Việt Sử - VN History :  Diễn Đàn Viện Việt Học
This forum hosts all discussions on VH History topic.  
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: Previous123Next
Current Page: 2 of 3
Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Lê Hải Nam (125.212.249.---)
Date: October 21, 2009 09:09PM
Lê Tắc đã nói rõ Ngô Quyền cùng quê với ông ta: Ái châu (trong khi Tòan thư ghi là châu Đường Lâm (chứ không phải xã Đường Lâm)(xã Đường Lâm hiện nay ở Sơn Tây mãi đền thế kỷ 19 còn tên là Cam Lâm).

Đã nói ở trên, châu Đường Lâm là ở miền biên giới phía tây nam Cửu Chân, sau bị người Sinh Lão chiếm cứ cuối đời Đường. Sau đó thì không thấy Đường Lâm nữa, nên việc không biết gì về châu này là có thể hiểu được. Vào thời Ngô có thôn Đường (và thôn Nguyễn)ở gần Sơn Tây (Dương Tam Kha sai hai tướng Đỗ cảnh Thạc và Dương cát Lợi cùng Ngô Xương văn đi đánh hai thôn này năm 950). Không phải ở đâu có nhà thờ Phùng Hưng là quê Phùng Hưng ở đó. Việc ngụy tạo "nhà thờ" và "gia phả", văn bia ... đã có từ xưa, và hiện nay cũng thế: một ông tổ trong gia phả bỗng nhiên biến thành người anh hùng chống quân Minh và nhà thờ (thật ra là một ngôi mộ không biết của ai) được nhà nước cấp bằng công nhận"di tích lịch sử quốc gia". Hiện đã có một số "di tích lịch sử nghụy tạo" bị phát hiện và thu hồi bằng! Mời ông xem hồ sơ "di tích giả": LỊCH SỬ VÀ SỰ NGỘ NHẬN, Phan Duy Kha, 2008, một số bài tiêu biểu:

1)"Cổ Lôi ngọc phả truyền thư", cổ thư hay ngụy thư (về gia phả Hùng vương ở Cổ Lôi)

2) Đức thánh Chèm là Triệu Đà?

3) Mộ Lạc Long Quân ở Bình Đà?

4) Xung quanh việc thu hồi quyết định công nhận "di tích lịch sử Phan Vân"

5) Lại một vụ công nhận di tích lịch sử kỳ lạ ở Nghệ An.

.....

Ông sẽ hiểu thế nào là "lịch sử bịa đặt". Lăng Ngô Quyền và Phùng Hưng ở Đường Lâm cũng là ngụy tạo, nhưng chưa ai dám nói ra . Những nhà sử học "không dám nói thật" còn đầy dẫy!

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Lê Hải Nam (125.212.249.---)
Date: October 22, 2009 07:47AM
Đại Việt sử ký tòan thư:

"Họ Ngô, tên húy là Quyền, người Đường Lâm , đời đời là nhà quý tộc. Cha là Mân làm chức châu mục ở bản châu"


Dòng họ Ngô Quyền nối đời là châu mục (người đứng đầu một châu, một châu thời xưa rất lớn, ngang hay lớn hơn một tỉnh, sao có thể bi thu nhỏ thành một xã được) châu Đường Lâm thì hà cớ gì phải di cư từ Sơn Tây vào Thanh Hóa nương nhờ họ Dương. Nếu di cư thì ai coi sóc dân Sinh Lão (dân này hay nổi lọan lắm, không phải chúa của họ thì đừng hòng cai trị họ). Ngô Quyền quê Ái Châu là đúng!

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Lê Hải Nam (125.212.249.---)
Date: October 22, 2009 08:03AM
Gởi bác Tích dã:

Việt sử lược ghi:

"Trần Công Lãm, tên là Nhật Khánh, chiếm lấy Đường Lâm".

Không nói đến vụ Việt Sử lược nhầm sứ quân Trần Lãm với Ngô Nhật Khánh, VSL có nói Đường Lâm ở đâu bao giờ mà bác nói Sơn Tây!

Ngô Nhật Khánh chiếm giữ Đường Lâm là đúng (Toàn Thư có nói). Cũng trong Tòan Thư có kể Ngô Nhật Khánh sau chạy sang Chiêm Thành, tới cửa Nam Giới (Hà Tĩnh ) đã đuổi vợ về (vợ Khánh là con gái Đinh Tiên Hòang), điều này chứng minh Đường lâm không xa Hà Tĩnh (và Chiêm Thành). nếu Đường lâm ở Sơn tây thì chạy sang Lào hay sang Trung Quốc cho gần, làm gì phải chạy xa thế. Họ Ngô phải ở gần biên giới Chiêm Thành, có quen biết quan dân Chiêm thì mới chạy sang đó được, nếu không quen biết làm sao thuyết phục vua Chiêm tấn công nhà Đinh (không chừng còn bị vua Chiêm giết chứ chẳng chơi)(năm 979, ngô Nhật Khánh và vua chiêm đem hạm đội vào cửa Đại Ác để tấn công Hoa Lư nhưng gặp bão, thuyền chìm, Khánh chết). Theo Tân Đường Thư thì châu Đường lâm phía tây nam giáp hai nước là Đường Minh và Chiêm Thành !

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Tích Dã (123.18.138.---)
Date: October 23, 2009 03:51AM
Theo Tân Đường thư:

一路自驩州东二日行至唐林州安远县南行经古罗江二日行至环王国之檀洞江

Một đường từ phía đông Hoan Châu đi hai ngày, đến huyện An Viễn của châu Đường Lâm, đi về phía nam qua sông Cổ La, đi hai ngày đến sông Đàn Động của nước Hoàn Vương.

________________


Theo đó, lại có châu Đường Lâm nữa, khác với châu Đường Lâm ở phía tây nam Cửu Chân như đã xét. Ta cứ tạm gọi là châu Đường Lâm 2. Có thể châu Đường Lâm ở Cửu Chân sau khi bỏ thì ở phía nam Hoan Châu đặt ra châu khác, cũng lấy tên là Đường Lâm [hoặc Phúc Lộc] chăng? Châu Đường Lâm 2 này rõ ràng là giếp giới với nước Đường Minh, Chiêm Thành. Do đó Đào Duy Anh mới cho rằng châu Đường Lâm là ở Hà Tĩnh vậy. Cũng do đó, một số người họ Ngô cho rằng Ngô Quyền là người Hà Tĩnh.

Điều cần nói là thời Ngô có đất Đường Lâm là nơi Ngô Nhật Khánh chiếm đóng, có vẻ anh Lê hơi vội ở đấy! Phải tìm hiểu xem cái đất Đường Lâm mà ngày nay người ta cho rằng là ở Sơn Tây, xã Đường Lâm ấy, thì ngày xưa thuộc châu quận nào của nhà Đường? Giả sử nó thuộc đất Phong Châu, hay quận Giao Chỉ, Tống Bình thì đương nhiên sẽ phủ nhận châu Đường Lâm ở Sơn Tây ngày nay. Mà chỉ cần biết thổ cống và phong tục giống Cửu Chân thì đã rõ có châu Đường Lâm ở Thanh Hóa rồi. Tuy nhiên ta cần xét thận trọng Phùng Hưng, Ngô Quyền quê ở đâu? Bởi vì tên đất về sau mỗi khác. Toàn thư, U linh tập chép là người châu Đường Lâm. Ta đã biết U linh tập do Lí Tế Xuyên thời Lí soạn ra. Trong khoảng thời gian từ thời Đường đến thời Lí đã thay đổi khác nhau, có khi người ta đặt tên trùng lặp. Hoặc giả, từ thời Ngô đã có đất tên là Đường Lâm ở vùng Sơn Tây ngày nay, trùng tên châu Đường Lâm thời Đường ở Cửu Chân. Lại có thủ lĩnh Phùng Hưng được thờ ở đó, cho nên U linh tập chép là Phùng Hưng làm tù trưởng châu Đường Lâm?

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Lê Hải Nam (125.212.249.---)
Date: October 23, 2009 04:15AM
Họ Ngô ở Trảo Nha (Can Lộc, Hà Tĩnh) là một dòng họ rất lớn (gia phả của dòng họ này nay còn, viết từ thế kỷ 17, xem trên internet. Theo gia phả họ Ngô Trảo Nha thì ông tổ khai canh là Ngô Nhật Đại (tổ dòng chính của Ngô Nhật Khánh chăng?)vốn là người Đường lâm ở Ái Châu, sau hậu duệ là Ngô Mân vào cai quản Hà Tĩnh, sinh ra họ Ngô ở đấy (dòng họ này tòan tướng Lĩnh các triều đại, cận đại có các tướng Ngô Cãnh Hựu, Ngô Cảnh Hòan, nhân tài hiện đại có Ngô Đức Kế, Ngô Xuân Diệu...

Vậy theo bác Tích Dã thì có ít nhất 3 nơi có Đường Lâm. NHưng Đường Lâm ở Sơn Tây rất khó đứng vững, vì Đường lâm là đất biên địa, dân cư đa số người Sinh Man (dân thiểu số của An Nam).

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Tích Dã (123.18.138.---)
Date: October 23, 2009 07:14AM
Xét về địa lí, xã Đường Lâm ngày nay thuộc thành phố Hà Nội, trước đó thuộc Sơn Tây, tỉnh Hà Tây. Một dải các tỉnh Hà Tây, Phú Thọ, Vĩnh Phúc ngày nay thuộc các huyện Tây Vu, Mi Linh, Chu Diên của quận Giao Chỉ thời Tây Hán. Thời Đông Hán, chia huyện Tây Vu làm hai huyện Phong Khê, Vọng Hải. Thời Tấn, các huyện Tây Vu, Mi Linh, Chu Diên đều thuộc các quận Vũ Bình, Tân Xương, Giao Chỉ.

Có thể nói các đất xã Đường Lâm ngày nay đã nội thuộc thành quận huyện từ lâu rồi.
________________


Thông điển


州今理嘉宁县古文朗国有文朗水亦陆梁地秦属象郡二汉属交趾郡吴分置新兴郡晋武改为新昌郡宋齐因之陈兼置兴卅隋平陈郡废改为峰州炀帝初州废并入交趾郡大唐复置峰州或为承化郡领县五

 嘉宁

 承化

 新昌并汉麊泠县地麊音麋

 嵩山

 珠绿

Phong Châu, nay trị ở huyện Gia Ninh. Là nước Văn Lang xưa, có sông Văn Lang, cũng là đất Lục Lương. Thuộc Tượng Quận thời Tần. Thuộc quận Giao Chỉ thời hai nhà Hán. Nhà Ngô chia ra đặt quận Tân Xương. Vũ Đế nhà Tấn đổi là quận Tân Xương, nhà Tống, nhà Tề theo đó. Nhà Trần gộp lại đặt Hưng Tạp. Nhà Tùy dẹp nhà Trần, bỏ quận, đổi là Phong Châu, đầu thời Dương Đế bỏ châu, gộp vào quận Giao Chỉ. Nhà Đại Đường lại đặt Phong Châu, hoặc là quận Thừa Hóa. Lĩnh năm huyện:

Gia Ninh

Thừa Hóa

Tân Xương. Lấy từ đất huyện Mi Linh thời Hán. Mi âm Mi.

Tung Sơn

Chu Lục

___________________


Thông điển


安南都护府东至朱鸢县界水路五百里南至朱鸢县界阿劳江口水路百四十九里西至九真郡界水路四百一十六里北至武平县界江源二百五十里东南到朱鸢县界五百里西南到文阳郡水路一百五十里西北到承化郡嘉宁县江镇一百五十里东北到交趾县十里去西京七千二百五十三里去东京七千二百二十五里户二万四千七百三十口九万九千六百五十

安南府今理宋平县秦属象郡汉交趾日南二郡界今南方夷人其足大指开广若并足而立其趾则交故名交趾后汉因之兼置交州领郡七理于此齐并因之晋领郡七宋领郡八齐领郡九皆理于此宋又置宋平郡齐因之亦为交趾郡地陈因之隋平陈郡废置交州炀帝初州废置交趾郡大唐为交州后改曰安南都护府领县七

    宋平宋置宋平郡在此

    朱鸢吴军平县地旧置武平郡以专反

    龙编汉旧县

    太平

    交趾汉龙编县地

    武平吴旧县

    平道齐置昌国县

An Nam Đô hộ phủ, phía đông đến cảnh giới huyện Chu Diên đường thủy đi 500 dặm. Phía nam đến cửa sông A Lao thuộc cảnh giới huyện Chu Diên đường thủy đi 149 dặm. Phía tây đến cảnh giới quận Cửu Chân đường thủy đi 416 dặm. Phía bắc đến nguồn sông của cảnh giới huyện Vũ Bình 250 dặm. Phía đông nam đến cảnh giới huyện Chu Diên 500 dặm. Phía tây nam đến cảnh giới quận Văn Dương đường thủy đi 150 dặm. Phía tây bắc đến Giang Trấn huyện Gia Ninh thuộc quận Thừa Hóa 150 dặm. Phía đông bắc đến huyện Giao Chỉ 10 dặm. Cách Tây Kinh 7,253 dặm, cách Đông Kinh 7,225 dặm. Hộ: 24,730, khẩu: 99,650.

Phủ An Nam, nay trị ở huyện Tống Bình. Thời Tần thuộc Tượng Quận. Thời Hán là cảnh giới hai quận Giao Chỉ, Nhật Nam, nay là đất của người Di phương nam, chân của họ đại khái mở rộng ra, nếu đem chân đứng dậy, ngón chân liền giao nhau, cho nên tên là Giao Chỉ. Nhà Hậu Hán theo đó, đặt ra Giao Châu. Lĩnh 7 quận, trị ở đó. Nhà Tấn, Tống, Tề đều theo đó. Thời Tấn lĩnh 7 quận, thời Tống lĩnh 8 quận, thời Tề lĩnh 9 quận, đều trị ở đó. Nhà Tống lại đặt quận Tống Bình, nhà Tề theo đó, cũng là đất quận Giao Chỉ. Nhà Lương, Trần theo đó. Nhà Tùy dẹp nhà Trần, quận bỏ, đặt ra Giao Châu. Đầu thời Dương Đế, châu bỏ, đặt ra quận Giao Chỉ. Nhà Đại Đường là Giao Châu, sau đổi là An Nam Đô hộ phủ. Lĩnh 7 huyện:

Tống Bình. Nhà Tống đặt quận Tống Bình tại đấy.

Chu Diên. Thời Ngô là huyện Quân Bình. Trước đặt ra quận Vũ Bình. Diên, dĩ truyền phiên.

Long Biên. Huyện cũ thời Hán.

Thái Bình.

Giao Chỉ. Thời Hán thuộc đất huyện Long Biên

Vũ Bình. Huyện cũ thời Ngô.

Bình Đạo. Nhà Tề đặt ra huyện Xương Quốc.

__________________


Xem ra, một dải từ Hà Nội, Bắc Ninh về phía tây đến Hà Tây, Phú Thọ đều thuộc An Nam Đô hộ phủ, Phong Châu thời Đường. Không có châu Đường Lâm nào trong vùng đó.

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: nguyenba (116.99.33.---)
Date: March 03, 2011 04:03AM
Thưa Bác Lê Hải Nam,

Chúng tôi có một vài vấn đề muốn thỉnh giáo Bác. Rất mong được Bác cho phép liên lạc riêng.

Kính,

Nguyenba

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Lí Nhĩ Chân (---.9.91.183-ftth.cmcti.vn)
Date: March 07, 2011 11:16PM
Phùng Hưng: Vị Vua lớn làng Đường Lâm
24/07/2009 | 14:19:12


Làng cổ Đường Lâm ở ngoại thị Sơn Tây (một thời thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội ) là nơi duy nhất trong cả nước mà thôn dân có thể tự hào nói: Làng chúng tôi là " Làng Hai Vua". Ngô Quyền thì nhiều người đã biết. Nhưng còn vị Vua Lớn (" Bố Cái"- theo cách phát âm tiếng Việt cổ) hoặc bậc Cha Mẹ (nếu hiểu theo nghĩa của tiếng Việt cổ thì cũng là " Bố Cái") cùng quê gốc Đường Lâm , thì chưa nhiều người biết: Phùng Hưng.

Ở làng Đường Lâm hiện vẫn còn một tấm bia rất cổ và hiếm quý (niên đại: 1390) ghi lại sự tích từ thời cổ đại - thế kỷ thứ VIII - của vị Đại Vương là người làng , phù hợp với sự ghi chép trong bộ sách của triều đình nhà Trần cũng rất cổ ( niên đại: 1312)- Việt điện u linh tập- nói về những điều linh dị mà hiện hữu về cùng một nhân vật, đồng thời là nhân thần: Phùng Hưng.

Cho tới nay ngày sinh của ông vẫn chưa rõ. Các sách chính sử như Đại Việt Sử ký Toàn thư, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục ghi ông mất năm 791, chỉ một thời gian ngắn sau khi giành được chính quyền. Một nguồn dã sử cho biết ông sinh ngày 25 tháng 11 năm 760 (tức 5-1-761) và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13/9/802), thọ 41 tuổi.

Phùng Hưng có tên tự là Công Phấn, cháu 7 đời của Phùng Tói Cái - người đã từng vào trong cung vua Đường Cao Tổ, thời niên hiệu Vũ Đức (618-626) dự yến tiệc và làm quan lang ở đất Đường Lâm. Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh - một người hiền tài đức độ.

Bấy giờ là những tháng năm thuộc niên hiệu Đại Lịch của triều đại nhà Đường thống trị. Kẻ thay mặt vua nhà Đường cai quản nước Việt ở thời gian này là Cao Chính Bình, nguyên chân quan võ Đô uý châu Vũ Định (ở Tây Bắc), vì có công danh đánh lui các toán giặc cướp từ ngoài biển kéo vào, nên được vinh thăng làm chức đứng đầu cả Phủ đô hộ, đóng dinh trong toà " An Nam La thành", bên bờ sông Tô Lịch. Từ toà thành này, tân quan Cao Chính Bình đề ra tân chính sách bóc lột cực kì hà khắc của mình, khiến người Việt ở khắp nơi đều hết sức phẫn nộ.

Ngọn lửa căm hờn bọn thống trị ngoại bang lâu nay vẫn âm ỉ, bây giờ như có dầu đổ thêm, bùng lên dữ dội, trước hết là Đường Lâm, rồi từ Đường Lâm lan đi.

Ngọn cờ nghĩa giương cao trên miền đất đồi Đường Lâm, do chính Phùng Hưng khởi xướng. Danh hiệu tự xưng bây giờ là: Đô quân. Người em trai Phùng Hải sát cánh bên anh, danh hiệu là Đô bảo.

Cuộc khởi nghĩa do Phùng Hưng phát động nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của nhân dân từ khắp các miền đất Giao châu. Thoạt đầu, anh em họ Phùng nổi dậy làm chủ Đường Lâm rồi nghĩa quân tiến lên đánh chiếm được cả một miền rộng lớn quanh vùng thuộc Phong Châu, xây dựng thành căn cứ chống giặc. Phùng Hưng xưng là Đô Quân; Phùng Hải xưng là Đô Bảo và Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng, chia quân đi trấn giữ những nơi hiểm yếu. Cao Chính Bình đem quân đi đàn áp nhưng chưa phân thắng bại. Tình hình diễn ra như vậy hơn 20 năm.

Được sự trợ giúp của người cùng làng có nhiều mưu lược là Đỗ Anh Hàn, tháng 4 năm Tân Mùi (791), Phùng Hưng từ chỗ cầm cự đã cùng các tướng lĩnh đem quân vây đánh thành Tống Bình. Quân của Phùng Hưng chia làm 5 đạo do các tướng Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần và chủ tướng Phùng Hưng tiến công vây thành.

Phần lớn các truyền thuyết đều kể rằng: Phùng Hưng nhận thấy lực lượng chưa thật đủ mạnh để đè bẹp quân địch, ông đã cùng các tướng tỏa đi xung quanh chiêu mộ thêm binh lính và sắm thêm vũ khí, còn việc vây thành được giao cho 3 người cháu gái họ Phùng, gọi Phùng Hưng bằng bác.

Cuộc chiến đấu sau đó diễn ra quyết liệt, quân Đường chết nhiều, Cao Chính Bình phải vào cố thủ trong thành, lo sợ cuối cùng bị ốm rồi chết. Phùng Hưng chiếm lĩnh thành trì và vào phủ Đô hộ, coi chính sự đất nước.

Bằng công lao và sự nghiệp lẫy lừng ở năm 791 ấy, người hào trưởng đất Đường Lâm trở thành nhân vật lịch sử anh hùng ở Thủ đô, thời tiền Thăng Long. Được người đương thời mến mộ, ông dược suy tôn là "Bố Cái Đại Vương".

Về danh hiệu này, vì hiểu nghĩa "Bố Cái" là "Cha Mẹ", sách Đại Việt sử ký toàn thư đã có câu viết - để giải thích là: "Con (Phùng Hưng, sau khi cha mẹ mất) tôn xưng (cha) là Bố Cáo Đại Vương. Tục gọi cha là Bố, mẹ là Cái cho nên lấy làm hiệu". Tuy nhiên, trong công trình Việt giám thông khảo tổng luận, sử thần Lê Tung lại gọi Phùng Hưng nguyên văn là "Phùng Bố Cái". Cấu trúc của cụm từ này cho thấy ở đây, nghĩa của "Bố" chính là: vua (Bua - Bố), và "Cái" là: Lớn. "Bố Cái", vậy, tiếng Nôm là " Vua Lớn", hoàn toàn tương đồng với "Đại Vương" trong tiếng Hán Việt.

Vì thế, điều quan trọng sau đây, được ghi vào trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, là: "Dân chúng tôn (Phùng) Hưng làm Bố Cái Đại Vương" (chứ không phải là: con Phùng Hưng tôn xưng cha). Và việc Phùng Hưng được dân chúng suy tôn là "Vua Lớn", còn thấy rõ trong câu sử bút sau đây: "Vương thường hiển linh, dân cho là thần, mới làm đền thờ ở phía tây phủ đô hộ, tuế thời cúng tế". Sử cũ còn ghi chép rõ: ngôi đền thờ ấy, trên đất Hà Nội thời tiền Thăng Long, đến thời Lê, thuộc đất "phường Thịnh Quang".

Như vậy, từ chỗ là nhân vật lịch sử của Thăng Long Hà Nội, Phùng Hưng đã trở thành nhân thần linh thiêng của đất kinh kỳ - Thủ đô.


[thanglong.chinhphu.vn]

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: nguyenba (116.99.33.---)
Date: March 27, 2011 02:32AM
VỀ QUÊ HƯƠNG CỦA NGÔ QUYỀN
TRẦN-QUỐC-VƯỢNG

Về quê hương của Ngô Quyền, người anh hùng dân tộc, sử sách của ta xưa nay vẫn cho rằng ông là người cùng quê với Phùng Hưng (Bố cái đại vương), ở xã Đường-lâm, thuộc huyện Phúc-thọ tỉnh Sơn-tây (nay {1967} thuộc huyện Tùng-thiện, tỉnh Hà-tây. {2011: thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội}). Thế nhưng gần đây, ông Đào-duy-Anh đã tỏ ý nghi ngờ về việc chỉ định đó. Trong quyển Đất nước Việt-nam qua các đời (1), ông viết: “Đại Việt sử ký toàn thư (ngoại, q. 5) chép rằng Ngô Quyền là người Đường-lâm, con Ngô Mân là châu mục bản châu. Sách Cương mục (Tb, q. 5) chú rằng: Đường-lâm là tên xã xưa, theo sử cũ chú là huyện Phúc-lộc, huyện Phúc-lộc nay đổi làm huyện Phúc-thọ, thuộc tỉnh Sơn-tây. Xét Sơn-tây tỉnh chí thì thấy nói xã Cam-lâm huyện Phúc-thọ xưa gọi là Đường-lâm, Phùng Hưng và Ngô Quyền đều là người xã ấy, nay còn có đền thờ ở đó. Chúng tôi rất ngờ những lời ghi chú ấy và nghĩ rằng rất có thể người ta đã lầm Đường-lâm là tên huyện đời Đường thuộc châu Phúc-lộc (Phúc-lộc châu có huyện Đường-lâm) thành tên xã Đường-lâm ở huyện Phúc-thọ. Huyện Đường-lâm châu Phúc-lộc là ở miền nam Hà-tĩnh. An-nam kỷ lược thì lại chép rằng Ngô Quyền là người Ái-châu, cũng chưa biết có đúng không”. Ở hai trang sau (tr. 86), ông khẳng định: “Ngô-nhật-Khánh, gọi Ngô Lãng-công (cùng họ với Ngô Quyền - TQV), giữ miền Đường-lâm (huyện Đường-lâm thuộc châu Phúc-lộc, miền Hà-tĩnh ngày nay)”. Gần đây, khi phê bình Đại Việt sử ký toàn thư, đồng chí Văn Tân cho rằng “ý kiến bạn Đào-duy-Anh rất đáng cho chúng ta để ý” “Ngô Quyền là người huyện Đường-lâm thuộc Hoan-châu chứ không phải là người huyện Phúc-thọ tỉnh Hà-tây” “Ngô Quyền là quý tộc con Ngô Mân quê ở Hoan-châu (có chỗ nói Ái-châu) đã dấy quân từ Hoan-châu tiến ra bắc phá quân Nam Hán ở cửa Bạch-đằng. Như vậy Ngô Quyền phải là người huyện Đường-lâm châu Phúc-lộc (Hà-tĩnh) chứ không phải người xã Đường-lâm huyện Phúc-thọ (Sơn-tây). Có thế mới phù hợp với tình hình xã hội hồi thế kỷ VIII, IX và X” (2).

Với những tài liệu lịch sử hiện nay tôi được biết và sẽ dẫn sau đây, tôi cho rằng quê hương của Ngô Quyền (và Phùng Hưng) đúng là ở xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây ngày nay (trước là làng Cam-lâm, huyện Phúc-thọ) như sử cũ đã ghi chép.

1. Điều cần chú ý trước tiên – và khi nêu ra thì mọi người đều dễ dàng đồng ý – là tình trạng cùng một xứ, cùng một thời có hai địa danh trùng nhau hoặc là cùng một xứ nhưng ở thời trước thì địa danh ấy chỉ một miền này mà ở thời sau cũng địa danh ấy lại chỉ một miền khác – vốn xưa (và cả ngày nay nữa) là một điều thường có.
Theo các sử cũ, quả thật ở thời thuộc Đường (thế kỷ VII-X) miền đất nước ta có huyện Đường-lâm (đầu đời Đường là châu Đường-lâm rồi đổi thành quận Đường-lâm) thuộc châu Phúc-lộc (có cả huyện Phúc-lộc) thuộc phía nam tỉnh Hà-tĩnh ngày nay. Nhưng cũng theo một bài văn bia đề ngày 18 tháng Hai năm thứ ba niên hiệu Quang-thái đời Trần Thuận-tông (1390) – bia hiện để ở trong đền thờ Phùng Hưng tại xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây – thì ở thời Trần nước ta có xã Cam-tuyền thuộc huyện Phúc- lộc, phủ Quốc-oai (3). Văn bia ghi rõ: “Nguyên bản xã đất nhiều rừng rậm xưa gọi là Đường-lâm, đời đời sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt”. Theo cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì ở thời Lê, phủ Quốc-oai vẫn có huyện Phúc-lộc (4). Thời Nguyễn Gia-long mới đổi tên huyện Phúc-lộc thành huyện Phúc-thọ (5). Sách Việt điện u linh của Lý-tế-Xuyên đời Trần (1329) chép truyện Phùng Hưng đã dẫn sách Giao châu ký ở thời Đường: “Vương họ Phùng, tên là Hưng, ông cha đời đời là tù trưởng châu Đường-lâm, gọi là quan lang”(6). Vậy rõ ràng ở thời thuộc Đường, ngoài Đường-lâm thuộc châu Phúc-lộc còn có Đường-lâm là một châu ky-mi trực thuộc châu Giao (đồng bằng Bắc-bộ) và đất Đường-lâm đó sau là một xã thuộc huyện Phúc-lộc, phủ Quốc-oai. Sử cũ đã không lầm tên huyện Đường-lâm thuộc châu Phúc-lộc thành tên xã Đường-lâm thuộc huyện Phúc-thọ như tác giả Đất nước Việt-nam qua các đời đã nói.

2. Theo bia xã Đường-lâm thì khi Ngô Quyền lên ngôi vua (939), ông đã lấy bản xã làm “thang mộc ấp”. Sau khi Ngô Quyền mất (944), nước ta xảy ra cuộc nội chiến giữa các chúa phong kiến cát cứ ở các địa phương – sử cũ gọi là loạn Thập nhị sứ quân. Một trong số mười hai sứ quân đó là Ngô-nhật-Khánh thuộc dòng họ Ngô Quyền đã cát cứ ở Đường-lâm, quê hương nhà Ngô.
Theo Việt sử lược và Toàn thư thì năm 950 Dương-tam-Kha sai Ngô-xương-Văn (con thứ hai của Ngô Quyền) và hai tướng Dương-cát-Lợi, Đỗ-cảnh-Thạc đi đánh 2 thôn Đường, Nguyễn ở Thái-bình và bị chết (7). Thái-bình là tên một huyện của Giao châu thời thuộc Đường. Theo Trinh-nguyên thập đạo lục của Giả Đam – người đời Đường – thì con đường “từ An-nam (từ tự sở An-nam đô hộ phủ là Tống-bình – tức Hà-nội ngày nay – TQV) đi qua (huyện) Giao-chỉ (Từ-liêm - TQV), (huyện) Thái-bình hơn 100 dặm thì đến Phong-châu” (8). Sau khi nghiên cứu các sách địa lý cổ, ông Đào-duy-Anh đã chỉ định huyện Thái-bình là ở khoảng huyện Quốc-oai ngày nay (9). Chúng tôi đoán rằng thôn Đường thuộc Thái-bình là đất Đường-lâm, nơi sứ quân Ngô-nhật-Khánh cát cứ, còn thôn Nguyễn thuộc Thái-bình là Nguyễn-gia hay Nguyễn-gia-Loan nơi sứ quân Nguyễn Khoan cát cứ. Việt sử lược chép danh sách 12 sứ quân đã gọi Nguyễn Khoan là Nguyễn Thái-bình (10). Cứ như vậy thì rõ ràng Đường-lâm, nơi Ngô-nhật-Khánh giữ quê hương và thang mộc ấp của nhà Ngô mà cát cứ phải thuộc đất Sơn-tây, chứ không thể thuộc đất Hà-tĩnh như ông Đào-duy-Anh chỉ định được.

3. Về điểm đó, chúng ta còn có những chứng cứ khác. Việt điện u linh (tác phẩm đời Trần) dựa vào Sử ký của Đỗ Thiện (có lẽ là tác phẩm đời Lý hay đầu đời Trần) chép truyện Lý-phục-Man nói Lý-phục-Man là tướng của Lý Nam-đế (Lý Bôn), được Lý Nam-đế “giao cho đóng giữ hai đất Đỗ-động và Đường-lâm” và khi chết còn được thờ ở đó (11). Đền thờ Lý-phục-Man nay hiện còn ở xã Yên-sở thuộc huyện Hoài-đức tỉnh Hà-tây. Đỗ-động hay Đỗ-động giang, khu vực cát cứ của sứ quân Đỗ-cảnh-Thạc nay cũng thuộc tỉnh Hà-tây: Hiện còn di tích hai cái thành của sứ quân Đỗ-cảnh-Thạc: một là thành Quèn thuộc thôn Cổ-hiền, xã Tuyết-nghĩa, huyện Quốc-oai (ở giữa thành còn có đền thờ Đỗ-cảnh-Thạc), một thành khác nay còn di tích ở xã Bình-đà thuộc huyện Thanh-oai (12). Vậy rõ ràng đất Đường-lâm ở cạnh Đỗ-động cũng phải thuộc vùng Sơn-tây cũ. Theo Toàn thư thì ở thời Thập nhị sứ quân “hơn 500 con em Ngô tiên chúa (tức Ngô Quyền – TQV) ở Đỗ-động giang đã đem quân tới đánh Đinh Bộ-lĩnh”(13). Đấy lại thêm một chứng cớ nữa tỏ rằng quê hương, con cháu nhà Ngô đều ở đất Sơn-tây cũ.

4. Hai ông Đào-duy-Anh và Văn Tân cho quê hương Phùng Hưng và Ngô Quyền là ở Hà-tĩnh, song hiện nay ở Hà-tĩnh không có một di tích lịch sử nào khả dĩ chứng minh được cho điều đó cả. Trong khi ấy, ở xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây còn có đền thờ Phùng Hưng, có lăng Ngô Quyền là những di tích vật chất chứng tỏ quê hương hai người anh hùng dân tộc này là ở đó. Đền đó lập ra từ đời nào và do ai lập ? Tấm bia Đường-lâm dựng đời Trần (1390) mà chúng tôi đã nêu ở trên nói rõ: Ngô vương Quyền “ở ngôi 6 năm thì mất. Tự vương (vua nối dõi – có lẽ chỉ Ngô-xương-Ngập, hoặc cũng có thể chỉ Dương-tam-Kha, người đã tự lập làm vương sau khi Ngô Quyền chết – TQV) lập miếu đình để làm nơi cho bản ấp phụng thờ, tế lễ [Ngô vương Quyền]”.

5. Bia Đường-lâm có đáng tin cậy hay không ? Rất đáng tin cậy. Bia đó dựng cuối đời Trần (1390), chưa xa Ngô Quyền lắm, ít nhất là chưa xa thời Ngô Quyền bằng thời đại các nhà sử học của chúng ta ngày nay. Bia đó do những người họ Phùng, họ Ngô… là con cháu của Phùng Hưng, Ngô Quyền lập ra, văn bia nói là “trích gia phả của hai họ, tóm thuật những điều cốt yếu ghi vào bia để truyền lại lâu dài”. Nhờ vậy văn bia cho ta biết một số điều mà sử sách xưa nay chưa ghi chép. Tỉ dụ, văn bia cho biết Ngô Quyền làm tướng coi Ái-châu năm 35 tuổi, làm vua năm 41 tuổi, lấy Đường-lâm làm “thang mộc ấp”, ở ngôi 6 năm thì mất. Sử cho ta biết: Ngô Quyền lên ngôi năm 939, mất năm 944, đúng 6 năm như văn bia đã ghi. Vậy Ngô Quyền làm tướng giữ Ái-châu năm 933. Theo sử thì đầu năm 931, Dương-đình-Nghệ đã đánh tan được quân xâm lược Nam Hán, khôi phục được nền độc lập dân tộc. Ngô Quyền được Dương-đình-Nghệ tin yêu, gả con gái cho và cho trấn thủ Ái-châu là khu vực trọng yếu trong nước và là quê hương của họ Dương.Nếu theo cách tính tuổi ta thì Ngô Quyền sinh năm 899, mất năm 944, thọ 46 tuổi. Cũng nhờ tấm bia đó, ta biết chắc chắn quê hương Phùng Hưng và Ngô Quyền là ở Đường-lâm nay thuộc huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây. Theo Giao châu ký thì ông cha Phùng Hưng đời đời làm quan lang. Điều đó cung cấp cho ta một sử liệu để nghiên cứu mối quan hệ giữa tộc Mường và tộc Việt và hiểu rõ hơn chế độ xã hội của nước ta vào khoảng những thế kỷ VII-VIII. Điều đáng chú ý là hiện nay người Mường còn cư trú ở vùng chân núi Ba-vì, trong huyện Tùng-thiện, cách quê hương của Phùng Hưng và Ngô Quyền không xa lắm.

{tháng} 2-{19}67

Chú thích:
(1) Đào-duy-Anh – Đất nước Việt-nam qua các đời. Nhà XB Khoa học, Hà-nội – 1964, tr. 84.
(2) Văn Tân Vài sai lầm về tài liệu của bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 93 tháng 12-1966, tr. 31-32.
(3) Trong cuốn Đất nước Việt-nam qua các đời, phần nghiên cứu về phủ huyện ở nước ta thời Trần, ông Đào-duy-Anh không chép đến huyện Phúc-lộc và phủ Quốc-oai.
(4) Dư địa chí (bản dịch) nhà xuất bản Sử học, Hà-nội, 1960, tr. 28.
(5) Đại nam nhất thống chí, Sơn-tây tỉnh.
(6) Việt điện u linh (bản dịch) nhà xuất bản Văn hóa, Hà-nội, 1960, tr. 15.
(7) Việt sử lược q. 1, tờ 14, 15 – Toàn thư ngoại kỷ q. 5, tờ 21, 24.
(8) Dẫn ở Tân Đường thư q. 43, hạ.
(9) Đất nước Việt-nam qua các đời, tr. 75.
(10) Việt sử lược q. 1, tờ 15.
(11) Việt điện u linh, tr. 40.
(12) Chúng tôi đã đến khảo sát tại chỗ hai thành này năm 1958 và 1967.
(13) Toàn thư ngoại kỷ q. 5, {tờ} 26a.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Hà Nội, số 101, tháng 8/1967, tr. 60-62, mục “Tài liệu tham khảo”

Lời dẫn:
- Chúng tôi xin cám ơn ông TTD đã cung cấp bản chụp.
- Bản đánh máy theo đúng cách viết của bản gốc. Chúng tôi sẵn sàng cung cấp bản chụp cho những ai có nhu cầu.
- Những phần trong {} là của người biên tập.
nguyenba

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Lí Nhĩ Chân (58.187.175.---)
Date: March 27, 2011 03:27AM
Một cách rất dễ giải thích, miền Sơn Tây tức các tỉnh Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình là đất cổ có từ thời đồ đá Sơn Vi, Hòa Bình, trải qua thời đại đồ đồng Phùng Nguyên rồi Đông Sơn, là đất tụ hội của người Kinh cổ, thời Hán là các huyện Tây Vu, Mi Linh, Chu Diên; thời Đường là các huyện Thái Bình, Giao Chỉ, Phong Châu, Đường Lâm. Là đất bản bộ của các Lạc Vương, An Dương Vương, rồi đến Trưng Trắc, Lí Bôn, Triệu Quang Phục, Lí Phật Tử. Phùng Hưng, Ngô Quyền cũng từ đất ấy mà khởi binh cũng không có gì lạ.

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: nguyenba (116.99.33.---)
Date: March 30, 2011 02:59AM
Đường Lâm dưới góc nhìn địa-văn hóa-lịch sử
Trần Quốc Vượng

1. Sau hơn tám mươi năm người Pháp cai trị ở Việt Nam, từ Nam đến Bắc, với GS. P. Gourou (Những người nông dân ở châu thổ Bắc Kỳ - Les paysans du delta Tonkinois, Paris 1965, in lần 2, 666 trang) và với ông học giả quan năm Paul Mus (Việt Nam: Sociologie d’une guerre) người Pháp đã biết cái chìa khóa để giải mã bí mật của Việt Nam là cái làng. Thế nhưng, tới tác phẩm gần đây (2002) do Philippe Papin và Olivier chủ biên, người Pháp vẫn viết: Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ?!.

2. Nhiều học giả Hàn Quốc đã “thâm canh” ở làng Tây Mỗ (Hà Tây): Mỗ - La - Canh - Cót. Họ cũng có luận án tiến sĩ về làng tứ danh hương Yên Sở (Hoài Đức, Hà Tây).

3. Và các học giả Nhật, nhất là GS. Yumio Sakurai, họ rất khôn ngoan khi “thâm canh” về làng Bách Cốc (Vụ Bản, Nam Định). Khi tôi “dợm” hỏi Yumio Sakurai là vì sao các ông chọn làng Bách Cốc thì ông ta tỏ ra ngây thơ:
- Cũng là ngẫu nhiên thôi, do tại lão GS. Yamamoto Tatsuro (Sơn Bản Đạt Lang) gợi ý. Ông cho rằng, cái tên “Bách Cốc” có nghĩa là ở đó có nhiều giống ngũ cốc khác nhau lại là một làng xưa kia ở vùng ven biển…

4. Tìm hiểu làng cổ xứ Đoài (Sơn Tây) các học giả Pháp gốc Việt như Đinh Trọng Hiếu, Nguyễn Tùng đã chọn làng Mông Phụ ở cạnh Đường Lâm, nơi có nhiều nhà cổ có thể - theo gia phả - ngược lên thế kỷ XVII. Thực ra kết cấu khung gỗ của nhà cổ truyền Việt theo kinh nghiệm điền dã của tôi, thì cứ khoảng một chu kỳ hoa giáp 60 năm là đã phải “trùng tu” bộ phận. Trong khu phố cổ “36 phố phường Hà Nội” tôi và Từ Chi lang thang xem xét, không thấy có nhà nào còn “nguyên vẹn” trước đời Thành Thái (1888 - 1906), có chăng tôi và Vũ Hữu Minh còn thấy từng bộ phận xà - kẻ có ghi niên đại Gia Long (1802 - 1820), như ở cửa đình Kim Liên hay ở “đình hai ông tướng” của Hàng Bạc…

5. Trở lại Đường Lâm. Các học giả Nhật Bản, từ già đến trẻ đã “nhảy xổ” vào rồi. Cô NCS. Yasuko bảo tôi: - “Thưa Thày, em được phân công nghiên cứu so sánh làng Cam Thịnh - với làng Cam Lâm - tương đối giàu vì có buôn bán. Em được “cắm” ở đây hơn hai năm rồi, thi thoảng mới về Hà Nội. Em rất muốn gặp Thày để xin ý kiến”. Không biết có làm nổi luận án tiến sĩ hay không? Khôn thiệt là khôn!

6. Tôi có một lý thuyết vĩ mô về “tứ giác nước” và về “tư duy sông nước” của người Việt cổ truyền. Cổ Loa, Hoa Lư đều nằm trong một tứ giác nước. Thăng Long càng là thế:
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu (Nam) Tô Lịch (Tây) là sông bên này
Huế, Hội An cũng vậy.
Thật trớ trêu - hay đó là “quy luật”? - vùng đất “hai vua” Đường Lâm cũng là một “tứ giác nước”, được bao bọc bởi sông Đà và sông Tích, một chi lưu nối sông Đà và sông Đáy. Sông Tích nay đã cạn nước, có nơi là đầm lầy, có nơi là ruộng lúa. Tôi đã bàn với dân xã và ông Nguyễn Xuân Thảo - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư - người con của Hà Tây - họ đều nhất trí với tôi là nên đào lại - nạo vét - con sông Tích ẩn tàng bao nhiêu kỷ niệm thời Hai Bà Trưng, Bố Cái Đại vương, Ngô vương Quyền, đặc sứ Giang Văn Minh thời Lê, tướng quân kiêm nhà thủy lợi Hà Kế Tân… Khơi lại sông Tích, vừa lợi cho nông nghiệp, vừa lợi cho giao thông đường thủy (nay khá bị xem nhẹ) vừa đẹp cảnh quan môi trường làng xã, lợi cho tham quan - du lịch sông nước… Chắc việc này sẽ được kế hoạch hoá và được thực thi thôi!.

7. Tôi vẫn nhớ những lời ngợi ca về bản sắc văn hoá hữu thể đa dạng theo vùng miền:
- Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài.
- Ăn Bắc, mặc Kinh.
Ở Đường Lâm này có đình Mông Phụ, có chùa Mía nổi danh. Năm cái đình ở Sơn Tây cũ, mà nổi tiếng nhất là đình Tây Đằng được coi là đình làng cổ nhất nước ta (thế kỷ XVI - đời Mạc) còn sót lại.
Phần lớn thờ Tản Viên sơn thánh, đệ nhất Tứ Bất Tử của Việt Nam. Núi Tản - Ba Vì, là biểu tượng lừng lẫy nhất của xứ Đoài.
Đường Lâm với 36 đồi gò là “vùng trước núi” của non Tản. Đã có đồi và làng ven đồi thì cũng có những “dộc” (rộc) sâu làm nên cảnh quan các làng vùng Đường Lâm là cảnh trung du. Đồi và phù sa cổ. Đất bạc màu vì không được phù sa mới Hồng Đà bồi tụ hàng năm nữa. Đất đá ong hoá. Và việc khai thác đá ong làm vật liệu xây nhà, xây mộ là một bản sắc địa - văn hoá khác của xứ Đoài, của Đường Lâm. Bây giờ thì tôi mới hiểu cái tên Phong Châu xứ Đoài đời thuộc Đường (thế kỷ VII - X) có bộ Sơn là ngọn núi, ngọn đồi (đến cái bướu con lạc đà mà người Hoa cũng gọi là Đà Phong!).
Sách Đại Nam quốc sử diễn ca viết:
Bà Trưng quê ở Châu Phong.
Đó là một sai lầm anachronique (phi thời đại). Hai Bà Trưng là người thuộc thời Hán. Tên Phong Châu mới có thời thuộc Đường. Thời thuộc Hán, xứ Đoài - Đường Lâm là thuộc huyện Mê Linh. Sách Nguyên Hoà quận huyện chí (820) và sách Thái Bình hoàn vũ ký (Tống) chép: Huyện Mê Linh có núi Tản Viên. Điều này tôi đã viết một bài riêng khi huyện Thạch Thất và Viện Sử học có cuộc hội thảo về quê hương Hai Bà Trưng.
Xứ Đoài - Sơn Tây - Mê Linh bao gồm cả Sơn Tây (cũ) và Vĩnh Phúc “hai nửa của một” trên đôi bờ sông Nhị - Hồng.

8. Xưa kia núi - đồi cũng là rừng.
Xứ Đoài cũng là xứ núi - đồi - rừng. Đường Lâm, Cam Lâm, Mông Phụ, Phụ Khang đều là rừng gò - đồi - đa dạng sinh học. Riêng cái tên Đường Lâm là có từ trước thời Bố Cái Đại vương thế kỷ VIII (791). Vì thế mà có chuyện Phùng Hưng đánh hổ ở làng, mà sách Việt điện u linh (1329) và bia Trần ở đền/đình thờ Phùng Hưng còn ghi lại. Và xin nhớ: Việt điện u linh và Ngọc phả đền Hùng đời Hồng Đức đều ghi ở thời đó, những nơi đó (Sơn Tây - Phú Thọ - xứ Đoài) đều có thể chế quan lang - phụ đạo. Phùng Hưng (và các đời trước ông) đều là quan lang. Lúc bấy giờ (thế kỷ VIII), sự phân hoá Việt - Mường chưa rành rẽ như ngày nay. ở trung du càng là thế (sự phân hoá Việt - Mường xảy ra rành rẽ là ở vùng Luy Lâu (Kinh Bắc), Tống Bình (Hà Nội)… dưới ảnh hưởng Hoa). Rồi có hàng cây ruối với huyền tính về nơi buộc voi, buộc ngựa của các vương.

9. Thế còn những cái tên cửa miệng dân gian, trong ca dao tục ngữ như là Kẻ Mía, chợ Mía, bến Mía, phố Mía, chùa Mía, bà Mía?.
Mía, tên chữ Hán là Cam Giá. Quê hương gốc của Mía là ở ấn Độ, chân núi Himalaya, truyền bá sớm sang Nam Trung Bộ rồi Giao Châu (trước thế kỷ III). Trung Hoa trước Tống - Nguyên chưa trồng mía, làm đường bằng mía mà giải quyết chất ngọt bằng mạch nha (mầm lúa mạch). Cho nên, tên Cam Giá của người Hoa là tên phiên âm từ Phạn ngữ cổ (Sanscrit): Sakkara - Kara - Kẻ Mía - Cam Giá.
Thời Hậu Lê, tách vùng Kẻ Mía làm hai (1) và đặt tổng Cam Giá Thượng (nay là xã Cam Thượng) và tổng Cam Giá Thịnh (xã Đường Lâm bây giờ) thuộc huyện Phúc Thọ (trước là Phúc Lộc).
Có một chuyện, thật như bịa, bây giờ nghe ra thì khá buồn cười: Một số nhà nghiên cứu căn cứ vào cái tên Phúc Lộc bảo ở Hà Tĩnh xưa có huyện Phúc Lộc, có lẽ quê hương Ngô Quyền ở đó. Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, kẻ ngu hèn này mới ở độ tuổi 20 đã phải viết một bài được cụ Trần Huy Liệu cho đăng trên Nghiên cứu Lịch sử, đầu đề là Về quê hương Ngô Quyền có 2 trang để cải chính là quê hương Ngô Quyền ở Sơn Tây, nơi đó còn đền và lăng Ngô Quyền. ý kiến này được tiếp thu ngay. Tuy vậy, cho đến nay, vẫn có một nguồn tài liệu Tộc phả họ Ngô, nói tổ tiên họ ở Sơn Tây là người gốc ái Châu! Xin nhớ là mọi bản tộc phải, gia phả, thần phả mà ta biết được hôm nay đều viết ở thời Lê và Lê - Trịnh - quê gốc Thanh - đều viết tuốt luốt từ vua Hùng, Thánh Tản đến mọi tổ tiên các dòng họ người Bắc đều gốc từ Thanh, Nghệ, không Hoan Châu thì ái Châu. Theo ý tôi, rất đáng thú vị là ta nên “giải mã” những hiện tượng lịch sử hoá đó bằng cái bối cảnh triều Lê, rồi Lê - Trịnh và trào lưu di cư từ Thanh, Nghệ ra Bắc, sự “ưu tiên” “Tam phủ” Thanh Nghệ nó ảnh hưởng đến tâm thức các “ông đồ Nghệ” và các sĩ phu Nho học khác… Các bản “phả ký’ đó đã được “viết lại” theo một mẫu hình chung, mới được “chế tạo” ra. Không nên tin cậy hoàn toàn các cứ liệu của các bản “phả ký” đó kiểu như bản “phả ký” họ Hà được làm lại mới đây đã viết Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương… những thổ hào địa phương có công trong kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII, đều có công trong kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII, đều có tổ tiên gốc Nghệ. Và có tới 5 vị học giả khả kính người Nghệ - Tĩnh chung nhau viết một công trình chứng minh tổ tiên người Việt là từ Nghệ - Tĩnh kéo nhau ra làm ăn ở vùng “vịnh Hà Nội” cổ đang cạn dần sau đợt biển tiến Plandrian từ 4 nghìn năm trước! Và từ bên kia Thái Bình Dương, cụ Hoàng Văn Chí người gốc Thanh - Đông Sơn di cư theo đường “thượng đạo” qua Hoà Bình ra Bắc xây dựng nước Văn Lang - Âu Lạc! Rồi lại một vị tiến sĩ gốc Thanh Oai, Hà Tây viết sách, viết báo chung riêng chứng minh tuốt luốt họ Hồng Bàng, vua Hùng, Hai Bà Trưng, Nguyễn Trãi, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp… đều có gốc tổ ở miền “trung” Thanh Oai. Thật là “loạn xà ngầu”!.

10. Khi đi đưa đám ma bạn tôi là Phan Kế Hoành, con cụ Phan Kế Toại, người Mông Phụ (1992), tôi tìm thấy văn hoá cũ hậu kỳ Sơn Vi ở những quả gò này. Sau này, trước khi làm khu làng văn hoá các dân tộc ở vùng Đồng Mô - Ngải Sơn, các cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cũng tìm thấy nhiều di vật Sơn Vi, Hoà Bình. Đã từ lâu, di chỉ gò Mả Đống với niên đại C14 là 4.100 năm BP sơ kỳ kim khí đã trở nên nổi tiếng. Người Mường phân cư ở khắp nơi, từ Nghĩa Lộ, Văn Chấn đến Thanh Nghệ đều thờ Thánh Tản (Đản). Thế cho nên, khi Từ Chi tỏ ý nghi ngờ Mường Bi là cái nôi của tộc Mường đã hỏi ý kiến tôi về quê hương tộc Mường. Tôi trả lời: ở chân núi Ba Vì - và anh tỏ ý mãn nguyện! Tôi bảo anh thêm: Thời Trần vẫn gọi vùng đó là Quảng Oai man và đức Trần Hưng Đạo có “gửi” một người con trai út, đến thời Lê, con cháu là ông nghè Trần Văn Huy rồi vì “loạn Trần Tuân áo đỏ xứ Đoài, loạn Trần Cảo áo đen xứ Đông” (1511 - 1516), mà phải đổi họ sang họ Đặng đấy. Không tin, ông cứ “đọc” Đại Việt thông sử của cụ Lê Quý Đôn! Hay đến thăm đền ở gần bãi tập xe ô tô quân đội tại thị xã Sơn Tây, người Mường ở gần đó vẫn đến thắp hương đền của ngài đấy! Ông cười: Hoá ra đức Thánh Trần có con “ngoài giá thú”, gửi người Mường ở chân núi Ba Vì!.

11. Tạm kết
Tất cả những chứng - lý đó tỏ ra rằng: Đường Lâm là vùng đất cổ - người xưa.
Đường Lâm tựa lưng vào núi Tản, mặt ngoảnh nhìn sông nước Tích Đà. Đường Lâm sẽ trường tồn và phồn vinh cùng non sông - đất nước…/.
Tạp chí Di sản (Số 2(15)/2006)
_____________
Chú thích:
1 - Xem Lucien Guyot: Origine des Plantescultivées (Nguồn gốc cây trồng), PUF, Paris, 1964, p.17.

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: nguyenba (---.vnpt.com.vn)
Date: April 01, 2011 08:28PM
Đường Lâm - Sơn Tây: Một chặng huyền sử thế kỷ XX?

[vanhoanghean.com.vn])

Trần Trọng Dương, Nguyễn Tô Lan
Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, Việt Nam

Chúng ta đều biết địa danh Đường Lâm tại Sơn Tây ngày nay đã đi vào tiềm thức của hàng triệu người với tư cách là quê hương của Phùng Hưng và Ngô Quyền - hai vị vua lừng lẫy có công đầu trong việc giành lại quyền độc lập tự chủ của người Việt khỏi sự đô hộ của người phương Bắc. Nơi đây, còn tồn tại lăng mộ cũng như nhà thờ hai vị. Đường Lâm được coi là ngôi làng duy nhất được công nhận là Quần thể di tích cấp quốc gia, được nhà nước đầu tư trọng điểm về văn hóa và du lịch. “Đất hai vua” đã trở thành danh xưng thân thuộc, trở thành đất linh thiêng, đất tông miếu, đất hương hỏa, mảnh đất tự hào của biết bao nhiêu người Sơn Tây nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung, một ngôi làng nhưng mang vinh hiển của cả quốc gia và lịch sử mười hai thế kỷ, chân lý ấy dường như không cần bàn cãi. Tuy nhiên, đối với người làm công tác nghiên cứu lịch sử và nhất là nghiên cứu văn bản học chuyên sâu, những nghi ngờ đã le lói đâu đó trong các chuyên luận hay bài viết ( có thể kể đến công trình của GS Đào Duy Anh[2], Văn Tân[3] hay Bùi Văn Nguyên[4], Nguyễn Huệ Chi[5] v.v…), đã để lại nhiều gợi mở cho người đi sau tiếp tục tìm hiểu và giải mã. Dưới đây, chúng tôi xin lược thuật lại ý kiến của hai học giả Đào Duy Anh và Văn Tân đã phát biểu trước nay nửa thế kỷ.
Trang 84, quyển Đất nước Việt-nam qua các đời, Đào Duy Anh viết: “Đại Việt sử ký toàn thư (ngoại, q. 5) chép rằng Ngô Quyền là người Đường Lâm, con Ngô Mân là châu mục bản châu. Sách Cương mục (Tb, q. 5) chú rằng: Đường Lâm là tên xã xưa, theo sử cũ chú là huyện Phúc-lộc, huyện Phúc-lộc nay đổi làm huyện Phúc-thọ, thuộc tỉnh Sơn-tây. Xét Sơn Tây tỉnh chí thì thấy nói xã Cam Lâm huyện Phúc Thọ xưa gọi là Đường Lâm, Phùng Hưng và Ngô Quyền đều là người xã ấy, nay còn có đền thờ ở đó. Chúng tôi rất ngờ những lời ghi chú ấy và nghĩ rằng rất có thể người ta đã lầm Đường Lâm là tên huyện đời Đường thuộc châu Phúc-lộc (Phúc-lộc châu có huyện Đường Lâm) thành tên xã Đường Lâm ở huyện Phúc-thọ. Huyện Đường Lâm châu Phúc-lộc là ở miền nam Hà-tĩnh. An-nam kỷ lược thì lại chép rằng Ngô Quyền là người Ái-châu, cũng chưa biết có đúng không”[6]Phương pháp sử học của Đào Duy Anh là tiến hành khảo cứu về địa danh châu Đường Lâm thông qua những tư liệu cổ sử. Tuy nhiên, khi viết cuốn chuyên luận của mình, Đào Duy Anh cũng chưa có điều kiện để tiếp xúc đọc đầy đủ các tư liệu cổ sử cấp một, tức những bộ sử được biên soạn ghi đồng thời với các nhân vật lịch sử Phùng Hưng, Ngô Quyền, ví như Thông sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư… Song, những nghi ngờ của Đào Duy Anh có thể nói là rất nhạy bén và lão thực..
Năm 1966, sau sáu năm kể từ khi chuyên luận của Đào Duy Anh ra đời, Văn Tân khi phê bình Đại Việt sử ký toàn thư, đã cho rằng “ý kiến bạn Đào-duy-Anh rất đáng cho chúng ta để ý…Ngô Quyền là người huyện Đường Lâm thuộc Hoan-châu chứ không phải là người huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây…Ngô Quyền là quý tộc con Ngô Mân quê ở Hoan Châu (có chỗ nói Ái châu) đã dấy quân từ Hoan châu tiến ra bắc phá quân Nam Hán ở cửa Bạch-đằng. Như vậy Ngô Quyền phải là người huyện Đường Lâm châu Phúc-lộc (Hà-tĩnh) chứ không phải người xã Đường Lâm huyện Phúc-thọ (Sơn-tây). Có thế mới phù hợp với tình hình xã hội hồi thế kỷ VIII, IX và X”[7].
Sự đồng thuận của Văn Tân dựa trên những nhận thức và phông lịch sử sâu rộng của thế hệ học giả này về lịch sử Việt Nam trước thế kỷ X.
Tháng 8 năm 1967, trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 101), Trần Quốc Vượng đã có một bài viết rất quan trọng để khẳng định Đường Lâm thuộc Sơn Tây[8], bài viết mang tên Về quê hương Phùng Hưng đồng thời phủ định ý kiến của Đào Duy Anh và Văn Tân. Ngay sau khi đăng tải, bài viết của Trần Quốc Vượng lập tức trở thành quan điểm được nhiều người ủng hộ bởi Trần Quốc Vượng đã kết hợp khai thác các tài liệu bi ký cũng như các khảo sát điền dã tại di tích, địa phương cũng như các sử liệu hữu quan. Có thể coi đây là tiếng nói quan trọng nhất lúc bấy giờ để ra phán quyết cuối cùng về vấn đề này. Cứ liệu quan trọng nhất mà Trần Quốc Vượng đưa ra là tấm bia mà ông gọi nôm na là “Bia Đường Lâm” có niên đại 1390 thuộc niên hiệu Quang Thái 光泰đời Trần[9]. Văn bia này có những thông tin được Trần Quốc Vượng khai thác như sau: “Nguyên bản xã đất nhiều rừng rậm, xưa gọi là Đường Lâm, đời đời sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt…Theo bia Đường Lâm thì khi Ngô Quyền lên ngôi vua (939), ông đã lấy bản xã làm “thang mộc ấp”. Ngô vương Quyền ở ngôi sáu năm thì mất…Tự vương (vua nối dõi- có lẽ là chỉ Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn, hoặc cũng có thể chỉ Dương Tam Kha, người đã tự lập làm vương sau khi Ngô Quyền chết- TQV) lập miếu đình để làm nơi cho bản ấp phụng thờ tế lễ [Ngô vương Quyền]… Bia đó do những người họ Phùng họ Ngô…là con cháu của Phùng Hưng Ngô Quyền lập ra, văn bia nói là ‘trích gia phả của hai họ, tóm thuật những điều cốt yếu ghi vào bia để truyền lại lâu dài’”[10] Đây có thể coi là cứ liệu quan trọng nhất của bài viết để chốt lại vấn đề. Bia có niên đại rất sớm, thuộc vào cuối đời Trần; lại là bia bản xã, bia do con cháu của hai dòng họ lập nên để tiến hành cúng tế thờ phụng hai vua. Các cứ liệu đã hội đủ, bảng vàng bia đá là cứ liệu xác tín đanh thép nhất, để khẳng định: Đường Lâm- Sơn Tây là đất của hai vua Phùng Hưng và Ngô Quyền, hai vị anh hùng bậc nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Cho nên, sự đồng thuận của toàn bộ giới sử học từ đó cho đến nay là điều dễ hiểu.
Trải qua gần 50 năm, kết luận của Trần Quốc Vượng đến nay đã trở thành chân lý. Đường Lâm - Sơn Tây, được nêu lên như là một địa chỉ của văn hóa, lịch sử với các hệ thống nhà cổ, các danh nhân và các truyền thuyết đẹp đẽ về hai nhân vật lịch sử này. Đường Lâm - Sơn Tây đã trở thành đối tượng thú vị của hàng loạt các công trình nghiên cứu, các hội thảo trong và ngoài nước. Đường Lâm Sơn Tây đã chính thức được đưa vào trong chính sử, được viết vào sách giáo khoa và giảng dạy trong các trường học từ cấp cơ sở cho đến cấp cử nhân, thạc sỹ và tiến sĩ. Hệ thống truyền thông, báo chí truyền hình, các trang mạng cộng đồng,...tất cả đều tập trung miêu tả, ca ngợi, bình thán,…về một vùng quê mang sự hiển hách của ngàn năm lịch sử và bề dày văn hiến. Năm mươi năm qua là năm mươi lớp người được hiểu về lịch sử theo quan điểm chính thống ấy. Những băn khoăn, trăn trở thuở nào của các bậc cựu học như Đào Duy Anh, Văn Tân đã không còn mấy ai còn biết đến nữa. Lịch sử đã xuôi theo một chiều đẹp đẽ làm thỏa mãn sự tự hào của bao nhiêu lớp người yêu văn hóa lịch sử Việt Nam.

Một cơ duyên đã đưa đẩy chúng tôi khi đi nghiên cứu bản quán Khuông Việt Ngô Chân Lưu phải giám định lại văn bia này. Kết quả giám định cho thấy, cứ liệu cốt tử nhất mà Trần Quốc Vượng đã dựa vào đáng tiếc có lẽ lại là một bia ngụy tạo[11] vào đời sau. Hàng loạt các nhà sử học, khởi từ Trần Quốc Vượng cho đến Nguyễn Minh Tường[12], … đều tin vào tính xác thực của văn bia này, trừ Vũ Duy Mền[13] và Nguyễn Tùng - một nhà lịch sử nhân loại học Việt Nam cư trú tại nước ngoài[14]. Cơ sở để chúng tôi khẳng định văn bia này là ngụy tạo[15] như sau:
Về mặt thư pháp và văn tự học, chữ khắc trên văn bia đều là lối chữ chân nhỏ nhắn, quy củ và chuộng kỹ của triều Nguyễn, khác hẳn với thư pháp đời Trần như thư pháp của Trương Hán Siêu[16]. Nét khắc của bia rất sắc nét, gần như không có chữ nào mờ. Lòng nét khắc vẫn theo đao bút hình chữ “v” khá sâu, chứng tỏ văn bản mới chỉ khắc trong vòng 200 năm trở lại đây.
Về địa danh học, văn bia này dù cố gắng ngụy tạo, nhưng vẫn vô tình để lại tên địa danh thời Nguyễn. Dòng đầu của bia ghi: 國威府福祿縣甘泉社“Quốc Oai phủ Phúc Lộc huyện Cam Tuyền xã”[17], dòng trên đồng thời cũng được khắc trên bia Phụng tự bi ký 奉祀碑記được khắc năm Tự Đức thứ 4 (1851)[18]. Qua khảo chứng về diên cách địa danh hành chính của Đào Duy Anh[19] thì đây có khả năng là bia ngụy tạo vào đời Gia Long hoặc Minh Mệnh, vì đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) Phúc Lộc đã đổi làm Phúc Thọ[20].
Về mỹ thuật, bia có cùng một phong cách với nhiều bia hậu đời Nguyễn: không có trang trí diềm, trán gần như để trơn, hoa văn chỉ có mặt nhật nét mảnh và tia lửa yếu ớt.
Về quy mô, văn bia này được dựng ở cấp độ thôn xóm, cho nên rất khiêm tốn về mặt kinh phí, điều này thể hiện qua dáng vóc xinh xắn và khiêm nhường của bia: chiều cao 54cm, rộng ngang 35 cm, tức là không bằng một tờ báo Nhân dân trải rộng. Cho thấy, bia được dựng nằm ngoài điển lệ của triều đình. Điểm này làm rõ hơn động cơ của dòng niên đại “Quang Thái thứ 3” trong văn bia[21].
Về trật tự chữ, chữ viết trên ngạch bi đều ngang từ trái sang phải, trong khi ngạch bia đời Trần thường là sắp chữ dọc.
Tất cả các dấu hiệu trên cho thấy văn bia đang xét được dựng vào đầu đời Nguyễn.
Đến đây, chúng ta có thể xâu chuỗi các sự kiện như sau: [1] Bia ngụy tạo vào quãng 1802 đến 1821; [2] Dựa vào bia này Nguyễn Văn Siêu đã khẳng định Cam Lâm vốn là Đường Lâm, quê của hai vua Phùng Hưng và Ngô Quyền; [3] Vua Tự Đức đã sai bộ Lễ công nhận đây là di tích cấp “quốc gia” và ban “sắc kiến” vào năm 1874; [4] Sau đó, “đất hai vua” chính thức được đưa vào chính sử vào năm 1882; [5] Đặng Xuân Bảng cẩn thận hơn nữa đã chú Đường Lâm thuộc về Phong Châu[22]. Nhầm lẫn của triều đình và các sử gia trong thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là có thể chấp nhận được, khi các quan biên tu triều Nguyễn không có quá nhiều thời gian và điều kiện để trực tiếp khảo sát địa phương, mà phần lớn các tư liệu đều do hệ thống nha lại các cấp ở dưới đưa lên. Tuy nhiên, ở hai thế kỷ sau đó, việc vô tình hay hữu ý, bất cập ở chuyên môn hay sự khéo léo trong câu chữ của các nhà làm sử đã viết tiếp trang huyền sử thời hiện đại cho mảnh đất này.
Trở lại với phương pháp của Trần Quốc Vượng, nếu như bia Phụng tự bi đúng là bia Quang Thái đời Trần, thì ông đã dùng sử liệu cấp hai để phủ định các sử liệu cấp một được viết vào đời Đường (như trên đã nêu). Mặc dù ông biết rất rõ rằng: “Theo các sử cũ, quả thật ở thời thuộc Đường (thế kỷ VII-X) miền đất nước ta có huyện Đường-lâm (đầu đời Đường là châu Đường-lâm rồi đổi thành quận Đường-lâm) thuộc châu Phúc-lộc (có cả huyện Phúc-lộc) thuộc phía nam tỉnh Hà-tĩnh ngày nay.”[23] Trong trường hợp văn bia đó là văn bia ngụy tạo vào đầu đời Nguyễn như chúng tôi đã chứng minh ở trên thì Trần Quốc Vượng đã dùng một sử liệu có khả năng là ngụy tạo để phủ định các sử liệu cấp một. Trong bài Đường Lâm dưới góc nhìn địa - văn hóa - lịch sử, Trần Quốc Vượng viết: “Có một chuyện, thật như bịa, bây giờ nghe ra thì khá buồn cười: Một số nhà nghiên cứu căn cứ vào cái tên Phúc Lộc bảo ở Hà Tĩnh xưa có huyện Phúc Lộc, có lẽ quê hương Ngô Quyền ở đó. Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, kẻ ngu hèn này mới ở độ tuổi hai mươi đã phải viết một bài được cụ Trần Huy Liệu cho đăng trên Nghiên cứu Lịch sử, đầu đề là Về quê hương Ngô Quyền có hai trang để cải chính là quê hương Ngô Quyền ở Sơn Tây, nơi đó còn đền và lăng Ngô Quyền. Ý kiến này được tiếp thu ngay.”[24] Trên thực tế, lăng Ngô Quyền còn ở một số địa phương khác như Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Tây cũ, Thanh Hóa; còn đền thờ các vị Phùng Hưng, Ngô Quyền thì có ở khắp nơi, hiện chưa có con số thống kê cụ thể. Mặt khác, các lăng mộ, đền thờ các nhân vật lịch sử này ở Đường Lâm có niên đại khá muộn. Sự công nhận của chính sử nhà Nguyễn cộng với tín niệm dân gian trải qua gần 200 năm, đã khiến cho bao nhiêu huyền tích đẹp đẽ cho mảnh đất hai vua được thêu dệt nên. Có vẻ như các nhà sử học Việt Nam thế kỷ XX-XXI, khởi từ Trần Quốc Vượng, đã coi di tích, huyền tích, sử liệu đời Nguyễn, cũng như niềm tin dân gian là bốn cứ liệu quan trọng nhất để đưa ra quyết định cuối cùng. Đặt dấu chấm hết cho những tranh luận trên phương diện cổ sử là việc cải tên xã Cam Lâm thành Đường Lâm khiến địa danh này trùng khít hoàn toàn với quá khứ 1000 năm trước về mặt danh xưng.
Vậy tại địa bàn hiện nay được coi như là đất phát tích của hai vua - Đường Lâm (Sơn Tây), sự cải danh đã diễn ra như thế nào trong thế kỷ XX. Vấn đề này đã được tác giả Nguyễn Tùng (Paris)[25] bàn xét khá toàn diện trong bài Bàn thêm về quần thể làng cổ Đường Lâm đăng tải trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 23 tháng 01 năm 2009. Có thể giản lược như sau: xã Đường Lâm (với tư cách là một đơn vị hành chính, dưới cấp huyện) là một tên mới đặt, bao gồm chín thôn (làng) trong đó có năm thôn cổ là Cam Thịnh, Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Lâm và Đoài Giáp là đã được lập ra cách đây hơn 500 năm. Bốn thôn còn lại (Phụ Khang, Hà Tân, Hưng Thịnh và Văn Miếu) thì đều tách ra từ vài làng nói trên hoặc được lập ra cách đây chưa đến hai trăm năm. Đáng chú ý là ở thôn Cam Lâm từ mấy thế kỉ nay đã có đình thờ đình Phùng Hưng cũng như nhà thờ và lăng Ngô Quyền. Do vậy, chính quyền xã này cũng đã dựa vào các bằng chứng đó để xin Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi tên từ Cam Lâm thành Đường Lâm vào ngày 21-11-1964[26].
Tóm lại, tổng hợp sự khảo cứu về diên cách Đường Lâm- Sơn Tây của chúng tôi[27]với kết quả nghiên cứu thực địa của Nguyễn Tùng, tạm thời có thể đi đến nhận định rằng: trong suốt chiều dài lịch sử hai ngàn năm từ đời Hán cho đến năm 1964, xã Đường Lâm dường như chưa bao giờ có tên là Đường Lâm.
太平興國(976 - 983, Tân Đường thư 新唐書 do Âu Dương Tu 歐陽修 và Tống Kì 宋祁 biên soạn năm 1060, Dư địa quảng kí 輿地廣記 do Âu Dương Văn 歐陽忞 soạn vào đời Tống Huy Tông 宋徽宗trong những năm Chính Hòa 政和(1111-1117), Đại sự ký Mấy lời để ngỏ: Bài viết thông qua việc giám định văn bản học, (bằng các phương pháp của văn tự - thư pháp học, lịch sử diên cách địa danh, sử liệu học…) nhận định rằng: “bia Đường Lâm” nổi tiếng kia có khả năng rất cao là một văn bia ngụy tạo, chứ không phải là bia đời Trần. Chứng cứ này khiến cho kết luận “Đường Lâm ở Sơn Tây” của Trần Quốc Vượng bấy lâu nay được coi là chân lý chỉ tồn tại như một giả thuyết. Vấn đề tiếp theo là phải nghiên cứu như thế nào. Phương pháp chúng tôi đề nghị là: Tiến hành khảo lại toàn bộ diên cách của xã Đường Lâm (Sơn Tây) trong lịch sử; Nghiên cứu thực địa, điền dã tại tất cả các di tích ở địa phương có thờ Phùng Hưng và Ngô Quyền, như Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Tây cũ, Hưng Yên, Hải Phòng,… để từ đó tiếp tục sưu tầm các tư liệu hữu quan về hai vua cũng như tục thờ các vị này trong đời sống tín ngưỡng dân gian. Tiếp theo và quan trọng nhất, khảo về hệ thống sử liệu cấp một và các tư liệu cổ sử viết trực tiếp về Phùng Hưng, Ngô Quyền, về châu Đường Lâm cũng như các nhân vật có liên quan khác như Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn, Ngô Chân Lưu, Lê Hoàn, Đinh Bộ Lĩnh v.v… đó là các tư liệu: Về phía tư liệu Việt nam có An Nam chí lược 安南志略của Lê Tắc 黎崱soạn năm 1335, Việt Điện u linh tập 粵甸幽靈集do Lý Tế Xuyên 李濟川 soạn năm 1329; Về tư liệu Trung Quốc có: Thông điển 通典 do Đỗ Hữu杜佑 (735 - 812) đời Đường soạn xong năm 801, Cựu Đường thư 舊唐書 do người thời Hậu Tấn là Lưu Húc劉昫(887- 946)khởi soạn vào năm 945, Thái Bình hoàn vũ kí 太平寰宇記 (quyển 171) soạn vào đời Tống Thái Tông 宋太宗trong những năm Thái Bình Hưng Quốc 大事記do Lã Tổ Khiêm 吕祖謙 (1137-1181) đời Tống soạn v.v... Trên đây là mấy ý kiến nhỏ của chúng tôi, rất mong được các nhà nghiên cứu quan tâm chỉ chính.

chú thích:

[2] Đào Duy Anh, Đất nước Việt-nam qua các đời, Nxb. KHXH, H., 1964.
[3] Văn Tân, Vài sai lầm về tài liệu của bộ “Đại Việt sử ký toàn thư”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 93 (tháng 12), 1966, tr.31-32.
[4] Giáo sư Bùi Văn Nguyên, chưa rõ căn cứ vào tài liệu nào, đã khẳng định rằng: “Tăng Thống Ngô Chân Lưu, họ Ngô, người Chân Định, Nam Chân”. Chuyển dẫn theo Hoàng Văn Lâu, Đi tìm địa chỉ Ngô Chân Lưu, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (26), 1996, tr. 53 - 54.
[5] Nguyễn Huệ Chi, Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb. Thế giới, H., 2004.
[6] Đào Duy Anh, sđd, Nxb Văn hóa Thông tin (tái bản), H., 2005, tr. 110.
[7] Văn Tân, bđd.
[8] Trần Quốc Vượng, Về quê hương Ngô Quyền, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 101 (8/1967), tr. 60 - 62.
[9] Theo tra cứu của chúng tôi, bia ấy tên là Phụng tự bi 奉祀碑ký hiệu 36002 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Bia được đặt tại đền thờ Phùng Hưng (Sơn Tây).
[10] Trần Quốc Vượng, bdd. tr. 31-32.
[11] Cảnh Huệ Linh 耿慧玲 trong mục Phùng Hưng khảo馮興考, Việt Nam sử luận - Kim thạch tư liệu chi lịch sử văn hóa tỷ giảo 金石資料之歷史文化比較, Tân Văn Phong Xuất bản công ty, Đài Loan, 2004, tr. 201-224 tuy nhận ra rằng văn bia này không thể là văn bia đời Trần nhưng lại cho rằng văn bia Phụng tự bi ký là bia Hồng Đức. Hiện tượng nhiều học giả nước ngoài thường không sâu sát tư liệu bản địa nên những lầm lẫn như trên không phải là không có. (Tài liệu do Th.S Phạm Văn Tuấn cung cấp).
[12] Nguyễn Minh Tường, Hai tấm bia ở xã Đường Lâm- thị xã Sơn Tây viết về Phùng Hưng và Ngô Quyền, Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm, Nxb. KHXH, H., 2005, tr. 30 - 43. Tại tr. 42, tác giả viết: “Tấm bia Quang Thái thứ 3 (1390) này được khắc vào cuối đời Trần (1225- 1400), tức là sau thời gian xuất hiện của bộ sách Việt điện u linh (1329) khoảng trên 50 năm. Có thể đó là những văn bản đầu tiên ghi chép về sự tích của hai vị anh hùng dân tộc cùng quê ở Đường Lâm là Phùng Hưng và Ngô Quyền”.
[13] Vũ Duy Mền, Tấm bia Quang Thái (1390) đời Trần tại đình Phùng Hưng, làng Cam Lâm, xã Đường Lâm, Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm, Nxb.KHXH, H., 2005, tr. 44- 47. Bài viết có xu hướng khẳng định bia này là một bia đời Nguyễn, rất tiếc vì lý do tế nhị tác giả đặt tên bài viết trái ngược hoàn toàn với kết quả nghiên cứu của ông, và tránh sử dụng đến từ “ngụy tạo”.
[14] Nguyễn Tùng (chủ biên), Mông Phụ một làng đồng bằng sông Hồng,Nxb. Văn hóa Thông tin., H., 2003, tr. 31.
[15] Ngụy tạo văn bia là hiện tượng phổ biến trong thực tế lịch sử. Về vấn đề này xin xem Nuyễn Văn Nguyên, Khảo sát giám định niên đại thác bản văn bia, Nxb. Văn hóa thông tin, H., 2007.
[16] Những tri thức này chúng tôi có được từ một số năm được làm việc cùng các anh Lê Quốc Việt, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Đức Dũng, Phạm Văn Tuấn trong nhóm thư pháp Tiền vệ Zenei Gang of Five. Lê Quốc Việt từng đưa ra nhận định như sau về lịch sử thư pháp Việt Nam: “Kiểu sức là đặc điểm của thư pháp thời Nguyễn đồng thời là dấu son đẹp đẽ chấm dứt nghệ thuật thư pháp nước nhà trước khi Việt Nam chuyển đổi văn tự. Đinh chuộng ý 意 , Lý chuộng vận 運 , Trần chuộng luật 律 , Lê chuộng pháp 法 , Mạc chuộng biến 變 , Nguyễn chuộng kỹ là tổng quan về lịch sử thư pháp Việt Nam.” Xin xem Zenei Gang of Five, Script- Chữ- Thư pháp tiền vệ (catalogue), Thọ Studio, H., 2007. Phương pháp giám định này hiện gần như bị các nhà sử học bỏ qua. Đối với các chuyên gia bi ký và Hán học chuyên sâu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm tuy phương pháp này chưa được thành văn nhưng nó là sự đúc kết kinh nghiệm và nghiên cứu thực địa nhiều năm mà không người nào không trực tiếp xử lý văn bia nguyên gốc lại có được. Hi vọng, trong một tương lai gần, phương pháp này sẽ được coi là một trong những cứ liệu tin cậy giúp xác định niên đại văn bia.
[17] Phụng tự bi奉祀碑. Ký hiệu 36002 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
[18] Nguyên bản văn bia đã bị vỡ mất chữ Tự trong Tự Đức, thế nhưng Nguyễn Minh Tường, Cảnh Huệ Linh với tín niệm về một bia niên đại sớm đã đoán nó là niên hiệu Hồng Đức, và xác định bia này khắc năm 1473. (Nguyễn Minh Tường, bđd, tr.42). Xin xem thác bản ký hiệu số 36003 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
[19] Xin xem thêm Đào Duy Anh, sđd, tr. 180 - 181.
[20] Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, lời cẩn án có ghi rằng đời Lê sơ, phủ Quốc Oai vẫn có huyện Phúc Lộc. (Xem Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. KHXH, H., tr. 220). Cảnh Huệ Linh có lẽ cũng dựa vào chi tiết này để xác định tấm bia thuộc về thời Lê sơ. Nay xin cải chính.
Xin bàn thêm: về mặt lý thuyết thì đúng là có hai khả năng để giải thích cho địa danh Phúc Lộc. Một là Phúc Lộc đời Lê; hai là Phúc Lộc đời Gia Long- Minh Mệnh. Tuy nhiên, phong cách thư pháp, văn tự, kiểu dáng văn bia không cho phép nghĩ đây là bia đời Lê.
[21] Ngoài hai bia ấy, xã Đường Lâm hiện còn bia Sắc kiến Tiền Ngô Vương lăng 敕建前吳王陵Ký hiệu bia 36004 Viện Nghiên cứu Hán Nôm. , niên đại của bia này là Tự Đức thứ 27 (1874), phong cách chữ viết cứng cáp và tú lệ hơn hai bia kia rất nhiều.
[22] Đặng Xuân Bảng (1828 - 1910) trong Việt sử cương mục tiết yếu 越史綱目節要ghi: “Tân mùi, [791] (Đường Đức Tông, Trinh Nguyên năm thứ bảy). Mùa hạ, Phùng Hưng ở Đường Lâm, Phong Châu (Đường Lâm là tên xã; nay là xã Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, không phải là huyện Đường Lâm, châu Phúc Lộc [chú của dịch giả: nay là xã Cam Lâm, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây] ). Đặng Xuân Bảng, Việt sử cương mục tiết yếu 越史綱目節要, Hoàng Văn Lâu dịch chú giới thiệu, Nxb. KHXH, H. 2000. tr. 48.
[23] Trần Quốc Vượng. bdd. tr. 60.
[24] Trần Quốc Vượng. Đường Lâm dưới góc nhìn địa- văn hóa- lịch sử. Trong “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm”. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2005. tr.150- 151.
[25] Nguyễn Tùng, nhà lịch sử nhân loại học xuất sắc người Việt hiện đang làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS). Trong khuôn khổ chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học về các biến đổi của làng xã ở đồng bằng Bắc bộ giữa CNRS và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam), ông cùng các đồng nghiệp đã tiến hành hai cuộc điền dã ở Đường Lâm (5-6-1990 và 10-11-1991). Kết quả được trình bày trong cuốn Mông Phụ, un village du delta du fleuve Rouge, được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Mông Phụ, một làng ở đồng bằng sông Hồng, do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội xuất bản năm 2003.
[26] Khi viết bài này, chúng tôi chưa có điều kiện để tìm được văn bản chính thức của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tạm thời, chúng tôi dựa vào cứ liệu do tác giả Nguyễn Tùng đưa ra.
[27] Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan, Trần Trọng Dương. Đường Lâm là Đường Lâm nào? Trong Kỷ yếu “Quốc sư Khuông Việt và Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập” do Giáo Hội Phật giáo Việt Nam và ĐH KHXH & NV, ĐH QG HN tổ chức, tháng 3 năm 2011

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: nguyenba (---.vnpt.com.vn)
Date: April 01, 2011 08:37PM
Cổ sử
(http://quachhien.blogspot.com/2011/03/co-su.html)

Ông Cố Hiệt Cương có một quan niệm về cổ sử Trung Quốc rất chi là khó dịch, đại ý nói rằng: cổ sử được tạo nên từ tầng tầng lũy lũy các lớp văn bản. Nghĩa là, giai đoạn lịch sử nào càng xa với chúng ta thì diện mạo thực sự của lịch sử giai đoạn đó càng dễ bị vùi lấp bởi sử của đời sau rồi đời sau, đời sau nữa nữa của nó. Lấy một thí dụ thế này, Đại Việt sử ký toàn thư thực ra là một tập đại thành của sử gia nhiều đời, từ Lê Văn Hưu đời Trần, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh thời Lê sơ cho đến nhóm Lê Hy đời Lê trung hưng, tính ra phải mất khoảng hơn 400 năm để soạn thảo,bổ sung, chỉnh lý, nhuận sắc mới có được bộ sử như ta vẫn dùng ngày nay. Người 400 năm sau chép việc của người 400 năm trước đã là một việc khó, huống hồ lại chép đến tận thời viễn cổ mơ hồ xa tít mù khơi, chỉ cần nếu có một chi tiết nào đó bị hiểu sai đi, thì sự thật đích thực ấy sẽ bị chôn lấp bởi tầng tầng lớp lớp sự thật (bị hiểu nhầm) khác của sử gia đời sau. Tôi thường nói đùa một cách nghiêm túc rằng: khi đọc sử phải luôn luôn cảnh giác vì đằng sau sự thật lại có một sự thật khác.

Cứ tạm gác những quan điểm về cổ sử của sử gia hai miền Bắc-Nam giai đoạn trước 1975 sang một bên, chỉ cần đơn cử cuộc bút chiến giữa “Đối thoại sử học” và “Thực chất Đối thoại sử học” -một cuộc bút chiến giữa những nhà nghiên cứu sử học cùng dòng- ít nhất cũng đã dồn sử học chính thống đương đại phải đối diện với nhiều câu hỏi khó, và quả nhiên, giai đoạn lịch sử nào càng mù mờ thì càng dẫn đến nhiều tranh cãi: thí dụ như lịch sử giai đoạn Hùng Vương, thí dụ như những nghi vấn xung quanh các nhân vật lịch sử thời Quang Trung…vân vân và vân vân. Khoan hẵng nói đến chuyện Hùng Vương, (để khi nào thực sự rảnh rang (mà em ngờ rằng là khó có dịp như thế lắm) em sẽ tổng kết cho các bác một chuyên đề ly kỳ xung quanh câu chuyện Hùng Vương, một câu chuyện dài ngung ngoăng và chưa có hồi kết), ở thời gần hơn chút đỉnh, thời Đinh, Tiền Lê, là thời ít ra còn có thể chứng thực thì những ghi chép trong các bộ sử cũng rất ít, chưa đủ để dựng nên diện mạo lịch sử giai đoạn ấy, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn các bác đến “cuộc chiến mũ áo khốc liệt” nhân trường hợp bộ phim “Đường tới thành Thăng Long” dịp đại lễ 1000 năm vừa rồi.

Giai đoạn Ngô, Đinh, Tiền Lê sắp tới có lẽ sẽ là một giai đoạn bùng nổ các cuộc tranh cãi. Tại hội thảo về Khuông Việt đại sư vừa diễn ra vào trung tuần tháng 3, một nhóm tác giả tuy nói rằng chỉ là những ý kiến "gợi mở" nhưng thực chất đã “thẳng tay” đẩy Đường Lâm “xứ 2 vua” về Ái Châu (Thanh Hóa) và ngờ rằng Đường Lâm Sơn Tây chỉ là “kết quả” của sử gia thế kỷ XIX . Sẽ phải nhìn lại rất nhiều chuyện, trong đó có cả chuyện 12 sứ quân. Quả là một sự xáo trộn ồn ào. Nếu như nhóm tác giả Đường Lâm Ái Châu tiếp tục đưa thêm được nhiều dẫn chứng chắc chắn hơn nữa (những dẫn chứng trong tham luận tôi thấy là có cơ sở nhưng chưa đủ) thì nhiều cuốn sách sử sẽ phải viết lại và sắp tới dân Đường Lâm Sơn Tây sẽ "ứng xử" ra sao khi bị tước đi mất cái danh xưng “đất 2 vua” vốn đã quen thuộc từ trước đến nay? Cũng liên quan đến lịch sử giai đoạn này, mới nhất nhà nghiên cứu văn học dân gian Nguyễn Hùng Vỹ đã “nghi ngờ” sử gia Lê Văn Hưu đọc sai thụy hiệu của Lê Hoàn, ông (Nguyễn Hùng Vỹ) cho rằng phải là Lê Đại Hạnh (theo Phật giáo) chứ không phải Lê Đại Hành (mang sắc thái Nho giáo). Và nếu như thế thì sẽ phải đính chính lại sách giáo khoa môn sử? Có lẽ cuộc tranh cãi về cổ sử Việt Nam sẽ còn có thể sẽ vươn dài về giai đoạn mù mờ hơn nữa khi mà hội thảo về thành Ô Diên sắp sửa diễn ra.

Chỉ có điều, tất cả những người quan tâm đặt ra những câu hỏi nghi vấn về cổ sử trên đây, thực ngạc nhiên, họ hoàn toàn không phải là những người nghiên cứu lịch sử.
Quách Hiền

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Tích Dã (113.162.88.---)
Date: December 20, 2011 02:32AM
Xét xét lại, có chỗ không ổn trong sách sử [phần Địa lí chí] chép về châu Đường Lâm - Phúc Lộc.

- Trí châu Thứ sử Tạ Pháp Thành 智州刺史谢法成 , chính ra đúng phải là Củ châu Thứ sử Tạ Pháp Thành 矩州刺史谢法成 , là người đã dụ các bộ lạc Côn Minh, Bắc/Tỉ Lâu thời nhà Đường, vào năm Tổng Chương thứ hai, lập ra Lộc châu 禄州 ở tỉnh Quý Châu ngày nay không liên quan đến thành lập châu Đường Lâm-Phúc Lộc ở Việt Nam. Trong phần Địa lí chí của Cựu/Tân Đường thư chép về châu Phúc Lộc - Đường Lâm, các sử gia đã lẫn lộn với sự kiện và nhân vật này.

- Chứng cứ về vị trí của châu Đường Lâm rõ ràng nhất là từ câu 一路自驩州东二日行至唐林州安远县 trong Tân Đường thư. Theo đó, châu Đường Lâm là ở phía đông của châu Hoan, ứng với tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Nhưng chưa chắc đã đúng, phần này trích trong một đoạn văn dài rất khó hiểu, khó tránh khỏi lẫm lẫn. Cũng trong phần Địa lí chí cũng có đoạn viết: 武定州县三福禄柔远康林。Rất dễ thấy châu An Định [một châu ở tỉnh Quý Châu] có ba huyện là Phúc Lộc, Nhu Viễn, Khang Lâm [nhầm lẫn với 唐林].

- Theo Thông điển của Đỗ Hữu là tin cậy hơn so với Cựu/Tân Đường thư thì có châu Phúc Lộc lĩnh 2 huyện là An/Nhu Viễn và Đường Lâm. 福禄州理安远县土地与九真郡同大唐为福禄州或为福禄郡领县二柔远 唐林
日南郡东至福禄郡界一百里

Theo đó có quận/châu Phúc Lộc có đất đai giống với quận Cửu Chân, có hai huyện là Nhu/An Viễn và Đường Lâm, ở gần quận Nhật Nam, ứng với tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.

- Châu Đường Lâm là quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền không phải là châu Phúc Lộc. Theo Việt điện u linh lập có chép 以兵巡行唐林長峰等州皆帰之威名大振聲言欲図都府

Phùng Hưng thế tập là tù trưởng châu Đường Lâm, lại đem binh kinh tuần các châu Đường Lâm, Trường, Phong. Vậy thì châu Đường Lâm này phải ở gần kề các châu Trường, Phong. Vậy châu Đường Lâm này đích xác là Sơn Tây không phải là châu Phúc Lộc ở Hà Tĩnh.

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Tích Dã (113.162.88.---)
Date: December 20, 2011 02:42AM
Vậy tôi cho rằng thời Đường từng đặt châu Phúc Lộc ở Hà Tĩnh, và có thể đặt châu Đường Lâm ở Sơn Tây.

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Nguyễn Phúc Anh (---)
Date: December 20, 2011 08:24AM
Quote:
Tích Dã
Vậy tôi cho rằng thời Đường từng
đặt châu Phúc Lộc ở Hà Tĩnh, và có
thể đặt châu Đường Lâm ở Sơn Tây.
Giả thiết cần chứng minh bằng tư liệu bác ạ. Còn bác cho rằng thì mãi mãi chỉ là phỏng đoán :-) mà phỏng đoán thì chưa đủ để xác lập một niềm tin. Một niềm tin chưa xác lập được một sự thật bác ạ grinning smiley

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: fanzung (171.252.78.---)
Date: December 20, 2011 08:46AM
Tích Dã tiên sinh đã dẫn tư liệu đó thôi, còn nói "cho rằng" thì chỉ là một động tác "ngoại giao" lịch sự smiling smiley

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Nguyễn Phúc Anh (---)
Date: December 20, 2011 09:36AM
Quote:
fanzung
Tích Dã tiên sinh đã dẫn tư liệu đó
thôi, còn nói "cho rằng" thì chỉ là một
động tác "ngoại giao" lịch sự smiling smiley
Híc. Ý cháu là cái ý "có thể đặt châu Đường lâm ở Sơn Tây" là phỏng đoán không có cứ liệu thôi.
Nguyên văn VĐUL:
用唐林人杜英倫一作翰計儀以兵巡行唐林長峰等州皆帰之威名大振聲言欲図都府
Câu này có thể hiểu theo nhiều nghĩa: Binh tuần hành một vùng từ Đường Lâm đến Trường Châu, Phong Châu hay hiểu như bác Tích Dã dịch cũng được. Cháu nghĩ văn ngôn vốn cô đọng, liệt kê ra ba châu không có nghĩa là ba châu đó cạnh nhau mà có thể chỉ một vùng hoạt động rộng lớn.
Cứ liệu nào từ sử đời nhà Đường có nói về việc nhà ĐƯỜNG đặt châu Đường Lâm ở Sơn Tây thì cháu vẫn chưa thấy đưa ra được, nên cháu nghĩ bác Tích Dã vẫn đang đưa ra một phỏng đoán là vì vậy ạ.

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Nguyễn Phúc Anh (---)
Date: December 20, 2011 09:41AM
Bác Tích Dã có phủ nhận cứ liệu từ Tân Đường thư như sau:
"Chứng cứ về vị trí của châu Đường Lâm rõ ràng nhất là từ câu 一路自驩州东二日行至唐林州安远县 trong Tân Đường thư. Theo đó, châu Đường Lâm là ở phía đông của châu Hoan, ứng với tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Nhưng chưa chắc đã đúng, phần này trích trong một đoạn văn dài rất khó hiểu, khó tránh khỏi lẫm lẫn."
Cái này cháu xin được lắng nghe thêm vì có lẽ bác bỏ cứ liệu như thế này là chưa đúng. Vì khó hiểu? nên khó tránh khỏi lầm lẫn? nên chưa chắc đúng ạ?
Cháu thử search qua loa, thấy có một đoạn tổng kết tư liệu về Đường Lâm khá thú vị của một học giả Tàu grinning smiley

新唐書卷四三上,“福祿州唐林郡,……本福祿郡,……以故唐林州地置大足元年更名安武州至德二載更郡曰唐林乾元元年復州故名。……縣三柔遠本安遠至德二載更名〕,唐林唐初以唐林安遠二縣置唐林州後州縣皆廢更置〕,福祿”,卷四三下云一路自驩州東二日行至唐林州安遠縣南行經古羅江二日行至環王國之檀洞江”。唐林州在越南義靜省東南端州治安遠縣或位河靜一帶一說在河靜的東南面另見通典卷一八四;《元和志卷三八;《舊唐書卷四一;《寰宇記卷一七一;《元豐志卷一0;《通考卷三二三

Re: Quê của Phùng Hưng và Ngô Quyền thực sự ở đâu?
Posted by: Nguyễn Phúc Anh (---)
Date: December 20, 2011 09:45AM
Theo cháu nhớ thì Hoàn Vương Quốc 环王国 là quốc gia cổ nằm ở Nam Trung bộ Việt Nam ngày nay rồi

Goto Page: Previous123Next
Current Page: 2 of 3


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity