Việt Sử - VN History :  Diễn Đàn Viện Việt Học
This forum hosts all discussions on VH History topic.  
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: 1234567891011Next
Current Page: 1 of 11
Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Nguyễn Trọng Cảm (---.dsl.sndg02.pacbell.net)
Date: April 14, 2005 07:56AM
Trong bài "Ý Nghĩa Quốc Hiệu Lạc Việt," ông Vũ Thế Ngọc có nói:
"Riêng về chữ "Lạc bộ Trãi", chỉ riêng có sử gia Việt là dùng. Chữ này phải đọc là Mạch (âm Quan Thoại là Mỏ) chỉ một dân tộc (rợ) phương Bắc Trung Quốc, hoặc là Hạc (âm Quan Thoại là Hao) nghĩa là một loài chồn, badger, da dùng làm áo."

[mevietnam.org]

Biết rằng phát âm thay đỗi qua thời gian, và rằng khoa ngôn ngữ có khả năng truy các âm khác nhau trong quá khứ của một âm hiện nay, và định thời điểm của các âm ấy, chúng ta phải biết âm của từ "Lạc viết với bộ Trãi, hoặc Trĩ" (tức là con trùn, sâu không chân), thời gian hình thành từ tự dạng ấy, và dân tộc mà tự dạng ấy muốn chỉ.
Tôi không đồng ý với quan điểm của tác giả rằng người Việt Nam chuộng tự dạng này vì nó không xấu như hai tự dạng "Lạc bộ Mã," và "Lạc bộ Chuy," vì nó không dùng các bộ chỉ thú vật, vì "Tri"̃ cũng là thú vật (chẳng may cho các dân tộc ở quanh dân tộc Hoa Hạ là họ đều bị dân tộc này gọi bằng những cái tên không mấy mang tính con người, và tiếc thay dân tộc Việt Nam cũng không được ưu đãi gì hơn).
Như vậy thì việc người Việt Nam, hậu duệ của dân tộc Lạc Việt dùng tự dạng Lạc bộ Trãi (và Việt bộ Vượt, thay vì Việt bộ Mễ, Việt bộ Kim, hay Việt nguyên thủy đời Thương) là vì lý do khác. Tìm ra lý do này có thể soi sáng vài điều quan trọng cho tiền sữ dân tộc Lạc Việt. Tôi không biết chữ Hoa để tìm hiểu; mong các vị có khả năng này bỏ công nghiên cứu.
Nhân đây tôi xin thêm là ông Bình Nguyên Lộc có nói về Lạc bộ Chuy, Lạc bộ Mã, và Lạc bộ Trãi đều có sọ giống về chỉ số, và khác với chỉ số sọ của chủng tộc Hoa Hạ. Thời cuốn sách Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam ra đời, khoa di truyền học chưa phát triễn nên cuốn ấy là khoa học nhất. Nay với khám phá khoa học mới, chúng ta có thể xét lại cuốn sách dựa trên khoa học này 24 năm trước kia để xem cái gì đã bị thời gian vượt qua, cái gì vẫn còn dùng được cho việc nghiên cứu về đề tài này hôm nay.
Nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô về tiền sử các dân tộc ở Trung Quốc cho thấy nguồn gốc chung của ba thứ Lạc này (xem Ketmar trong University of California at Berkeley Press). Một nghiên cứu về di truyền học trên người Việt hiện nay cho thấy dân tộc Việt Nam gần với dân tộc Hàn hơn là các dân tộc Nam Trung Quốc, và Đông Nam Á. Điều này hỗ trợ cho giả thuyết của ông Bình Nguyên Lộc rằng Lạc bộ Trãi gần với Đông Di, và có quan hệ với "rợ Tam Hàn;" và di cư và Bắc Bộ Việt Nam cách đây khoảng 5000 năm. Chỉ khác là nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô thì nói rằng hướng thiên di là ngược lại.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: h (---.cpe.net.cable.rogers.com)
Date: April 18, 2005 06:35AM
February 06, 2005
"Kota Gelanggi Ancient City Discovery and the Origins of Melayu"




The Star highlights an exciting discovery of a civilisation that dates back even further than Malacca, with some claims of it being older than the Angkor Wat, one of the seven wonders of the ancient World.

While a little out of topic in this blog, I must admit to a fascination in Sanskrit texts and have studied them as a hobby for a better part of a decade, since coming across an ancient Sufi manuscript in Indonesia that described a portion of a Sanskrit 'Sastara' as an embodiment of how God whispers in many languages.

This discovery has much significance in it's historical comstruct of this region and the distinct influences to early Sanskrit literature, which recorded the rise and fall of kingdoms in this region not through essays as we are often used to, but rather as spiritual hymns, that draw upon the occasion as an example to the tantric teachings and woven as a moral lore.

Some things that crossed my mind as I read the articles were that this 'lost' city was probably the kingdom of Lo-Yue, was also the first centre of trade for Sri Vijaya.


The region has a long history, dating back to more than 2500 years bc. the earliest recorded ruler being Marayo, who ruled from 2666-2604 bc. (Link: Reference and list of Rulers).

This would bring it within the timeline of the mysterious Indus Valley civilisation;

"Indus Valley Civilization: 2500(app.)-1700(app.)b.c Also known as the 'Harrapa' named after the site of the first discovered city, archaeologists are still struggling to understand them. We do not know anything of it's religion and no murals or story-art has been found. What we do know is that they were great builders and city planners centered around an agricultural community that existed between the Mohenjo-daro river and the Indus river. Tablets and pottery found depict animals, ornately coiffed women, jewelry and generally hint at a sophisticated artisan society".[Source]

The find brings into context many matters, among those the origins of the Melayu, deeply rooted in the Kesutanan ideology, which resulted from the Islamisation of the Rulers of this region, who previously carried the Raja or Sri title, influenced by the Hindu Empire, which had numerous Raja's ruling across many provinces. They were united then under the Chola Empire, of which the ruler, upon conquest of the provinces assumed the title Rajaraja I (presumable Raja of all the Raja's) circa 985AD.

It is his son, Raja Rajendra Cholavarman I, that is believed to have, in 1017AD, waged war against the Srivijaya Empire (Foshi, to the Chinese Merchants of the time), destroying the city of Gangga Negara in Perak in 1025AD, and subsequently this city of Kota Gelanggi, which might be the lost city of Lo-yue, as described by Raimy.

Although some manuscripts describe it to be a colony of Srvijaya, the Chinese explorer Kie-Tan explicitly mentioned Lo-yue and Foshi as separate countries, perhaps independant as an entity of governance yet paying tribute to the Srivijaya empire, a common occurence in the feudal nature of the region at that time.

"From Kuang-chou (Canton) towards the southeast, travelling by sea for 200 li, one reaches Mount T’un-mon. Then, with a favourable wind going westward for two days, one reaches the Kiu-chou rocks (Hainan). Then southward, and after two days one reaches the Siang-shi, or Elephant Rock. Then southward after three days, one comes to Mount Chan-pu-lan, this mountain is in the sea at 200 li east of the country of Huan-wang (Tongking). Then southward, after two days journey, one reaches Mount Ling. Then, after a day’s journey one comes to the country of Montu. Then after a day’s journey one comes to the counry of Ku-tan; then after a day’s journey one reaches the territory of Pon-to’o-lang. Then after two days journey one comes to Mount Kun-t’u-nung. Then after five days journey one comes to the strait the Barbarians call Chi. From the south to the north it is 100 li.. On the northern shore is the country of Lo-yue, on the southern coast is the country of Foshi."[Source: Kie-Tan's Journal of his travel]

Foshi is also mentioned in Leornard Andaya's The Search for the Origins of Melayu, in which he writes;

The name ‘Melayu’ appears for the first time in literary sources as a settlement in southeast Sumatra that sent a mission to China in 644. The earliest detailed account is by the Chinese Buddhist pilgrim Yijing,who spent time in Palembang and Jambi on two separate occasions in 671, and was there again from 689-95. He spent six months learning Sanskrit grammar in a place whose name for both the country and the capital was transcribed as (Shili)foshi.He was then sent by the ruler to the country of Melayu,where he stayed for another two months. On his second visit Yijing again went to ‘Melayu’, which he says had now become [Shili] Foshi [Srivijaya], meaning either that it had supplanted Srivijaya, or more likely that it had become a part of Srivijaya.He noted that there were many ‘states’ under this kingdom, and that in the fortified city there were more than a thousand Buddhist priests who had come to study religion.

(Fochi means success in Chinese and early scriptures refer to the Srivijaya Empire as San Fo Che meaning three success. This would be a direct translation from Sanskrit in which Srivijaya means Three Great Success, refering to the three kingdoms that formed Srivijaya)

(An Adobe Acrobat PDF version of this article can be found at Water Cooler Crowd Wiki, Origins of Melayu page)

This could also mean that Lo-yue could be a Srivijaya state or perhaps a trading outpost that linked Srivijaya with the Gangga Negara colony and further onwards to the Cambodian rulers of Angkor Wat, the Jayavarman Dynasty.

It is interesting to note that the Jayavarman Dynasty, builders of Angkor Wat, had a ruler, Jayavarman Paramesvara who ruled circa 1325 and was thought to have been on of the last of the Angkor kings, the Empire itself destroyed by the Siamese at about this period. (List of Angkor Kings)

Then again, the Parameswara that founded Malacca was said to be the descendant of Sang Nila Utama, who was credited with naming Singapore. This connection is a display of the strong links that the Khmer kings shared with the region here, or did the dates got bungled as they often do, and the Parameswara we know was similar to that of the defeated Khmer King?

FYI, Parameswara in sanskrit means divine super soul, in essence, one who never dies, referenced in Bhagavad Gita text 28,

samam sarvesu bhutesu tisthantam paramesvaram vinasyatsv avinasyantam yah pasyati sa pasyati

This Parameswara's journey did not document the lost city of Kota Gelanggi, meaning that it no longer was in existence by that time.

The relevance of Kota Gelanggi is further heightened by the fact that the Srivijaya Empire extended itself until the Chaiya Province in Surat Thani, Thailand and may have served as the entry outpost for travellers from the Javanese islands, who would than traverse by land, visiting various colonies (to also collect taxes/tributes perhaps) as they headed north.

If one was to look deep into the historical events surrounding Srivijaya and Kota Gelanggi, one may be privy to the historical origins of the Malays, from their Khmer and Funan lineage right up to the current Melayu in Malaysia and see that we have been interlocked with Chinese and Indian culture for thousands of centuries, as they help document and build this civilisation and as we traded, warred and became allies again in an intiguing feudal history, worthy of many tales and truths.

If one were to explore it, I can see no reason for anyone to be racialistic or call another person a racist, for truth be told, we are all rather intertwined by history.I myself have all three blood in my veins.

It is the ignorance of our historical links and the naive stupidity of fear and insecurity that drives us not towards racism, but polarity. Both inter and intra race.

I am at least glad that Datuk Seri Rais Yatim, a man whom I personally respect as extra-ordinary both in thought and idealogy, is putting a lot of importance in this project.

A sterling decision, Datuk Seri, and one that further enhances our racial links, in the hopes that by understanding our ancestors, we understand each other a little more.


Nguồn:
[www.brandmalaysia.com]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Nguyễn Trọng Cảm (---.dsl.sndg02.pacbell.net)
Date: April 18, 2005 07:01AM
"The region has a long history, dating back to more than 2500 years bc. the earliest recorded ruler being Marayo, who ruled from 2666-2604 bc."
Cùng thời với Lộc Tục.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: h� vũ trọng (---.cpe.net.cable.rogers.com)
Date: April 18, 2005 09:25AM
PETALING JAYA, Friday February 4, 2005 :
: Media from all over the world have swamped The Star with calls asking for more information on the Kota Gelanggi lost city, its whereabouts in Johor and independent researcher Raimy Che-Ross.

Calls came from FujiTV, NHK Japan, Radio Australia, AFP, BBC and several other foreign media.

Readers of The Star also flooded the office with calls from as early as 8.30am.

Many of the callers were confused over the Johor site and the Kota Gelanggi cave complex in Pahang, a site known for its pre-historic links, about 30km from Jerantut.

Six years ago, a team of archaeologists unearthed artefacts there believed to be more than 1,500 years old in one of the caves.

The relics included pottery, hunting tools, weapons and ornamental pieces.

It indicated a settlement of early humans in the Kota Gelanggi caves known as the “Hoabinhian” or the “Neolitic” people of the more advanced Stone Age. They were believed to have lived there until the Bronze Age.

Archaeologist William Cameron, who visited the site in 1882, recorded the early human settlements.

The site was gazetted by the Pahang government as a Historical Heritage Area in 1995.

The 1,000-year-old lost city in Johor, on the other hand, is believed located in dense jungle.

Raimy's discovery of what is thought to be the site of Kota Gelanggi or Perbendaharaan Permata (Treasury of Jewels) has prompted museum officials to plan an expedition to confirm his findings.


Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Nguyễn Trọng Cảm (---.dsl.sndg02.pacbell.net)
Date: April 18, 2005 04:54PM
"It indicated a settlement of early humans in the Kota Gelanggi caves known as the “Hoabinhian” or the “Neolitic” people of the more advanced Stone Age. They were believed to have lived there until the Bronze Age."
Khảo cổ có khái niệm VĂN HÓA Hòa Bình, còn NGƯỜI Hòa Bình, nếu có thể dùng khái niệm này, tôi nghĩ chính là người Australoid hoặc Australoid lai một ít với Mông Cổ, gọi là Melanesien.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: pham chanh trung (---.vnn.vn)
Date: April 30, 2005 06:27AM
Một vương quốc tự xưng là LoYue ( Lạc Việt) tồn tại cùng thời với đế quốc Sri Vijaya (mà theo bài ở đây là San Foshi, theo du ký của nhà sư Yijing, tức Nghĩa Tĩnh, khoảng năm 650 AD) trên bán đảo Mã Lai vào thế kỷ thứ 7 CN tôi đã có đề cập trong bài nói về NEGERI SEMBILANG. San Fochi này chắc là Tam Phật tề, nằm trong vùng Palembang ngày này ở phía đông nam đảo Sumatra (Indonesia). Nói thêm là sư Nghĩa Tĩnh cho biết người Lạc Việt này đến đây từ khoảng 600 năm trước. Theo bài trên thì Kota Gelanggi (cũng như dân Malay) có chịu ảnh hưởng của cả dân Phù nam và Chân lạp nữa, tức là lúc này họ còn lạc hậu lắm. Mà dân Phù Nam, theo mô tả của Khang Thái (sứ thần Đông Ngô thời Tam Quốc) trong PHÙ NAM KÝ (dẫn trong NGÔ CHÍ) thì giống hệt thổ dân Malaysia ngày nay (da đen, tóc quăn, không mặc quần áo, thấy ai mặc quần áo thì chê cười cho rằng có khuyết tật phải che dấu, ăn trầu). Thổ dân này ngày nay gọi là ORANG ASLI (người nguyên thủy), nói tiếng Môn-khmer.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: H� Vũ Trọng (---.cpe.net.cable.rogers.com)
Date: May 03, 2005 12:42PM
Thưa anh Phạm Chánh Trung - bài về NEGERI SEMBILANG hiện có đăng ở trên mạng không, xin cho địa chỉ để tìm đọc. Cám ơn anh.


Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Nguyễn Trọng Cảm (---.dsl.sndg02.pacbell.net)
Date: May 03, 2005 02:44PM
Anh Hà Vũ Trọng vào đây xem nhé:
[www.viethoc.com]

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: huongho (---.socal.res.rr.com)
Date: July 29, 2006 05:28AM
MỘT VÀI Í KIẾN VỚI ÔNG TRẦN GIA PHỤNG Cách đây hơn một năm , trên tạp chí Việt - Học số 1 February 2005 , có đăng bài “ LẠC VIỆT LÀ GÌ ? ” của tác giả Trần Gia Phụng ( TGP ) . Theo TGP , “ Sử liệu quan trọng đầu tiên về chữ “ Lạc ” cho đến nay tìm thấy được, nằm trong đoạn văn của Giao Châu ngoại vực ký ( sách của Trung Hoa ) xuất hiện khoảng giữa đời Tấn (265-420 )… “ Lạc ” ( trong từ ghép Lạc Việt ) chúng ta đọc là âm Việt (sic) , còn đọc theo âm người Trung Hoa là “ Lo ” . Trong tiếng Việt cổ, từ ngữ “ lo ” , “ ló ” , hay “ lo-k ” , nghĩa là lúa gạo . Từ ngữ nầy được dùng ở nông thôn bắc Trung phần , ở một số sắc tộc miền núi nước ta như người Mường , người Bò – ru ( Brou ), người Mon …, và nhiều sắc dân Ðông nam Á . Hiện nay , người Việt ở đồng bằng thường gọi loại lúa gạo do người miền núi và cao nguyên trồng là “ lúa lốc ” (lo-k) . ….có một loại “ lo-k ” hay “ ló ” hay “ lo ” tức lúa gạo trồng trong ruộng nước ( theo thủy triều lên xuống mà cày cấy ) , nên người Trung Hoa ,qua sách Giao Châu ngoại vực ký , gọi ruộng đó là “ Lạc điền “ ( ruộng ló ) . Vấn đề thật đơn giản , nhưng xin đừng thấy đơn giản mà bỏ qua . Qua bài viết của TGP, tôi có vài ý kiến như sau : 1 – Giao Châu Ngoại Vực Kí (GCNVK ) không phải là sách đầu tiên có nhắc đến tên Lạc. Sách đầu tiên nhắc đến tên Lạc là Sử Kí của Tư Mã Thiên ( 145-86 ? B.C. ) ở quyển 113 , Nam Việt Liệt Truyện . Ðoạn văn đó như sau : 高后崩卽罷兵佗因此以兵威邊財物賂遺閩越西甌役屬焉 = “Cao hậu băng , tức bãi binh . Ðà nhân dĩ binh oai biên , tài vật lộ dị Mân Việt , Tây Âu , Lạc , dịch thuộc yên = Cao Hậu mất, liền bãi binh . Đà nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu, Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình . ( [www.chinapage.com] ) 2- TGP nói về người Mon ở miền núi nước ta . Theo tôi biết ở miền núi Việt Nam từ Bắc chí Nam , không hề có giống người nào có tên gọi là MON , chỉ có người MƯỜNG tự xưng là MỌN mà thôi . 3 - Ý kiến LẠC = LÓ của TGP , xem ra khômg mới mẻ gì và không được ngành Ngữ Âm Học Lịch Sử Tiếng Hán ủng hộ . Năm 1980 , Bùi Thiết ( Viện Thông tin khoa học xã hội ) trong bài “ Môt cách hiểu về tiếng Lạc ” đăng trong sách “ Những Phát Hiện Mới Về Khảo Cổ Học năm 1980 ” trang 176- 178 , đã từng cho rằng chữ Lạc là chữ phiên âm của âm “ ló = lúa ” . Sau này Mạc Ðịnh Hoàng Văn Chí cũng lập lại tương tự í này ( xem Duy Văn Sử Quan triết thuyết - Tủ sách Cành Nam 1990, ở các trang 78, 79, 80) . Vậy đây là ý kiến riêng của TGP hay là TGP đã trích lại Bùi Thiết , Hoàng Văn Chí mà quên không ghi vào phần Thư Mục Tham Khảo ? Nếu là ý kiến riêng của TGP , đây là trường hợp các tư tưởng lớn gặp nhau ! Như đã biết , sách đầu tiên nhắc đến tên LẠC là sách Sử Kí của Tư Mã Thiên , chữ Lạc , Sử Kí viết là ( mã+các ) .TGP có nhắc đến GCNVK do An Nam Chí Lược dẫn lại , nhưng ông chỉ trích dẫn phần quốc ngữ ( phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa của Ủy Ban Phiên Dich Sử Liệu Việt Nam, Viện Ðại Học Huế ) mà thôi . Trong nguồn thư tịch cổ của Trung Quốc , sách GCNVK đã bị mất , đoạn văn có từ tố LẠC của GCNVK được Thủy Kinh Chú dẫn lại như sau : 交趾昔未有郡县之时土地有滩田其田从潮水上下民垦食其田因名为雒民设雒王雒侯主诸郡县县多为雒将雒将铜印青绶 = Giao Chỉ tích vị hữu quận huyện chi thì ,thổ địa hữu Lạc điền .Kì điền tòng triều thuỷ thượng hạ ,dân khẩn thực kì điền ,nhân danh vi Lạc dân .thiết Lạc vương 、Lạc hầu ,chủ chư quận huyện .Huyện đa vi Lạc tướng ,Lạc tướng đồng ấn thanh thụ . = Xưa lúc Giao Chỉ chưa có quận huyện , đất đai có ruộng Lạc . Ruộng ấy theo nước triều lên xuống ( mà làm ) , dân khai khẩn ruộng ấy ( mà ăn ) nên gọi là dân Lạc . Ðặt Lạc vương , Lạc hầu để làm chủ các quận huyện . Các huyện phần nhiều là các Lạc tướng , Lạc tướng thì có ấn đồng giải xanh. ( [www.dushu.com] ) Trong khi đó , ANCL ( bản khắc in của Tứ Khố Toàn Thư ) dẫn GCNVK lại chép như sau 在交州外域記昔未有郡縣時雒田隨潮水上下墾其田者為雒民綂其民者為雒王副者為雒將皆銅印青綬 = Tại GCNVK , tích vị hữu quận huyện thì , Lạc điền tùy triều thuỷ thượng hạ , khẩn kì điền giả vi Lạc dân , thống kì dân giả vi Lạc vương , phó giả vi Lạc tướng , giai đồng ấn thanh thụ . = Theo GCNVK , Xưa , lúc chưa đặt quận huyện , ruộng Lạc theo nước triều lên xuống , người khai khẩn ruộng này gọi là dân Lạc , cầm đầu dân ấy là vua Lạc , phụ việc gọi là tướng Lạc , đều có ấn đồng giải xanh . Chữ Lạc của GCNVK viết là ( các+chuy ) . Sách Quảng Châu kí xuất hiện ở thế kỉ thứ 4-5 lại viết là như Sử Kí , đoạn văn này được Tư Mã Trinh dẫn lại trong Sử Kí Sách Ẩn như sau : 姚氏案廣州記云交趾有駱田仰潮水上下人食其田名為駱人』。有駱王駱侯諸縣自名為駱將』,銅印靑綬卽今之令長也。= Diêu thị án :Quảng Châu Kí vân : Giao Chỉ hữu Lạc điền , ngưỡng triều thuỷ thượng hạ , nhân thực kì điền , danh vi Lạc nhân . Hữu Lạc vương , Lạc hầu . Chư huyện tự danh vi Lạc tướng , đồng ấn thanh thụ , tức kim chi lệnh trưởng dã . = Họ Diêu xét : Quảng Châu Kí nói : Giao Chỉ có ruộng Lạc , theo nước triều lên xuống , dân kiếm ăn ở ruộng gọi là người Lạc . Có Lạc vương , Lạc hầu . Các huyện tự gọi là Lạc tướng, ( đeo ) ấn đồng dải xanh như chức lệnh ngày nay . ( [www.chinapage.com] ) Âm đọc của chữ Lạc ở thời Hán như thế nào ? Khang Hi Tự Ðiển ở chữ Lạc dẫn Thuyết Văn 說文 là sách ở đời Hán chép : 从隹各聲 = tòng chuy các thanh . Ðiều này có nghĩa là Chữ LẠC , âm đọc ở thời Hán giống như chữ CÁC 各 . ( [www.kangxizidian.com] )
Hiện tượng các âm cuối / k, p , t / trong tiếng Hán bị mất đi chỉ bắt đầu xảy ra ở thời kỳ các triều đại Nguyên , Minh của Trung Hoa mà thôi ( xem THE JONGYUAN IN YUN : A GUIDE TO OLD MANDARIN PRONUNCIATION by HUGH M. STIMSON , Sinological Seties No. 12- 1966 ) . Từ thế kỷ thứ 5,6 trở về trước các âm cuối / -k, -p, -t / trong tiếng Hán vẫn còn được bảo tồn thì làm sao các chữ Hán mà người Việt Nam nay đọc là LẠC lại có vỏ ngữ âm là “ lo ”, “ ló ” ở thời điểm của các sách Sử Kí , GCNVK được . Hiện nay trong tiếng Bắc Kinh chữ LẠC đưọc kí âm như sau ㄌㄨㄛ` ( luoh ) (Từ Vựng – Lăng Sư Thành chủ biên – Văn Hóa Ðồ Thư Công Ty – 1991 - 辭彙陵師成主編 文化圖書公司 – 1991 ) . TGP viết rằng : ….có một loại “ lo-k ” hay “ ló ” hay “ lo ” tức lúa gạo trồng trong ruộng nước ( theo thủy triều lên xuống mà cày cấy ) . Tôi không biết TGP tìm ở đâu ra cái âm /lo-k/ này ? Trong hệ thống âm vận tiếng Việt ngày nay chẳng bao giờ có cái âm như thế cả , hay là đó là âm vận của tiếng LÚA ngày nay ở thời thượng cổ chăng ? Nếu qủa thế thì xin TGP chứng minh rõ hơn cho . Ở một chỗ khác TGP viết : Hiện nay , người Việt ở đồng bằng thường gọi loại lúa gạo do người miền núi và cao nguyên trồng là “ lúa lốc ” (lo-k) . T ại sao ông lại đánh đồng lúa LỐC ( = lúa trồng nơi cạn – xem Việt Nam Tự Ðiển cuả Lê Văn Ðức ) với ruộng Lạc ( ngưỡng triều thuỷ thượng hạ = nhờ nước triều lên xuống ) , như thế là thế nào ? TGP phiên âm tiếng LỐC là (lo-k ) theo phương pháp ngữ âm học nào vậy ? 4- Vấn đề giải mã từ tố LẠC trong các tên gọi LẠC ÐIỀN , LẠC VƯƠNG, LẠC HẦU , LẠC TƯỚNG trong cổ sử Việt Nam , theo tôi không phải là vấn đề đơn giản như TGP tưởng , từ thời Pháp thuộc cho đến nay , vấn đề này đã làm tốn biết bao công sức , giấy mực, của các học giả trong cũng như ngoài nước Việt , cho đến nay tất cả cũng chỉ là “ăn ốc nói mò ” , có ai dám bảo là mình am tường tiếng nói của cư dân ở Giao Chỉ thời Hán chăng ? Vấn đề thì hóc búa , TGP lại không nắm được qui tắc diễn biến của tiếng Hán trong các thời đại mà dám bảo rằng : { Vấn đề thật đơn giản , nhưng xin đừng thấy đơn giản mà bỏ qua . }

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: TTD (---)
Date: July 31, 2006 05:42PM
Trong sâu thẳm tâm thức Việt (có lẽ do 800 nô thuộc hoặc vì 1 lí do nào đó) người ta vẫn nghĩ Việt là Tàu thì phải. Chính vì vậy cách giải thích chữ Lạc, trên quan điểm chữ Tàu là chữ của người Việt, mới đẻ ra các loại chữ Lạc bộ này bộ nọ.

Nếu coi Việt là Việt, Tàu là Tàu, chữ Nho là của Tàu thì vấn đề cực kì đơn giản: Tàu đã dùng Hán tự phiên âm Việt ngữ. Cũng giống như các phiên âm Ý Đại Lợi, Mễ Tây Cơ, Âu Châu... vậy thôi. Nếu chỉ biết lõm bõm vài chữ Hán âm quan thoại thì sẽ hiểu rằng mấy từ phiên âm nọ chẳng có nghĩa mà chỉ ghi âm. Ý Đại Lợi = Itáli...

Như vậy phương pháp khảo sử của người Việt có lẽ đã sai từ gốc, từ tư tưởng.

Âu Lạc = Đất nước = Xứ sở... quá đơn giản lại thành phức tạp.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: huongho (---.socal.res.rr.com)
Date: August 22, 2006 09:47AM
Có vị nào trên diễn đàn Việt Hoc biết ai là người đầu tiên phiên âm tên gọi 貉龍君 ra thành Lạc Long Quân chăng ?

Read this pl
Posted by: Salena (203.94.187.---)
Date: April 03, 2007 08:39AM
Quote:
h
February 06, 2005
"Kota Gelanggi Ancient City Discovery and the
Origins of Melayu"




The Star highlights an exciting discovery of a
civilisation that dates back even further than
Malacca, with some claims of it being older than
the Angkor Wat, one of the seven wonders of the
ancient World.

While a little out of topic in this blog, I must
admit to a fascination in Sanskrit texts and have
studied them as a hobby for a better part of a
decade, since coming across an ancient Sufi
manuscript in Indonesia that described a portion
of a Sanskrit 'Sastara' as an embodiment of how
God whispers in many languages.

This discovery has much significance in it's
historical comstruct of this region and the
distinct influences to early Sanskrit literature,
which recorded the rise and fall of kingdoms in
this region not through essays as we are often
used to, but rather as spiritual hymns, that draw
upon the occasion as an example to the tantric
teachings and woven as a moral lore.

Some things that crossed my mind as I read the
articles were that this 'lost' city was probably
the kingdom of Lo-Yue, was also the first centre
of trade for Sri Vijaya.


The region has a long history, dating back to
more than 2500 years bc. the earliest recorded
ruler being Marayo, who ruled from 2666-2604 bc.
(Link: Reference and list of Rulers).

This would bring it within the timeline of the
mysterious Indus Valley civilisation;

"Indus Valley Civilization:
2500(app.)-1700(app.)b.c Also known as the
'Harrapa' named after the site of the first
discovered city, archaeologists are still
struggling to understand them. We do not know
anything of it's religion and no murals or
story-art has been found. What we do know is that
they were great builders and city planners
centered around an agricultural community that
existed between the Mohenjo-daro river and the
Indus river. Tablets and pottery found depict
animals, ornately coiffed women, jewelry and
generally hint at a sophisticated artisan
society".

The find brings into context many matters, among
those the origins of the Melayu, deeply rooted in
the Kesutanan ideology, which resulted from the
Islamisation of the Rulers of this region, who
previously carried the Raja or Sri title,
influenced by the Hindu Empire, which had numerous
Raja's ruling across many provinces. They were
united then under the Chola Empire, of which the
ruler, upon conquest of the provinces assumed the
title Rajaraja I (presumable Raja of all the
Raja's) circa 985AD.

It is his son, Raja Rajendra Cholavarman I, that
is believed to have, in 1017AD, waged war against
the Srivijaya Empire (Foshi, to the Chinese
Merchants of the time), destroying the city of
Gangga Negara in Perak in 1025AD, and subsequently
this city of Kota Gelanggi, which might be the
lost city of Lo-yue, as described by Raimy.

Although some manuscripts describe it to be a
colony of Srvijaya, the Chinese explorer Kie-Tan
explicitly mentioned Lo-yue and Foshi as separate
countries, perhaps independant as an entity of
governance yet paying tribute to the Srivijaya
empire, a common occurence in the feudal nature of
the region at that time.

"From Kuang-chou (Canton) towards the
southeast, travelling by sea for 200 li, one
reaches Mount T’un-mon. Then, with a favourable
wind going westward for two days, one reaches the
Kiu-chou rocks (Hainan). Then southward, and after
two days one reaches the Siang-shi, or Elephant
Rock. Then southward after three days, one comes
to Mount Chan-pu-lan, this mountain is in the sea
at 200 li east of the country of Huan-wang
(Tongking). Then southward, after two days
journey, one reaches Mount Ling. Then, after a
day’s journey one comes to the country of Montu.
Then after a day’s journey one comes to the
counry of Ku-tan; then after a day’s journey one
reaches the territory of Pon-to’o-lang. Then
after two days journey one comes to Mount
Kun-t’u-nung. Then after five days journey one
comes to the strait the Barbarians call Chi. From
the south to the north it is 100 li.. On the
northern shore is the country of Lo-yue, on the
southern coast is the country of Foshi."

Foshi is also mentioned in Leornard Andaya's The
Search for the Origins of Melayu, in which he
writes;

The name ‘Melayu’ appears for the first
time in literary sources as a settlement in
southeast Sumatra that sent a mission to China in
644. The earliest detailed account is by the
Chinese Buddhist pilgrim Yijing,who spent time in
Palembang and Jambi on two separate occasions in
671, and was there again from 689-95. He spent six
months learning Sanskrit grammar in a place whose
name for both the country and the capital was
transcribed as (Shili)foshi.He was then sent by
the ruler to the country of Melayu,where he stayed
for another two months. On his second visit Yijing
again went to ‘Melayu’, which he says had now
become Foshi , meaning either that it had
supplanted Srivijaya, or more likely that it had
become a part of Srivijaya.He noted that there
were many ‘states’ under this kingdom, and
that in the fortified city there were more than a
thousand Buddhist priests who had come to study
religion.

(Fochi means success in Chinese and early
scriptures refer to the Srivijaya Empire as San Fo
Che meaning three success. This would be a direct
translation from Sanskrit in which Srivijaya means
Three Great Success, refering to the three
kingdoms that formed Srivijaya)

(An Adobe Acrobat PDF version of this article
can be found at Water Cooler Crowd Wiki, Origins
of Melayu page)

This could also mean that Lo-yue could be a
Srivijaya state or perhaps a trading outpost that
linked Srivijaya with the Gangga Negara colony and
further onwards to the Cambodian rulers of Angkor
Wat, the Jayavarman Dynasty.

It is interesting to note that the Jayavarman
Dynasty, builders of Angkor Wat, had a ruler,
Jayavarman Paramesvara who ruled circa 1325 and
was thought to have been on of the last of the
Angkor kings, the Empire itself destroyed by the
Siamese at about this period. (List of Angkor
Kings)

Then again, the Parameswara that founded Malacca
was said to be the descendant of Sang Nila Utama,
who was credited with naming Singapore. This
connection is a display of the strong links that
the Khmer kings shared with the region here, or
did the dates got bungled as they often do, and
the Parameswara we know was similar to that of the
defeated Khmer King?

FYI, Parameswara in sanskrit means divine super
soul, in essence, one who never dies, referenced
in Bhagavad Gita text 28,

samam sarvesu bhutesu tisthantam paramesvaram
vinasyatsv avinasyantam yah pasyati sa pasyati

This Parameswara's journey did not document the
lost city of Kota Gelanggi, meaning that it no
longer was in existence by that time.

The relevance of Kota Gelanggi is further
heightened by the fact that the Srivijaya Empire
extended itself until the Chaiya Province in Surat
Thani, Thailand and may have served as the entry
outpost for travellers from the Javanese islands,
who would than traverse by land, visiting various
colonies (to also collect taxes/tributes perhaps)
as they headed north.

If one was to look deep into the historical
events surrounding Srivijaya and Kota Gelanggi,
one may be privy to the historical origins of the
Malays, from their Khmer and Funan lineage right
up to the current Melayu in Malaysia and see that
we have been interlocked with Chinese and Indian
culture for thousands of centuries, as they help
document and build this civilisation and as we
traded, warred and became allies again in an
intiguing feudal history, worthy of many tales and
truths.

If one were to explore it, I can see no reason
for anyone to be racialistic or call another
person a racist, for truth be told, we are all
rather intertwined by history.I myself have all
three blood in my veins.

It is the ignorance of our historical links and
the naive stupidity of fear and insecurity that
drives us not towards racism, but polarity. Both
inter and intra race.

I am at least glad that Datuk Seri Rais Yatim, a
man whom I personally respect as extra-ordinary
both in thought and idealogy, is putting a lot of
importance in this project.

A sterling decision, Datuk Seri, and one that
further enhances our racial links, in the hopes
that by understanding our ancestors, we understand
each other a little more.


Nguồn:
[www.brandmalaysia.com]
/2005/02/kota_gelanggi_a.html

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Trinh Quoc Thien, Esq. (216.64.93.---)
Date: April 12, 2007 05:38PM
To^?ng cha`o!

xin xem:

[lichsuviet.cjb.net]

[www.lichsuviet.com]

Tri.nh Quo^'c Thie^n, Esq.

Quote:
Nguyễn Trọng Cảm
Trong bài "Ý Nghĩa Quốc Hiệu Lạc
Việt," ông Vũ Thế Ngọc có nói:
"Riêng về chữ "Lạc bộ Trãi", chỉ
riêng có sử gia Việt là dùng. Chữ này
phải đọc là Mạch (âm Quan Thoại là
Mỏ) chỉ một dân tộc (rợ) phương Bắc
Trung Quốc, hoặc là Hạc (âm Quan Thoại
là Hao) nghĩa là một loài chồn, badger, da
dùng làm áo."

[mevietnam.org]

Biết rằng phát âm thay đỗi qua
thời gian, và rằng khoa ngôn ngữ có
khả năng truy các âm khác nhau trong quá
khứ của một âm hiện nay, và định
thời điểm của các âm ấy, chúng ta
phải biết âm của từ "Lạc viết
với bộ Trãi, hoặc Trĩ" (tức là
con trùn, sâu không chân), thời gian
hình thành từ tự dạng ấy, và dân
tộc mà tự dạng ấy muốn chỉ.
Tôi không đồng ý với quan điểm
của tác giả rằng người Việt Nam
chuộng tự dạng này vì nó không
xấu như hai tự dạng "Lạc bộ Mã,"
và "Lạc bộ Chuy," vì nó không dùng
các bộ chỉ thú vật, vì "Tri"̃
cũng là thú vật (chẳng may cho các
dân tộc ở quanh dân tộc Hoa Hạ là
họ đều bị dân tộc này gọi bằng
những cái tên không mấy mang tính con
người, và tiếc thay dân tộc Việt
Nam cũng không được ưu đãi gì hơn).
Như vậy thì việc người Việt Nam,
hậu duệ của dân tộc Lạc Việt
dùng tự dạng Lạc bộ Trãi (và
Việt bộ Vượt, thay vì Việt bộ
Mễ, Việt bộ Kim, hay Việt nguyên
thủy đời Thương) là vì lý do khác.
Tìm ra lý do này có thể soi sáng
vài điều quan trọng cho tiền sữ dân
tộc Lạc Việt. Tôi không biết chữ
Hoa để tìm hiểu; mong các vị có
khả năng này bỏ công nghiên cứu.
Nhân đây tôi xin thêm là ông Bình
Nguyên Lộc có nói về Lạc bộ Chuy,
Lạc bộ Mã, và Lạc bộ Trãi đều
có sọ giống về chỉ số, và khác
với chỉ số sọ của chủng tộc Hoa
Hạ. Thời cuốn sách Nguồn Gốc Mã
Lai của Dân Tộc Việt Nam ra đời, khoa
di truyền học chưa phát triễn nên
cuốn ấy là khoa học nhất. Nay với
khám phá khoa học mới, chúng ta có
thể xét lại cuốn sách dựa trên
khoa học này 24 năm trước kia để xem
cái gì đã bị thời gian vượt qua,
cái gì vẫn còn dùng được cho
việc nghiên cứu về đề tài này
hôm nay.
Nghiên cứu của các nhà khoa học Liên
Xô về tiền sử các dân tộc ở
Trung Quốc cho thấy nguồn gốc chung
của ba thứ Lạc này (xem Ketmar trong
University of California at Berkeley Press).
Một nghiên cứu về di truyền học
trên người Việt hiện nay cho thấy
dân tộc Việt Nam gần với dân tộc
Hàn hơn là các dân tộc Nam Trung
Quốc, và Đông Nam Á. Điều này
hỗ trợ cho giả thuyết của ông Bình
Nguyên Lộc rằng Lạc bộ Trãi gần
với Đông Di, và có quan hệ với
"rợ Tam Hàn;" và di cư và Bắc Bộ
Việt Nam cách đây khoảng 5000 năm.
Chỉ khác là nghiên cứu của các nhà
khoa học Liên Xô thì nói rằng hướng
thiên di là ngược lại.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Việt (---.vnn.vn)
Date: April 17, 2007 03:11AM
Do không có tài liệu của Đông kinh nghĩa thục nên không biết trong sách chữ quốc ngữ có phiên âm chữ ra lạc nên theo tôi Có lẽ Trần Trọng Kim ( Việt nam sử lược ) là người đầu tiên phiên âm chữ thành "lạc" không biết ông căn cứ vào tự điển nào để đọc ra vậy trong khi hình như chữ này Tàu chỉ có mấy âm: hao,he,mo. Hơn nữa theo hiểu biết của tôi trong sách sử Việt nam chỉ duy nhất chữ được dùng cho vua lạc long quân ngoài ra các chữ khác như Lạc Việt, Lạc Vương, Lạc tướng, Lạc dân..Âu lạc...đều dùng chữ không thể biết rõ cổ nhân có dụng ý gì khi làm vậy ? Tổ tiên ta xuất xứ từ hay từ ? Nếu đánh đồng mọi chữ là một hay cho là sự phiên âm thì quá dễ tránh vấn đề.Tác giả của Lĩnh nam trích quái hay Đại Việt sử ký toàn thư đâu có làm vậy !

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (---.vnn.vn)
Date: April 17, 2007 09:18AM
Nếu tìm đưọc văn bản chữ quốc ngữ xưa nhất có chữ thì mới biết âm của nó ra sao là " lạc " hay là âm gì. Âm " lạc " có thể được truyền miệng từ lâu đời nhưng về bằng chứng chữ viết kí âm xưa nhất thì cũng có thể như bạn Việt đã nêu : " Do không có tài liệu của Đông kinh nghĩa thục nên không biết trong sách chữ quốc ngữ có phiên âm chữ ra lạc " xem thử trong " Quốc văn tập độc - bài hát yêu nước có đoạn: Nưóc Nam ta từ đời Hồng Lạc và - bài hát kể đương đất nước ta có đoạn: Lạc Long là tổ nươc nhà thì quả đúng là chữ đưọc các cụ nhà Nho phiên âm là "lạc" , sách này làm năm Thành Thái Đinh Mùi do đó có thể đây chính là bằng chính xưa nhất kí âm chữ chứ không phải do cụ Trần Trọng Kim là ngưòi lần đầu tien phiên âm như bạn viết, nhân tiện góp ý thêm trong VNSL của TTK mọi âm chữ lạc đều được in kèm chữ Hán là chữ cả ! kể cả Việt Nam tự điển ( Khai trí Tiến Đức ) cũng giống vậy !!! Do lỗi in ấn hay các tác giả cố ý thừa nhận tổ tiên ta thuộc về chữ 貉.

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Việt (---.vnn.vn)
Date: April 18, 2007 06:50PM
Còn trước Đông kinh nghĩa thục có tài liệu chữ quốc ngữ nào liên quan đến chữ Lạc không ? ai biết xin giới thiệu. Tôi mới vào:
[www.viethoc.org]
thì thấy nnt viết : Không phải chỉ có người Việt mới bàn về cácchữ "lạc", ngay cả bên TQ cũng thế, tất nhiên không phải do Lạc Long Quân...

Các bạn tới trang này sẽ thấy :
[www.fengshan.com.tw]

Chung quy là do cách phát âm biến đối theo thời đại :

廣韻》「字有二音一音同」,文讀音[hok8],一音同」,文讀音[bik8]。「字白話音「loh8」,變調調值今音為「ho11」字應有可能同音

Ý nói chữ với chữ xưa đồng âm, mà chữ xưa ... âm "lạc"...

Cùng trang cũng nói "lạc"「今音「loh8」

四字查廣韻屬同音當代文讀音標成[lok8],白話音標成[loh8]

Hi hi ... Hổng còn nghi ngờ đọc "Lạc" là âm cổ chữ Hán mà Việt Nam còn giữ được ( tiếng Hán Việt bảo hoàng hơn nhà vua...) chứ hổng sai đâu.

Nếu đung như nnt viết thì rõ ràng chữ chỉ đơn giản là cách đọc Hán Việt cổ còn lưu truyền

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (---.vnn.vn)
Date: April 18, 2007 08:16PM
Tôi cần nguyên văn đoạn nói về chữ của quảng vận ai có xin post .Tôi tra cứu nhiều tự điển Hán Việt kể cả tự điển Hán ngữ online chẳng thấy có âm nào tương đồng với âm " lạc" mà cho dù âm lạc là âm cổ của người Hán, người Việt xưa hoặc cho rằng đó là chữ Nôm kí âm Việt thì cũng không thể giải quyết được vấn đề : chỉ duy nhất chữ dành riêng cho Lạc Long Quân còn các chữ lạc khác như Âu lạc, Lạc tướng, lạc hầu , lạc dân, lạc việt ...lại dùng chữ ! Xin nhớ các nhà Nho Việt Nam xưa không lẩn thẩn khi sử dụng chữ Hán.Tại sao Lạc long Quân không được viết là 雒 龍君 ? Trần Trọng Kim đã từng viết chữ cho mọi chữ lạc có thể ngụ ý tổ tiên Việt thuộc ( theo nghiên cứu của Nguyên Nguyên chính là tộc Hẹ ! )

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Nguyễn.Ng (---.dialup.pltn13.pacbell.net)
Date: April 20, 2007 08:06AM
chữ Lạc coi vậy mà khó nhỉ...
vậy chữ Lạc là âm Việt cổ phiên âm ra tiếng Hán, hay là âm Hán Việt cổ ..???
Lạc là âm Việt ..Lúa (theo ô Trần Gia Phụng) hay là Nước (theo ô Vũ Thế Ngọc)..?,
hoặc là âm Hán cổ "Lạc" theo chứng cứ khác..??
các bác tiếp tục đi chứ .....
ngừng ngang làm người đọc chịu sao nổi..?..!
phải tìm cho ra chứ..!!

và theo tài liệu trên cho là là âm loh8 là "lạc" cổ âm Hán
theo Thuyết Văn Giải tự thì:
貉: 莫白 切:mạc bạch thiết: mạch
鶴: 下各切: hạ các thiết: hạc
rất khó từ âm "l" biến ra âm "h", hoặc "l" ra "m"
và tư liệu ở chỗ khác:
河洛?「福佬?「貉獠?─臺灣閩南語正名 2003/07/26

、「ho11 lo53」一詞洪惟仁用來對應貉獠」(洪惟仁著台灣禮俗語典」),其意以為「ho11」音對應廣韻》「字有二音一音同」,文讀音[hok8],一音同」,文讀音[bik8]。「字白話音「hoh8」,變調調值今音為「ho11」字應有可能同音然此字此音例作要作人種族群解則應屬之假借字辭源),應音[bik8]。可見貉獠一詞之應屬白字用來對應「ho11」似乎太過牽強附會了

theo đó 貉 鶴 xưa đồng âm và âm vẫn là 「hoh8」..vẫn là "hạc"..!..?
(tài liệu nào gõ lầm chữ..??)

..hết hiểu..!!
..theo tui thì ông TGP giải thích có vẻ hữu lý..

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (---.vnn.vn)
Date: April 20, 2007 07:48PM
Tra trong Hán tự tự điển link:[chinalanguage.com]
thì thấy :
Mandarin (hanyu pinyin)
hé háo mà mò
Cantonese (jyutping)
hok6 mak6 maak6 lok3
Hakka (pinjim/jyutping)
hok8 met8 met7 hok7
Siyan hok8 Siyan met8 Siyan hok7
như vậy chỉ có tiếng Cantonese mới có âm lok3 phải chăng âm Hán Việt " lạc " xuất xứ từ đây và suy ra dân Quảng Đông và Việt có chung cội nguồn 貉 . Còn chuyện là một tộc người hay tên gọi của " Lúa ", "nước "...xin mọi người tiếp tục...

Re: Nói Thêm Về Chữ "Lạc.."
Posted by: Đinh Tuấn (---.vnn.vn)
Date: April 21, 2007 01:06AM
Và đây là kết quả những chữ dị thể của qua tra cứu theo:
[140.111.1.40]
Không hề thấy dị thể của chữ giống như và ngược lại tra dị thể chữ cũng không vậy, điều này chứng minh không thể coi = như nhiều nhà nghiên cứu đã lập luận. Sự thận trọng và cách dùng chữ Hán chính xác của các tác giả Lĩnh Nam trích quái và Đại Việt sử ký toàn thư cũng đã rõ : không thể dùng chung 2 chữ là một, có lẽ vì vậy mà Bình Nguyên Lộc đã ( nếu không lầm )lần đầu tiên chỉ ra dân tộc Việt thuộc lạc bộ trãi sau này Nguyên Nguyên khai triển thêm tìm ra tông tích của lạc bộ trãi chính là tộc người Hẹ.

Goto Page: 1234567891011Next
Current Page: 1 of 11


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity