Việt Sử - VN History :  Diễn Đàn Viện Việt Học
This forum hosts all discussions on VH History topic.  
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: Previous1234567891011Next
Current Page: 10 of 11
Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (---.235.128.86.adsl.viettel.vn)
Date: January 13, 2012 06:57AM
Về Đại Việt sử lược: Theo thông tin trên mạng thì Tiền Hy Tộ (người Kim Sơn, nay thuộc tỉnh Giang Tô) đã tiến hành hiệu đính, cho khắc in, rồi đưa sách vào Tứ khố thời nhà Thanh.

Đã có hiệu đính của các bác Tàu sao bảo đảm đó là bản gốc của Việt Nam ?

Lĩnh Nam trích quái không xác định được niên đại, Đinh tiên sinh căn cứ vào đâu viết "bộ sử lược này chắc chắn ra dời trước Lĩnh Nam trích quái"

Đại Việt sử lược cho biết "Việt Câu Tiễn (505-465 trước công nguyên) thường sai xứ sang dụ, Hùng Vương chống cự lại...", theo đó suy ra thì cương vực của nhà nước Văn Lang phải giáp với nước Việt của Câu tiễn, tức gồm cả Lưỡng Quảng.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 13, 2012 10:49AM
Tui lại nghĩ họ Tiền thật thâm Nho, mở mang lãnh thổ nước Việt đến tận biên giới Văn Lang ở Việt Nam chứ!

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.94.---)
Date: January 13, 2012 09:36PM
Quote:
fanzung
Về Đại Việt sử lược: Theo thông tin
trên mạng thì Tiền Hy Tộ (người Kim
Sơn, nay thuộc tỉnh Giang Tô) đã tiến
hành hiệu đính, cho khắc in, rồi đưa
sách vào Tứ khố thời nhà Thanh.

Đã có hiệu đính của các bác Tàu sao
bảo đảm đó là bản gốc của Việt Nam
?

Lĩnh Nam trích quái không xác định
được niên đại, Đinh tiên sinh căn cứ
vào đâu viết "bộ sử lược này chắc
chắn ra dời trước Lĩnh Nam trích quái"

Đại Việt sử lược cho biết "Việt
Câu Tiễn (505-465 trước công nguyên)
thường sai xứ sang dụ, Hùng Vương
chống cự lại...", theo đó suy ra thì
cương vực của nhà nước Văn Lang phải
giáp với nước Việt của Câu tiễn,
tức gồm cả Lưỡng Quảng.
Hiệu đính thì có chứ nhưng có lẽ đa số chỉ là những chữ sai, tối nghĩa, trái quan điểm, mạo phạm Đại Hán...còn vụ Lạc Long quân gốc Tầu Thần Nông sao lại "hốt cắt đục" được smiling smiley , bọn Đại Thanh khoái quá đi chứ, dễ có cớ xâm lược, đòi đất mãi tận Châu Phong! Hẳn nhiên là cụ Tộ giữ lại nguyên xi nếu có.
ĐVSL, lần đầu tiên xác nhận có vua Hùng vương trong lịch sử là có ý muốn khẳng định đất nước Đại Việt có chủ từ thời ấy rồi và quan trọng nhất là khẳng định dân Việt ở Đại Việt không phải là dân Việt của Câu Tiễn nước Việt đâu nhé "bà con cô bác anh chị" smiling smiley,tuy cũng gọi là "Việt" cả nhưng nòi Việt ta có lẽ là nòi của Lạc dân của Lạc điền ở vùng đất chưa bị bọn Đại Hán chia thành Giao Chỉ như An Nam chí lược đã nhìn nhận nhưng lạ ở chỗ là cụ Lê Tắc lại không thèm nhớ tổ "Hùng vương" như cụ soạn giả ĐVSL!
Cho nên dù huyền thoại có một giá trị nào đó nhưng không thể lấy đó làm chứng cứ khoa học trừ phi đã phát hiện ra các chứng cứ khảo cổ!

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 13, 2012 09:56PM
Sử Tàu đã ghi liên hệ giữa Trung Quốc và Tứ Di như sau:

- Cơ Tử là hậu duệ của nhà Ân sang phía đông lập nước Triều Tiên.

- Thuần Duy là hậu duệ của nhà Hạ lên phía bắc lập nên Thiền vu của người Hung Nô.

- Vô Dư là hậu duệ của vua Thiếu Khang của nhà Hạ sang phía đông nam đến núi Cối Kê, phát cỏ lập ấp, dựng nước Việt.

- Thái Bá là hậu duệ của nhà Chu sang đất Kinh Man lập nên nước Ngô.

- Trang Kiểu là hậu duệ của vua Sở xuống phía tây nam lập nên nước Điền.

- Hùng Vương là hậu duệ của Thần Nông xuống phía nam lập nên nước Văn Lang.

- Thục Phán là hậu duệ của vua Thục xuống phía nam diệt Văn Lang lập nên nước Âu Lạc.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.94.---)
Date: January 13, 2012 10:59PM
Riêng về vụ An Dương Vương, tôi có thắc mắc này mong các bác chỉ bảo cho:
Sách Tầu đều nói con vua Thục đánh Lạc Hầu của Lạc điền , Lạc dân ở vùng đất chưa chia thành quận Giao Chỉ, ta có thể hiểu rằng: con vua Thục cùng tướng lĩnh, binh lính 3 vạn chỉ có thể ở một vùng đất gần vùng đất Lạc và dĩ nhiên, có vua Thục, có thái tử ắt có đất nước và dân chúng , vậy thì sau khi xâm chiếm đất Lạc , thư tịch Việt lại cho An Dương vương lập nước mới là Âu Lạc và xây thành Cổ Loa, kinh đô của nước mới, vậy là có vụ dời đô từ nước cũ của vua Thục đến đất lạc mới chiếm là nước Văn Lang của Hùng vương. Nhưng quái ở chỗ, cho đến nay cái đất nước của vua Thục lại chưa từng được xác nhận ở đâu trong thư tịch Hán và Việt, có nhà dựa vào truyền thuyết Cao Bằng để cho nó ở vùng Tây Bắc, nước Nam cương? Có nhà cho con cháu di phúc của vua Thục cũ di tản đến vùng đất của tộc nào đó giáp Bắc VN , chiếm lĩnh, cư ngụ và đánh Hùng vương. Theo thiển ý của tôi, biết đâu tàn quân của Tây Âu sau khi bị Tần đánh đuổi mới chạy về đất Lạc rồi nương náu, phúc kích chống cự lại Tần , tôn người Kiết Tuấn (tuấn kiệt?) lên làm thủ lĩnh sau khi giết Đồ Thư, Tần ngừng chiến và từ đây Tây Âu bắt đầu xâm chiếm luôn đất Lạc rồi sau đó vị thủ lĩnh Tây Âu tự xưng là vua An Dương lập thành một nước mới , không rõ tên là gì nhưng theo sách Tầu chỉ gọi đơn giản là Âu Lạc. Thực hư ra sao chưa biết được.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 13, 2012 11:05PM
孟子曰:「孔子登東山而小魯登泰山而小天下。」

Mạnh Tử nói: "Khổng Tử trèo lên núi Đông thì thấy nước Lỗ nhỏ, trèo lên núi Thái thì thấy thiên hạ nhỏ".

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (171.252.214.---)
Date: January 14, 2012 02:53AM
Quote:
Đinh Tuấn
ĐVSL, lần đầu tiên xác nhận có vua
Hùng vương trong lịch sử là có ý muốn
khẳng định đất nước Đại Việt có
chủ từ thời ấy rồi và quan trọng
nhất là khẳng định dân Việt ở Đại
Việt không phải là dân Việt của Câu
Tiễn nước Việt đâu nhé "bà con cô bác
anh chị" smiling smiley,tuy cũng gọi là "Việt" cả
nhưng nòi Việt ta có lẽ là nòi của
Lạc dân của Lạc điền ở vùng đất
chưa bị bọn Đại Hán chia thành Giao
Chỉ như An Nam chí lược đã nhìn nhận
nhưng lạ ở chỗ là cụ Lê Tắc lại
không thèm nhớ tổ "Hùng vương" như cụ
soạn giả ĐVSL!
Cho nên dù huyền thoại có một giá trị
nào đó nhưng không thể lấy đó làm
chứng cứ khoa học trừ phi đã phát
hiện ra các chứng cứ khảo cổ!

Ai lấy huyền thoại làm chứng cứ ? Đinh tiên sinh vẫn không bỏ được tật hay nói áp đặt. Xin nhắc lại là tại hạ không phải là người đưa ra truyền Thuyết Lạc Long Quân, chưa hề khẳng định cũng như chưa hề bác bỏ thuyết đó !

Theo ước đoán của tại hạ thì Thần Nông thị là dân Bách Việt, nói thứ ngôn ngữ cú pháp thuận, chính trước phụ sau, như tiếng Việt. Còn chuyện Thần Nông là tổ dân Hán thì đó là truyền thuyết của người Hán, nhưng coi cách lập luận của Đinh tiên sinh thì tiên sinh coi truyền thuyết đó là sự thực lịch sử rồi ? Nên nhớ là Tam Hoàng Bản Kỷ vốn không có trong Sử ký, mà do Tư Mã Trinh thêm vào 8-900 năm sau. Hơn nữa thời Thần Nông thì chưa có cuộc hòa nhập Viêm Hoàng, chưa có khái niệm dân Hán, dân Việt gì cả.

Xét một cách thực tế thì truyền thuyết Lạc Long quân có thực đi nữa cũng chỉ là vấn đề gốc gác của 1 dòng họ tham gia vào sự hình thành nước Việt cổ, căn cứ vào đó mà bảo dân Việt là hậu duệ của dân Hán qua thì thực là buồn cười, các chứng tích ngôn ngữ xác nhận dân Việt là dân bản địa ở Đông Nam Á ! Hi vọng các nghiên cứu ADN sắp tới sẽ xác nhận điều này.

Hầu hết các lập luận của tại hà là moi ra từ chính sử sách và thông tin trên mạng của Tàu, như thông tin về chữ viết cổ 4000 năm ở "Xẻng đá lớn" vùng Quảng Tây ấy, hay như việc vùng Tương Giang, Lưỡng Quảng là đất Lạc Việt Cổ là từ sách sử Tàu, chứ đâu phải từ sách Việt ?

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (---.235.128.86.adsl.viettel.vn)
Date: January 14, 2012 04:34AM
Đây là tài liệu bản đồ của Tàu:
Theo đó thì thời Xuân Thu nước Sở còn ở Bắc Trường Giang, chưa thôn tính được vùng Hồ Nam-Tương Giang. Còn Ngô-Việt cũng chỉ ở sát bờ nam Trường Giang, vùng Triết Giang.



Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (---.235.128.86.adsl.viettel.vn)
Date: January 14, 2012 04:44AM
Bản đồ TQ thời Chiến Quốc, năm 350TCN
(Không có Ngô vì đã bị Việt thôn tính):


Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.94.---)
Date: January 14, 2012 05:32AM
Với tôi, huyền thoại nên đọc theo một tinh thần và sự cảm thụ văn học nghệ thuật, triết lý, luân lý hơn là nhãn quan của sử học.
Dù thế nào, thư tịch cổ đã hé lộ một sự thật về người Việt Nam: Có một dân LẠC sinh sống gắn liền với ruộng LẠC do LẠC hầu (vương) cai quản thuộc vùng đất mà sau này nhà Hán thiết lập thành quân Giao Chỉ. LẠC này viết bằng các dạng 雒,駱 (sách Hán) và (sách VIệt) và đặc biệt là dạng HÙNG, đây chính là một mắt xích để kết nối: LẠC = HÙNG, từ đó xuất hiện một Hùng vương và nước Văn Lang như một cách gọi khác của LẠC vương và đất của dân ruộng LẠC. Cái tên gọi HÙNG thắng thế là phải, rất hợp lòng người, vừa đẹp và oai phong nên từ bình dân lẫn văn nhân, sử gia đều ưa chuộng. Nếu đất và dân của Lạc Hầu (vương) bị con vua Thục tiêu diệt và nội thuộc thì cũng chính là nước Văn Lang của Hùng vương bị biến mất khỏi lịch sử và hòa lẫn vào một đất nước mới đó là nước Âu Lạc (cái tên nước này chính là lấy từ một lời chú từ sử Tầu) của An Dương Vương, con vua Thục. Nhưng trên hết, điều quan trọng bậc nhất là chính thư tịch Tầu đã xác nhận có một sự kiện lịch sử đó là: Con vua Thục đem quân 3 vạn đánh Lạc Hầu và tự xưng là An Dương Vương rồi sau đó lại bị chính TRIỆU ĐÀ tiêu diệt. Có thể nói nếu không có TRIỆU ĐÀ dính líu vào An Dương vương qua một quỷ kế, một cuộc tình bi thảm thì chưa chắc Hùng vương, Văn lang, An Dương vương có thật mà chỉ là chuyện cổ tích! May thay, chính TRIỆU ĐÀ - một con người thật 100% đã được Sử Ký của Tư Mã Thiên ghi chép, khảo cổ học đã chứng minh - đã góp phần xác định một nước Văn Lang với vua Hùng vương là một sự thật lịch sử. Đây chính là thâm ý của cổ nhân. Nhà Nho Ngô Thời Sỹ đã mắng lầm các thế hệ sử gia tiền nhân, tưởng rằng khôn hơn người xưa nhưng hóa ra không phải vậy.
Tóm lại: LẠC là một tên gọi của một dân tộc VN thời thượng cổ gắn liền với một ruộng LẠC do một thủ lĩnh dân LẠC ở một vùng đất khi chưa bị nhà Hán lập thành quận Giao Chỉ là có thật như thư tịch Hán đã ghi chép nhưng đời sau cũng do một ghi chép từ thư tịch Hán, LẠC bắt đầu gọi bằng một tên khác đó là HÙNG. Sự thậtnày là sự thật vì và phải gắn liền với tên gọi lịch sử TRIỆU ĐÀ với ghi chép từ thư tịch Hán qua câu chuyện bị nhuốm màu truyền thuyết TRIỆU ĐÀ đánh AN DƯƠNG VƯƠNG mà trước đó AN DƯƠNG VƯƠNG đánh LẠC HẦU.
Có thể nói rằng: Nếu không có nhân vật lịch sử TRIỆU ĐÀ tất sẽ không có AN DƯƠNG VƯƠNG và hay HÙNG VƯƠNG và mọi chuyện sẽ chìm khuất trong màn sương mù dày đặc của huyền thoại.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (---.235.128.86.adsl.viettel.vn)
Date: January 14, 2012 05:51AM
Trang mạng của Tàu
[baike.baidu.com]

  学术界公认骆越古国[1]的范围北起广西红水河流域西起云贵高原东南部东至广东省西南部南至海南岛和越南的红河流域骆越文化的源头和中心在中国主体部分也在中国这个中心和最早的国都就在武鸣

Học thuật giới công nhận, Lạc Việt cổ quốc [ 1 ] đích phạm vi bắc khởi Quảng Tây Hồng thủy hà lưu vực, tây khởi Vân Quý cao nguyên đông nam bộ, đông chí Quảng Đông tỉnh tây nam bộ, nam chí Hải Nam đảo hòa Việt nam đích Hồng Hà lưu vực.
Lạc Việt văn hóa đích nguyên đầu hòa trung tâm tại trung quốc, chủ thể bộ phận dã tại trung quốc.
Giá cá trung tâm hòa tối tảo đích quốc đô tựu tại Võ Minh.

Giới học thuật công nhận phạm vi nước Lạc Việt cổ phía Bắc từ lưu vực sông Hồng thủy, tây từ vùng đông nam cao nguyên Vân Quý, đông tới tây nam bộ Quảng Đông, nam tới đảo Hải Nam và lưu vực sông Hồng của Việt Nam. Trung tâm và khởi nguyên của văn hóa Lạc Việt vốn tại Trung Quốc, bộ phận chính cũng ở tại Trung Quốc.
Trung tâm và cũng là quốc đô xưa nhất là ở Võ Minh.

====

Không rõ "trung tâm và quốc đô xưa nhất là ở Võ Minh" vào thời kì nào nhỉ, có phải khi đó là nước "Xích Quỷ" trong sử Việt ?

Trang đó lờ không chịu nói ra trung tâm và quốc đô trước khi bị Hán tộc xâm lược (xin lỗi, tại hạ không biết nên dùng từ nào nhã nhặn hơn !), là vùng Phong Châu-Cổ Loa, tại Việt Nam.
Nhắc lại các cứ liệu dân số Lĩnh Nam sau khi nhà Hán thôn tính Nam Việt của họ triệu thì vùng Bắc Việt Nam đông gấp 2,5 lần vùng Lưỡng Quảng, mật độ dân số trên một huyện cao gấp 4 lần, xem : [www.viethoc.org]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 14, 2012 06:01AM
Giới học thuật kia là Tàu vậy. Phạm vi "nước Lạc Việt cổ" mà họ nói đến cũng ứng với phạm vi "văn hóa xẻng đá lớn", cũng khớp với "văn hóa trống đồng", cũng khớp với nước Văn Lang trong truyền thuyết của Việt.

Họ nói cố đô là ở Vũ Minh là vì khảo cổ phát hiện rất nhiều ngôi mộ có từ thời Chiến quốc, có nhiều ngôi mộ chứng tỏ là của giới quý tộc ở vùng Vũ Minh.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 14, 2012 06:51AM
Phát hiện 2 chiếc nha chương to đẹp nhất Việt Nam


http://www2.vietbao.vn/images/vn65/van-hoa/65080766-small_87935.jpg
Hiện vật trong mộ: 2 chiếc nha chương, 4 vòng tay đá, 1 chuôi rìu đá.


Nha chương là hiện vật quý và đẹp. Từ trước tới nay mới tìm được vài chiếc. Những ngày cuối cùng của năm 2006, giới khảo cổ lại vui mừng khi tìm thêm được 2 chiếc nữa được chôn ngay trong một ngôi mộ táng ở địa điểm khảo cổ nổi tiếng trên đất Phú Thọ.

Ngày 24/12/2006, nhân dân xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh, Phú Thọ đã tìm được một số mảnh vòng trang sức bằng đá ở địa điểm khảo cổ học Xóm Rền dưới độ sâu khoảng 40cm trong khi đào đất. Nhờ ý thức bảo vệ di tích cao, người dân đã báo cho Bảo tàng Phú Thọ đến tiến hành khai quật.

Một ngôi mộ táng được phát lộ đã làm cho các nhà khảo cổ hết sức vui mừng vì đồ tùy táng không những tương đối nguyên vẹn mà còn rất quý hiếm. Căn cứ vào vị trí của các hiện vật, chúng ta có thể hình dung được cách chôn cất chủ nhân ngôi mộ này.

Vị trí đầu mộ tìm thấy khoảng 50 hạt chuỗi đá hình trụ và hơn 10 mảnh vỡ của một loại vòng đá đeo cổ. Vị trí mỗi bên cổ tay, người chết được đeo 2 chiếc vòng tay đá có mặt cắt ngang hình chữ T đường kính lớn đến 12,1cm. Đặc biệt, dọc theo thân người mỗi bên được đặt 1 chiếc nha chương bằng đá ngọc nêphơrit. Cả 2 chiếc đều còn nguyên vẹn.

Chiếc thứ nhất có hình dáng là một thanh đá dài và dẹt, đá màu trắng vân xám. Phần chuôi hình chữ nhật, có lỗ ở giữa chuôi. Phần lưỡi có 2 ngạnh nhọn như hình đuôi cá và được mài vát một bên. Giữa chuôi và lưỡi có những mấu nhô ra được mài giũa khá tinh tế. Chiều dài của chiếc nha chương này đạt kỷ lục trong số các nha chương tìm được ở nước ta: dài 63cm, chỗ rộng nhất 11cm.

Chiếc này được chôn ở phía sườn phải người chết, phần chuôi được đặt hướng về phía đầu và phần lưỡi được đặt hướng về phía chân. Kỹ thuật chế tạo chiếc nha chương này khá tinh xảo. Toàn thân được mài nhẵn bóng dường như không có một vết ghè đẽo.

Thời bấy giờ chưa có dụng cụ kim loại, người xưa đã dùng những lưỡi cưa đá, khoan đá và sự kiên nhẫn đã tạo ra một sản phẩm tuyệt hảo đến vậy. Hai bên nha chương phẳng lỳ, nổi lên những đường vân đá ngọc. Có lẽ những thợ làm đồ đá mỹ nghệ ngày nay cũng chỉ làm được đến thế là cùng.

Chiếc thứ hai có dáng hình gần giống chiếc thứ nhất nhưng nhỏ hơn, thân thẳng, rìa lưỡi cong tròn hơn là hình đuôi cá. Hiện vật có màu trắng, vân màu hồng. Chiều dài 32,4cm, chiều rộng 7,7cm. Toàn thân cũng được mài bóng và không có vết ghè đẽo. Chiếc này được chôn phía bên sườn trái người chết. Người xưa đặt chiếc nha chương này ngược hướng với chiếc thứ nhất: chuôi hiện vật hướng về phía chân.

Việc định niên đại của nha chương cũng như ý nghĩa khoa học của nó đem lại nhiều vấn đề mới và lý thú.

Đây là một ngôi mộ thuộc văn hóa Phùng Nguyên, cách đây khoảng từ 3.700 đến 3.400 năm. Địa điểm khảo cổ này đã nổi danh từ lâu mang tên là Xóm Rền, nằm gần sông Lô, thuộc địa phận huyện Phù Ninh và cách khu vực Đền Hùng không xa. Các nhà khảo cổ đã từng khai quật đến lần thứ sáu và thu được khá nhiều đồ đá, đồ gốm.

Tại đây đã phát hiện 1 chiếc nha chương vào năm 1981 và 1 chiếc vào năm 2004 nhưng 2 chiếc này không đẹp và không lớn như 2 chiếc mới được phát hiện. Ngoài Xóm Rền là nơi có nhiều nha chương nhất, ở tại địa điểm Phùng Nguyên (xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao) cũng đã tìm được 2 chiếc nha chương vào năm 1985.

Hiện vật quý và hiếm, mới tìm thấy trên địa bàn vùng Đất Tổ Phú Thọ, đã cho thấy đây quả là quê hương tập trung nhiều hiện vật điển hình và đặc sắc của nền văn hóa Phùng Nguyên. Mà, như các nhà khảo cổ giải mã thì chính văn hóa Phùng Nguyên là nền văn hóa khởi nguồn của người Việt cổ cách đây gần 4.000 năm.

Nha chương: vũ khí hay một dạng quyền trượng?

Nha chương là cái gì? Điều đó cho đến nay các nhà khảo cổ trong và ngoài nước vẫn còn tranh luận... Sự quý giá từ chất liệu đá ngọc, kỹ thuật chế tác đá đỉnh cao thì ai cũng thấy được nhưng với “vóc dáng” mỏng mảnh chỉ khoảng 0,5 - 0,8cm, thì làm công cụ và vũ khí sao được. Mặc dù có lưỡi mài vát một bên, nhưng do hình dáng mỏng dẹt mà chỉ đánh rơi cũng vỡ, bổ vào người hoặc thú săn thì nha chương gãy vỡ là không thể tránh khỏi.

Không chỉ Việt Nam phát hiện loại hiện vật này mà Trung Quốc cũng có ở tỉnh Hà Nam, Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Phúc Kiến, Hồng Công và cũng ít khi tìm được trong mộ táng. Theo Giáo sư Hà Văn Tấn, các học giả Trung Quốc có nhiều cách gọi loại hiện vật này.

Có khi gọi là loại ngọc “Diễm Khuê”, có lỗ ở gần đốc, có 2 tia nhọn ở lưỡi là hình tượng của sát thương, chinh phạt. Mỗi khi chư hầu không tuân lệnh thì vua sai quan đại phu cầm đến để dụ cáo. Một số gọi đây là vật hình dao có lưỡi một đầu. Nhiều người gọi là nha chương (theo sách Chu Lễ thì nha chương dùng để điều động quân đội, chỉ huy quân đồn thú).

Ngay bản thân chữ “Nha” tiếng Hán có nghĩa là răng nhọn đã bao hàm ý nghĩa công kích, uy hiếp. Tác dụng của nha chương như một thứ hổ phù hay một dạng “thượng phương bảo kiếm” đầy uy lực trong quân đội. Một số ý kiến lại cho rằng, đây là một vật nghi lễ chứ không liên quan đến quân đội. Nhưng tựu trung, các nhà khoa học đều cho rằng ở đâu xuất hiện nha chương thì ở đấy xuất hiện quyền lực thủ lĩnh.

Nếu quan sát hiện vật cụ thể, chúng ta có thể loại bỏ chức năng thực dụng của nha chương chỉ còn chức năng nghi lễ. Tuy nhiên, đây cũng không hẳn là một loại hiện vật như thẻ bài, ấn tín sau này mà có lẽ cũng có chức năng tượng trưng cho một loại vũ khí, ít ra là buổi ban đầu, đó là những chiếc “qua”.

Cũng cần giải thích thêm rằng, qua là một loại vũ khí phổ biến ở Trung Quốc giống như câu liêm được lắp cán dài dùng để bổ và chém, có lưỡi sắc và nhọn thường thấy ở trong nhiều bộ phim dã sử Trung Hoa. Những chiếc qua đá cũng tìm được trong văn hóa Phùng Nguyên.

Nha chương có một số nét của qua thể hiện ở chỗ: có lỗ để xâu dây buộc cán, có phần gờ hai bên để buộc dây vào cán, nhiều chiếc cũng có phần lưỡi cong lệch về một bên. Vì thế, những chiếc nha chương có thể được coi là một loại “qua” nghi lễ, được lắp thêm cán và dần dà biến thành một thứ vũ khí tượng trưng cho quyền uy như một dạng quyền trường.

Sản phẩm của sự giao lưu văn hóa

Tương đương với niên đại của văn hóa Phùng Nguyên ở ta là đời nhà Thương bên Trung Quốc. Cả hai nước đều phát hiện ra loại hình nha chương tương đối giống nhau và khá sớm cách đây gần 4.000 năm.

Nhiều người cho rằng, nha chương là hiện vật của văn hóa Trung Quốc vì tìm thấy số lượng nhiều hơn, mặc dù cũng ít khi tìm được trong mộ táng. Nếu như vậy thì những chiếc nha chương có mặt ở ta là do giao lưu văn hóa. Đó cũng là hiện tượng bình thường trong thời cổ đại, nếu như chúng ta biết rằng, ngay cả trong một ngôi mộ cổ ở tỉnh Triết Giang, Trung Quốc cách Việt Nam hàng ngàn cây số về phía bắc cũng có chôn theo một chiếc trống đồng minh khí đích thị của người Việt cổ.

Khi mới tìm thấy, các nhà khảo cổ Trung Quốc cũng phải thừa nhận trống đồng minh khí không phải là sản phẩm của vùng này. Điều đó chứng tỏ không chỉ ngày nay mà con đường giao lưu kinh tế, văn hóa của Việt Nam đã sớm rộng mở và cũng vươn xa từ 4.000 năm về trước. Sự giao lưu hai chiều này đều có đi có lại. Mà không chỉ giữa ta và Trung Quốc mà còn với nhiều nước khác ở Đông Á và Đông Nam Á nữa.

Tuy nhiên, những chiếc nha chương Xóm Rền vừa phát hiện được vẫn có khả năng sản xuất ở nước ta. Chất liệu làm 2 chiếc nha chương này hoàn toàn cùng loại đá ngọc màu trắng của 4 chiếc vòng tay, hạt chuỗi vòng đeo cổ điển hình của văn hóa Phùng Nguyên. Người Việt cổ vào thời điểm này cũng có trình độ chế tác đá tuyệt đỉnh thừa sức chế tạo nha chương và họ cũng có nhiều công xưởng làm đá ngọc mà điển hình là ở địa điểm Tràng Kênh, Hải Phòng. Cũng ghi nhận thêm một điểm là mộ táng mới phát hiện này đã cung cấp một bộ đồ trang sức tuyệt đẹp hiếm có của người xưa: vòng tay, hạt chuỗi, vòng cổ, tất cả đều làm bằng đá quý.

Sự có mặt của loại nha chương ở Xóm Rền đã cho thấy xã hội người Việt cổ đã hình thành một số thủ lĩnh có quyền lực chi phối một cộng đồng người, nhen nhúm các tiền đề phân hóa xã hội để hình thành nên nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương trên vùng Đất Tổ

PGS.TS. Trịnh Sinh



[ca.cand.com.vn]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.94.---)
Date: January 14, 2012 07:15AM
Tôi cho là LẠC ở Bắc Việt không phải là LẠC VIỆT , LẠC VIỆT mà sử Tầu nói chung về các giống người sống ở Giao Chỉ, Cửu Chân không xác định rõ là tộc người nào, nhưng trong đó tất có ÂU LẠC của An Dương bao gồm cả đất của LẠC dân hay cũng có khả năng là Tây Âu và Lạc (?) và các tộc khác nữa, kể cả một phần dân Việt ở Lưỡng Quảng của nước Nam Việt.
Chính vì thấy tên gọi LẠC quá mơ hồ, dễ lẫn lộn theo sử Tàu nên các sử gia Đại Việt sau này thích nhìn nhận với cái tên HÙNG mà sách Nam Việt Chí đã viết thay cho Lạc điền, Lạc dân, Lạc tướng. Theo thiển ý, dân tộc VN thời thượng cổ không có nguồn gốc từ LẠC VIỆT. Hiểu như vậy là trệch hướng.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (171.252.199.---)
Date: January 14, 2012 10:05AM
Đúng Lạc Việt là đa nguyên, cũng như Hán tộc là đa nguyên vậy.
Có ai bảo Việt-Mường nguồn gốc từ Choang-Lê đâu mà Đinh tiên sinh phải đứng ra giữa đường huýt còi chỉ hướng ?

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 14, 2012 10:21AM
Trung Nguyên bằng phẳng cũng tương đương diện tích của Giang Nam như thế mà người Hán cũng đồng nhất đâu, ở Sơn Đông là người Tề-Lỗ thiên hướng Đông Di, phía bắc là Yên-Triệu thiên hướng Hồ-Mạch, phía tây là người Tần thiên hướng Khương-Nhung, phía nam là người Sở thiên hướng Man-Miêu. Người Hoa gốc có lẽ chỉ có Tống-Vệ-Chu-Trần mà thôi.

Cùng gọi là Lạc Việt nhưng lại chia làm ba nhóm lớn đó là Choang-Đồng nói tiếng Tày-Thái ở lưu vực sông Châu, Kinh-Mường ở lưu vực sông Hồng, Lê ở đảo Hải Nam vậy.

Chưa kể có thể các nhóm Việt phía bắc như Dương Việt, Ư Việt di cư lẻ lẻ xuống ở lẫn.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: fanzung (171.252.199.---)
Date: January 14, 2012 10:25AM
Đinh tiên sinh nói cũng có chỗ đúng, người Việt vốn không tự xưng là Lạc Việt, cái tên Lạc Việt là do các bác Tàu gọi, chứ người Việt xưng quốc hiệu là Văn Lang, sau này là Âu Lạc, rồi Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Việt Nam.
Các bác có kiến giải nào mới về tên gọi Văn Lang không nhỉ ?

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 14, 2012 10:36AM
Quote:
Đinh Tuấn
Tôi cho là LẠC ở Bắc Việt không phải
là LẠC VIỆT , LẠC VIỆT mà sử Tầu
nói chung về các giống người sống ở
Giao Chỉ, Cửu Chân không xác định rõ
là tộc người nào, nhưng trong đó tất
có ÂU LẠC của An Dương bao gồm cả
đất của LẠC dân hay cũng có khả năng
là Tây Âu và Lạc (?) và các tộc khác
nữa, kể cả một phần dân Việt ở
Lưỡng Quảng của nước Nam Việt.

Quan điểm Tây Âu và Lạc Việt dung hợp lập nên nước Âu Lạc ở Giao Chỉ chẳng có cơ sở nào cả, chỉ là kết quả chủ quan của một nhóm học giả Đào-Hà cũ thôi.

Thục Phán có gốc từ đâu còn chưa rõ, làm sao mà là Tây Âu được? Tây Âu theo sử cũ là các bộ lạc ở phía bắc sông Chu. Các nhà khảo cổ Quảng Tây đã nghiên cứu dựa theo sự phân bố các di chỉ khảo cổ và sự khác biệt giữa các nhóm dân Choang-Đông đã kết luận Tây Âu ở phía đông bắc Quảng Tây, trung tâm là vùng Thương Ngô ở bên sông Li và sông Quế, còn Lạc Việt ở phía tây và phía nam sông Châu, trung tâm là lưu vực sông Tả-Hữu.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Lí Nhĩ Chân (183.81.16.---)
Date: January 14, 2012 10:45AM
Quote:
fanzung
Đinh tiên sinh nói cũng có chỗ đúng,
người Việt vốn không tự xưng là Lạc
Việt, cái tên Lạc Việt là do các bác
Tàu gọi, chứ người Việt xưng quốc
hiệu là Văn Lang, sau này là Âu Lạc,
rồi Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại
Việt, Việt Nam.
Các bác có kiến giải nào mới về tên
gọi Văn Lang không nhỉ ?


"Lạc Việt" là từ người Tàu gọi về các bộ lạc mà họ tiếp xúc trên con đường xuống phía nam, đương nhiên họ gặp các bộ lạc ở Thương Ngô, Quế Lâm trước Giao Chỉ. Vậy muốn tìm gốc gác của từ "Lạc Việt" phải sang Quảng Tây đến các làng bản người Choang mà nghiên cứu. Các bộ lạc này có đặc điểm chung nào đó nên họ gọi như thế. Cũng như ta gọi người Trung Quốc là "Tàu" vậy, chứ họ có gọi là người "Tàu" đâu?

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: huongho (---.lightspeed.irvnca.sbcglobal.net)
Date: January 14, 2012 04:18PM
Quote:
fanzung

Các bác có kiến giải nào mới về tên
gọi Văn Lang không nhỉ ?



Kiến giải mới thì chưa có , kiến giải cũ thì đây :

Sách Tầu ghi nhận về danh xưng Văn Lang 文 郞 :

Sách Thông Điển ở đời Đường chép :
[ 峰 州 今 理 嘉 寧 縣 .古 文 朗國 ]

Sách Thái Bình Ngự Lãm ở đời Tống chép :
[ 峰州
方舆志峰州承化郡古文郎国...
林邑记苍梧以南有文郎野人 ...]

文 郞 được Chệt Quảng Đông phát âm là man4 ( man6 ) long4

Mấy ông lùn xứ Phù Tang đọc chữ này là BUN ( MON ) .

Do đó thiển ý cho rằng 文 郞 là ghi âm của MLONG , BLONG trong tiếng Nôm .
Suy rộng ra BL = KL ( xem QÂTT , Ba+lại = Cự+lại = TRÁI )

MLONG,BLONG = KLONG

Bố Hùng vương sống ở thủy phủ .

Ông nội Hùng vương sống ở thủy phủ .

Hùng vương đặt tên nước là Văn-Lang = sông nước ???

NƯỚC trong tiếng Việt , ngoài nghĩa là nước lã cũng còn có nghĩa là xứ sở .

Goto Page: Previous1234567891011Next
Current Page: 10 of 11


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity