08:52PM
Xin bác huongho cho biết thêm chi tiết về nguồn của bài viết trên? (Hoàng Thị Châu, năm ... trang mạng hay tạp chí ... v.v...)

Cám mơn bác

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: huongho-nguyen tien dung (---.lightspeed.irvnca.sbcglobal.net)
Date: February 07, 2012 11:41PM
Quote:
Nguyễn Cung Thông
Xin bác huongho cho biết thêm chi tiết về nguồn của bài viết trên? (Hoàng Thị Châu, năm ... trang mạng hay tạp chí ... v.v...)

Nước Văn Lang và cương vực của nó qua tài liệu ngôn ngữ học
Hoàng Thị Châu

Hùng Vương Dựng Nước - Tập 1
Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội - Hà Nội 1970 , trang 136 - 143 .

Nếu bác cần nguyên bản , cuối tuần tôi sẽ scan gởi đến bác .
Tôi chưa dò lại cho nên không biết bản sao lại này có y trang nguyên tác hay không ?

Goto Page: Previous1234567891011
Current Page: 11 of 11


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity