Việt Sử - VN History :  Diễn Đàn Viện Việt Học
This forum hosts all discussions on VH History topic.  
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Đế Hệ Thi
Posted by: LeVanDang (---.proxy.aol.com)
Date: June 06, 2001 07:46AM
Mới đây bạn Quang Nguyễn có hỏi về họ Nguyễn.
Nay xin chép lại bài Đế Hệ Thi về một nhánh họ này .
LeVanDang

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Lê Bắc (---.w-phone.com)
Date: June 06, 2001 09:25AM
Nhân việc bàn đến vấn đề "Đế Hệ Thi", xin góp thêm những dữ kiện sau đây:

- Từ ngày Nguyễn Hoàng vô nam, ông lấy họ Nguyễn Phúc là quốc tính, ( người dân thường không được dùng, để phân biệt dòng họ vua và bách tính)
- Con cháu của Nguyễn Hoàng ở ngoài Bắc được ban cho họ Nguyễn Hựu (hay Hữu)
- Dòng họ nhà vua đời các chúa được tôn xưng là Tôn Thất, tên đầy đủ là Tôn Thất Nguyễn Phúc, sau quen gọi tắt là Tôn Thất
- Dòng họ trực hệ của vua Gia Long trở đi mới được dùng chữ "Nguyễn Phúc" không thôi

Vua Minh Mạng thấy con cháu, bà con của vua quá đông đảo, nên mới tìm cách phân loại ra cho rõ ràng. Ngày mùng một tết năm 1823, vua tự soạn ra một bài thơ Đế Hệ Thi để con cháu của mình dùng đó làm chữ lót, đồng thời cũng soạn ra 10 bài Phiên Hệ Thi để cho con cháu của anh em của ổng dùng. Bài Đế Hệ Thi được khắc trong một cuốn sách bằng vàng (kim sách), cất trong hòm vàng (kim quỹ) để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, các bài Phiên Hệ Thi được khắc trong các cuốn sách bằng bạc

Tuy nhiên, sự phức tạp chưa dừng lại đó, đi kèm với mỗi chữ trong bài Đế Hệ Thi là một bộ
Miên (miên) Hồng (nhân) Ưng (thị) Bửu (sơn) Vĩnh (ngọc ) .....
Bảo (phụ) Quý (nhân) Định (ngôn) Long (thủ) Trường (hòa)
Hiền (bối) Năng (lực) Kham (thủ) Kế (ngôn) Thuật (tâm)
Thế (ngọc) Thoại (thạch) Quốc (đại) Gia (hòa) Xương (tiểu)

Tên đặt cho các hoàng tử lúc chưa làm vua bắt buộc phải dùng một chữ có bộ đó, ví dụ:
* Vua Thiệu Trị, có chữ lót là Miên, và tên là Tông (thuộc bộ miên), và tất cả các anh em của vua Thiệu Trị cũng đều phải có tên có chữ bộ Miên cả (tuy nhiên con của các vị hoàng tử này phải đặt tên không được có bộ nhân, trừ con vua Thiệu Trị)
* Vua Tự Đức có chữ lót là Hồng, và tên là Nhậm (thuộc bộ nhân) v.v....
* Vua Tự Đức không có con, nên lấy cháu lên làm vua, người này tên là Ưng Cái, chữ lót thì ok, nhưng tên không có bộ thị, không phải dòng họ chính của vua, nên để được làm thái tử, ông ta được đổi tên thành Ưng Chân, chữ Chân có bộ thị

Thấy rắc rối chưa bà con ? Chưa hết đâu, mỗi ông vua đều có nhiều danh hiệu:

- Tự danh (tên chữ): là tên của vua khi còn là hoàng tử thường (thời kỳ tiềm long) (đã nói ở trên)
- Ngự danh (tên vua):: khi chịu mệnh làm vua, chuẩn bị đăng quang, thì triều đình mở kim sách ra lấy một chữ trong bài thơ "Ngự Chế Tự" của vua Minh Mạng soạn ra làm tên của vua, bài thơ đó như sau:
Tuyền Thì Thăng Hạo Minh
Biện Chiêu Hoảng Tuấn Điển
Trí Tuyên Giản Huyên Lịch
Chất Tích Yến Hy Duyên


Ví dụ:
* Vua Thiệu Trị có tên tự danh là Miên Tông, khi lên làm vua lấy tên ngự danh là Tuyền.
* Vua Tự Đức có tên tự danh là Hồng Nhậm, và ngự danh là Thì
* Vua Tự Đức không có con, lấy cháu là Ưng Cái, đổi lấy tự danh là Ưng Chân cho đúng với quy cũ, nhưng ông này vừa mới làm vua được có 3 ngày, chưa kịp mở hòm vàng, duyệt kim sách để đặt ngự danh thì đã bị truất phế, phải lấy tên cũ lại là Ưng Cái
* Vua Hiệp Hòa (con Thiệu Trị, em Tự Đức) lên kế vị, tự danh là Hồng Dật, ngự danh là Thăng, ở ngôi được 4 tháng thì bị giết
* Vua Kiến Phúc lên kế vị, không phải là dòng chính nên phải đổi tên từ Ưng Đăng sang là Ưng Hổ (bộ thị), sau khi lên ngôi lấy ngự danh là Hạo, ở ngôi 8 tháng thì mất.
* ...... tiếp tục như thế

Đó là cách đặt tên họ của các vua nhà Nguyễn, bày ra từ Minh Mạng.

Ngoài ra, chỉ có đòng con vua mới được có tên dùng các bộ khác nhau theo mỗi đời, còn các dòng khác thì được vua Thiệu Trị ban cho 58 anh em của mình, mỗi người có riêng một bộ chữ, để họ chỉ dùng bộ đó đặt tên cho con cháu của họ, và nói rằng khi nào dùng hết chữ của bộ đó thì lại gặp vị vua đương thời để xin bộ chữ khác. Vì thế khi ta gặp một tên Nguyễn Phúc aaaa bbbb, nhìn chữ aaaa thì biết đời thứ mấy, và xem bộ của chữ bbbb để biết là thuộc dòng con nào của vua Minh Mạng. (Các con khác của vua Gia Long thì theo cách thức: chữ lót là chữ trong phiên hệ thi, còn tên thì mỗi đời theo thứ tự dùng các bộ trong ngũ hành tương sinh là: thổ,kim,thủy,mộc,hỏa, ... rồi trở lại thổ) Ngày nay nhiều người trong Nguyễn Phúc Tộc không rõ các quy luật đặt tên này, nên đã tên cho con .... tưới hột sen, bất kể các bộ nữa)

Riêng các tên Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức .... là niên hiệu của vua, thường một đời vua có nhiều niên hiệu, nhưng đặc biệt đời Nguyễn, các vị vua chỉ lấy có một niên hiệu mà thôi, nên dân chúng dùng niên hiệu làm tên vua luôn.

(Ngoài ra còn thụy hiệu là hiệu của vua, được vua sau đặt ra cho vua trước, dùng các chữ tốt đẹp (mỹ tự) và rất dài để khen ngợi vị vua đã quá cố. Ví dụ thụy hiệu của vua Gia Long là: Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao Hoàng Đế. Nói gọn là: Cao Hoàng Đế.
Minh Mạng: .... Nhân Hoàng Đế
Thiệu Trị: .... Chương Hoàng Đế
Tự Đức: .... Anh Hoàng Đế
.....
)

Các sách sau này viết về đời vua trước, muốn viết cho đúng quy cũ thì phải dùng miếu hiệu, là tên đặt cho vua để thờ sau khi mất:
- Gia Long: Nguyễn Thế Tổ
- Minh Mạng: Nguyễn Thánh Tổ
- Thiệu Trị: Nguyễn Hiến Tổ
- Tự Đức: Nguyễn Dực Tông

Để so sánh với các thời trước, hãy lấy vua Lê Thánh Tông làm thí dụ: Vua có tên tự dạnh là Hạo, lên ngôi có ngự danh là Tư Thành, trong đời vua có hai niên hiệu làQuang Thuận và Hồng Đức, sau khi chết được đặt miếu hiệu là Thánh Tông.

Bây giờ nói vua Lê Thánh Tông thì ai cũng biết, chứ nếu gọi là vua Hồng Đức hay vua Quang Thuận, thì chẳng ai biết cả.

Đó là sự khác biệt về cách gọi các tên vua nhà Nguyễn so với các đời khác
______________

Sau đây là 10 bài phiên hệ của vua Minh Mạng ban cho dòng họ của các con vua Gia Long (một số đã mất sớm, không có con nên không được ban)

1. Anh Duệ hệ: (của Hoàng Tử Cảnh, con trưởng của vua Gia Long, mất sớm)
Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng
Liên Huy Phát Bội Hương
Linh Nghi Hàm Tốn Thuận
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang


2. Kiến An hê: (hoàng tử thứ 5)
Lương Kiến Ninh Hòa Thuật
Du Hành Suất Nghĩa Phương
Dưỡng Di Tương Thực Hảo
Cao Túc Thể Vi Tường


3. Định Viễn hệ: (hoàng tử thứ 6)
Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha
Nghiễm Khác Do Trung Đạt
Liên Trung Tập Cát Đa


4. Diên Khánh hệ: (hoàng tử thứ 7)
Diên Hội Phong Hanh Hiệp
Trùng Phùng Tuấn Lãng Nghi
Hậu Lưu Thành Tú Diệu
Diễn Khánh Thích Phương Huy


5. Điện Bà.n hệ: (hoàng tử thứ 8)
Tín Diện Tư Duy Chánh
Thành Tôn Lợi Thỏa Trinh
Túc Cung Thừa Hữu Nghị
Vinh Hiển Tập Khanh Danh


6. Thiệu Hóa hệ: (hoàng tử thứ 9)
Thiện Thiệu Kỳ Tuần Lý
Văn Tri Tại Mẫn Du
Ngưng Lân Tài Chí Lạc
Địch Đạo Doãn Phu Hưu


7. Quảng Oai hệ: (hoàng tử thứ 10)
Phụng Phù Trưng Khải Quảng
Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ
Điển Học Kỳ Gia Chí
Đôn Di Khắc Tự Trì


8. Thường Tín hệ: (hoàng tử thứ 11)
Thường Cát Tuân Gia Huấn
Lâm Trang Túy Thạnh Cung
Thận Tu Dy Tấn Đức
Thọ Ích Mậu Tân Công


9. An Khánh hệ: (hoàng tử thứ 12)
Khâm Tùng Xưng Ý Phạm
Nhã Chánh Thủy Hoằng Quy
Khải Dễ Đang Cần Dự
Quyên Ninh Cộng Tráp Hy


10. Từ Sơn hệ: (hoàng tử thứ 13)
Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm
Phu Văn Ái Diệu Dương
Bách Chi Quân Phụ Dực
Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương


Chữ lót của mỗi đời dùng một chữ trong bài thơ, nhưng tên ở mỗi đời thì phải dùng một bộ trong ngũ hành theo thứ tự: thổ, kim, thủy, mộc, hỏa và trở lại .... Vì thế tên của tất cả đời thứ nhất dùng bộ thổ. (Chỉ riêng dòng chính (đế hệ) thì theo cách khác, đã nói ở phần trên, đời thứ nhất theo bộ miên)

Còn về vấn đề chữ Phước (hay Phúc) trong họ Nguyễn Phước thì được tương truyền như sau: khi mang thai, vợ của Nguyễn Hoàng nằm mộng thấy một chữ Phước rất lớn, thức dậy kể lại cho chồng và đề nghị đặt tên cho con sắp sinh là Nguyễn Phước). Chúa Nguyễn nghĩ rằng, chữ Phước ấy phải để cho cả dòng họ hưởng chung. Và đứa con sinh ra đầu tiên đó có tên là Nguyễn Phước Nguyên (chúa Sãi). Chữ Nguyên có nghĩa là bắt đầu ...

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Lê Bắc (---.w-phone.com)
Date: August 24, 2001 03:38PM
Đi lang thang trên net, tình cờ thấy quyển sách "Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả", một tài liệu quý, chỉ tiếc là người thực hiện webpage đã chưa đánh máy hết ...
[members.tripod.com];

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Lộc (---.external.lmco.com)
Date: October 31, 2007 01:33PM
Xin hỏi hai chữ Tôn Thất viết theo Hán tự như thế nào ?

Đa tạ

Lộc

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Toàn (---.dsl.bell.ca)
Date: October 31, 2007 05:59PM
宗室:Tôn Thất

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Lộc (---.external.lmco.com)
Date: November 01, 2007 09:12AM
Xin mạo muội hỏi tiếp dòng Tôn Thất là do vua Minh Mạnh đặt ra , vậy
chữ Tôn do bạn Toàn post lên có phải là nghĩa tôn kính không ? hay có một nghĩa khác .

Đa tạ
Lộc

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Toàn (---.dsl.bell.ca)
Date: November 01, 2007 06:33PM
Chữ Tôn [Tôn Thất] đây không phải là nghĩa "tôn kính尊敬"
Tôn Thất:宗室
Tôn kính:尊敬
Hai chữ "tôn" khác nhau !

Tôn宗: Hán Việt "chánh tông正宗" đọc "Tông" như "tông Từ宗祠", "đồng tông同宗[nghĩa là cùng họ]".

Tôi không rành lịch sử, nhưng có người bạn họ Tôn Thất trong hoàng tộc cho biết họ Tôn Thất là dòng ngoài trong hoàng tộc, còn dòng chính thì chắc ai cũng biết là Nguyễn Phước.

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Toàn (---.dsl.bell.ca)
Date: November 01, 2007 06:43PM
Tôn Thất:宗室 nghĩa là "hoàng tộc [cùng họ]"
Bạn nào trong hoàng tộc hay rành lịch sử xin bổ túc thêm về nghĩa của họ Tôn Thất ngheng !

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: bac le (---.dslextreme.com)
Date: November 01, 2007 11:27PM
Xin đọc lại bài số 2 của thread này.

Tôn Thất là con cháu của chúa Nguyễn. Trước chỉ là tôn xưng, đến năm 1832, Minh Mạng mới chính thức đổi thành họ.
Trích Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Tập XI, trang 222: "Năm trước, trong sổ tôn nhân, mọi người đều xưng là Nguyễn Phúc ... ta mới sai đổi gọi là Tôn Thất, để tỏ là tôn quý."

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Toàn (---.dsl.bell.ca)
Date: November 02, 2007 05:52PM
Xin góp ý:
Chữ Tônđây là chữ Tôngnhư Lê Thánh Tông黎聖宗, cũng đọc Lê Thánh Tôn黎聖宗.

Vì chữ này vừa đọc Tông, lại đọc Tôn cho nên hơi ... lộn xộn !

Trích thread 2:

Dòng họ nhà vua đời các chúa được tôn xưng[尊稱] là Tôn Thất[宗室:Dòng họ], tên đầy đủ là Tôn Thất Nguyễn Phúc[宗室阮福: Dòng họ Nguyễn Phúc], sau quen gọi tắt là Tôn Thất[宗室]

Tôn Thất[宗室] là con cháu của chúa Nguyễn. Trước chỉ là tôn xưng[尊稱: Quốc Ngữ Cách xưng hô tôn quý, Hán Nôm:格稱呼尊貴], đến năm 1832, Minh Mạng mới chính thức đổi thành họ.

Trích Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Tập XI, trang 222: "Năm trước, trong sổ tôn nhân[宗人, tức người cùng chung họ Nguyễn], mọi người đều xưng là Nguyễn Phúc ... ta mới sai đổi gọi là Tôn Thất[宗室], để tỏ là tôn quý[尊貴]."

Các bạn thử google Tôn Thất Đạm宗室淡 và thử google...Tôn Thất Đạm尊室淡 bằng chữ Hán thì sẽ rõ !

Bạn nào có gia phả họ Tôn Thất bằng chữ Hán xin dán lên diễn đàn ! Cám ơn !

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: bac le (---.dslextreme.com)
Date: November 03, 2007 12:15AM
Trong sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam" của Ngô Đức Thọ thì có ghi các tên Tôn Thất là 尊室

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Toàn (---.dsl.bell.ca)
Date: November 03, 2007 05:59PM
Cám ơn anh Lê Bắc tra giùm sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam".

Trước đó tôi google chữ Hán Tôn Thất Đạm宗室淡 và Tôn Thất Đạm尊室淡 thì chỉ thấy chữ này !

Nay thử Tôn Thất Thuyết尊室說 宗室說 thì chỉ thấy chữ này !
[vi.wikipedia.org]

Vậy tôi nghĩ họ Tôn Thất chữ Hán viết như vầy:尊室

Tôi cũng tò mò muốn biết "sổ tôn nhân[sổ người tôn quý hay sổ người cùng họ ?]" trong triều Nguyễn có phải là chữ Tôn[tôn quý] này không ? Vì "...trong sổ tôn nhân, mọi người đều xưng là Nguyễn Phúc ...", Cái "...mọi người đều xưng là Nguyễn Phúc ..." làm tôi liên tưởng đến chữ Tôn/Tông[cùng họ] này, dễ lẫn lộn lắm, it's confusing !

Trích Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Tập XI, trang 222: "Năm trước, trong sổ tôn nhân, mọi người đều xưng là Nguyễn Phúc ... ta mới sai đổi gọi là Tôn Thất, để tỏ là tôn quý"

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: tôn thất thọ (---.hcm.fpt.vn)
Date: November 05, 2007 07:40AM
"Tôn "trong "Tôn Thất" được giải thích là (nhà) cao quý , tôn trọng. Vậy viết như thế nào thì chư vị đã rõ.(Vì tôi đã đọc trong các sắc phong cho ông cố tôi từ thời vua Thiệu Trị đã viết chữ Tôn như thế rồi ). Kính tường.

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Trần (---.dsl.pltn13.sbcglobal.net)
Date: November 05, 2007 09:11AM
ngoài ra còn dòng tôn thất này [猻室] cũng cần phải bảo vệ tôn trọng, dòng này không biết nói, nếu biết nói tôi nghĩ dòng này cũng chắc lên tiếng để bảo vệ quyền sống, quả đất này không hẳn là của riêng con người, tình trạng sinh thái ở VN phải cần lưu tâm.
kính cáo.

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Nguyễn thế Phước (---.31.100.97.cfl.res.rr.com)
Date: July 07, 2010 02:26PM
Kính quý vị,
Tình cờ vô đọc được các bàn luận của quý vị về hai chữ Tôn thất, xin được mạo muội thưa về suy nghĩ của mình. Theo tôi, khơi đầu, tôn thất chỉ có nghĩa là con cháu, dòng họ, ví dụ khi đọc sử sách quý vị có thể thấy người xưa viết : tôn thất nhà Trần, Tôn thất nhà Lê...Tuy nhiên vào triều Nguyễn, các con cháu họ ngoại hoặc họ xa, khởi đầu cũng chỉ được gọi là tôn thất, nhưng sau đó từ từ được gọi thành Tôn thất và thế là thành họ! Được làm bà con với vua cũng sướng lắm chứ phải không quý vị. Không hiểu các đời vua Nguyễn có ban chiếu chỉ để cho bà con xa hoặc họ ngoại được dùng họ Tôn thất ( có nghĩa là dòng dõi nhà Nguyễn ) không?
Kính

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Nguyen Huy Trọng (---.vdc.vn)
Date: February 10, 2011 11:05PM
Chào các bạn, xin hỏi chữ Bửu và chữ Bảo trong bài Đế hệ thi viết chữ Hán như thế nào?

Xin cảm ơn

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: hoang thi hong hanh (58.186.178.---)
Date: March 10, 2012 09:22AM
Xin chào,
Các bạn vui lòng cho biết ý nghĩa của các từ
Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm
Phu Văn Ái Diệu Dương
Bách Chi Quân Phụ Dực
Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương
Chân thành cám ơn các bạn.
Kính mến,
Hong Hanh

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: Trần Anh Mỹ (---.dsl.wlfrct.sbcglobal.net)
Date: March 10, 2012 10:06AM
Tôi cũng hiểu như bạn Nguyễn Thế Phước:
*
1- Giòng họ nhà vua thường gọi là Tôn Thất, có nghĩa giòng họ trong nhà.
2- Mặt khác, ai được lấy họ nhà vua, thì được tôn quý, và cho ai họ nhà
vua, cũng là tỏ lòng tôn quý người ấy, không có nghĩa phải là chữ tôn
quý.
*
Kết luận, chữ Tôn là Tông được cả 2 nghĩa trên, và theo truyền thống
xưa nay dân ta thường hiểu như vậy. Chữ Tôn là Tôn quý không được cả
2 ý nghĩa trên, và không theo truyền thống sử ta.
*

Re: Đế Hệ Thi
Posted by: t (---.dc.dc.cox.net)
Date: March 10, 2012 08:18PM
..................


Kiêng huý


Chữ "Tông" là tên Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị (cháu nội Nguyễn Ánh), phải đọc là "Tôn".
Do đó một loạt sử sách chép miếu hiệu các vua như Lý Thánh Tông, Lê Thánh Tông, Trần Thái Tông, v.v...
đều ghi là Lý Thánh Tôn, Lê Thánh Tôn, Trần Thái Tôn, v.v... Đến tận sau này một số sách sử thời nay
vẫn bị ảnh hưởng này và chép miếu hiệu các vua từ "Tông" thành "Tôn". Các tên đường phố tại miền nam
Việt Nam, mà tên gọi là miếu hiệu các vị vua, hiện nay cũng phần nhiều ghi Tông thành Tôn. Chẳng những thế,
một dòng họ hoàng tộc, vốn phải đọc là "Tông Thất", nhưng vì kiêng húy chữ Tông này nên phải đọc
thành "Tôn Thất".


................



Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity