Việt Sử - VN History :  Diễn Đàn Viện Việt Học
This forum hosts all discussions on VH History topic.  
Goto Thread: PreviousNext
Goto: Forum ListMessage ListNew TopicSearch
Goto Page: 1234Next
Current Page: 1 of 4
Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: gôcLê (---.podgorny.cz)
Date: April 15, 2009 02:51AM
Trong khg. một tháng qua, do các thảo luận bên Diễn Đàn Nôm về "Đại Cồ Việt -nước Phật giáo ...", [www.viethoc.org] gôcLê phát hiện được một số manh mối lí thú liên quan tới cái nhìn về nước và tên nước ta cho đến thời nhà Lí. Do thì giờ không cho phép tìm hiểu kĩ lưỡng (tính cả việc nhờ vả việc so sánh nguyên văn và bản dịch :-), gôcLê đành đưa các manh mối này lên đây để may ra gợi hứng cho các bác.

Như từng nói, Đọc Đại Việt Sử Lược (Nguyễn Gia Tường dịch, 1972), ta có thể thấy rằng, tác phẩm này (nhưng không chắc là chính tác giả của nó) nói chung có cái nhìn về nước ta rất hợp với nhãn quan "thiên triều". Hầu như nó chỉ đề cập đến nước ta như quận, huyện, và khi "nhà Tống gọi nước Việt ta là nước An Nam, vua là quốc vương (theo ĐVSL là năm 1174)", nó mới cho là "quốc hiệu được lập bắt đầu từ đó."

Theo tác phẩm này, đó là vào đời Lí Anh Tông, năm 1174. Và quốc hiệu nó nói đến từ đó về sau là quốc hiệu được thiên triều ban, An Nam. Cả hai điều này được biết là sai khác rất xa với ĐVSKTT, cũng như, theo tìm tòi của bác Tích Dã, với Tống Sử. [www.viethoc.org]

Có những biệt lệ, nhưng đó là riêng về nước được nhìn nhận và đã bị diệt (như Nam Việt), hoặc không được nhìn nhận nhưng cũng sớm bị thiên triều diệt -nước Vạn Xuân.

Sự kiện này đưa đến khả năng "các" nước và quốc hiệu "tiếm lập", "tiếm xưng" của ta thời xưa không được nêu ra, hoặc nếu có thì bị tẩy xóa trong thời ĐVSL bị mang sang Trung hoa, do lí do "phải đạo". Đại Việt là trường hợp hiển nhiên. Trường hợp Đại Cồ Việt thì khó khăn hơn, do một số những nghi ngờ có căn bản mà bác ĐT nêu ra về quốc hiệu Đại Cồ Việt -điều dễ dàng thấy ở các chủ đề liên quan bên diễn đàn Nôm.

Nhưng ĐVSL có vẻ không tuyệt đối nhất quán trong việc đề cập đến "An Nam" khi nó còn bị xem như một quận huyện: Khi nhắc đến một sự cố mà sau đó Lê Hoàn được tôn làm vua, nó đề cập đên nước ta như "_bản quốc (An Nam)_". Sự kiện này không có mấy ý nghĩa (trừ phi ta muốn biện hộ cho tác giả), nhưng từ thời Đinh bộ Lĩnh lên ngôi, xưng đế và thiết lập triều nghi ..., An Nam hiển nhiên đã là một nước thật sự.

Điều có ý nghĩa là nhà Tống bấy giờ cũng xem nước ta là một nước riêng, dù trên danh nghĩa vẫn chỉ nhìn nhận như một quận huyện nội thuộc. Có nhiều manh mối cho thấy như thế từ một nguồn khác, An Nam Chí Lược (ANCL, Ủy ban Phiên dịch Đại học Huế 1961)

ANCL cũng không nhắc đến các quốc hiệu tự đặt của nước ta, nhưng nó cho thấy, ở nhiều chỗ, vua Trung hoa đúng là biết nước ta vào thời Đinh Lê như một nước, "nước nhỏ" "chưa sáp nhập vào địa-đồ Trung-Quốc", không biết "Lễ thờ phụng nước trên", như lời Tống Thái Tông trong "Lời chiếu chinh phạt Giao-Chỉ ... (năm 980) (Quận Ấp, quyển đệ nhất).

Các ông vua Tống lần này sang lần khác gọi nước ta thời Đinh-Lê là nước "Diên Chỉ". Phù hợp với sự kiện này, tác giả ANCL cũng gọi "nước", nhưng nước "Giao Chỉ". Sự sai khác này không thấy ghi chú như có ý nghĩa gì. Hiển nhiên Giao Chỉ hay Diên Chỉ đều là tên gán ghép cho nước ta dựa trên tên quận huyện cũ.

Vấn đề là thời Đinh Lê ta có một quốc hiệu tự đặt hay không, hay nghiễm nhiên chấp nhận tên Giao Chỉ. ANCL có một câu có vẽ đầy ý nghĩa trong tương quan này :

"... Từ nhà Đinh trở về sau, mới chịu vương-tước của nhà Tống gia-phong. Nhưng ở trong nước _tự đặt danh-hiệu_, bắt chước việc cũ của Triệu-Đà, tự phong trong nước có vương, hầu; đặt quan có "chánh", có "tiếp", cũng giống như "phẩm" và "tòng" vậy." (Học Hiệu, quyển đệ thập tứ)

Có lẽ phải nhờ các nhà Hán học thẩm định câu văn dịch này. Tạm thời có thể xem như tác giả có ngụ ý, nhà Đinh và các triều đại sau đó _tự đặt quốc hiệu_

Nếu quốc hiệu tự đặt này là "Giao Chỉ", hẳn tác giả ANCL đã phải ghi chú. Không có lí do "phải đạo" nào ngăn không cho ông làm thế. Thế thì quốc hiệu tự đặt, nếu có, phải khác. Xét câu trích dẫn trên, có thể nói nó không mang nghĩa các vua Đinh, ... bắt chước Triệu Đà đặt quốc hiệu là Việt. Có lẽ nguyên văn chữ Hán cũng cho phép hiểu như thế?

Nếu cho quốc hiệu này là Đại Việt, như gợi ý từ các viên gạch khảo cổ Hoa Lư, thì dù đây là một khẳ năng vững chắc hiển nhiên, nhưng xét kĩ cũng không thật sự vững chắc. Lẽ nào Đinh Tiên Hoàng không biết đến nước Đại Việt ở Nam Trung hoa (như bác TrầnTD đã nêu trong chủ đề "ĐCV -Nước Phật giáo lớn" . Đặc biệt, do lí do tín ngưỡng, việc chọn quốc hiệu trùng với tên một nước _vừa bị diệt vong_ là điều khó xảy ra. Và, như ai cũng có thể nhanh chóng nhận ra, Đại Việt vốn là quốc hiệu mà cả ĐVSKTT và Tống sử đều nói là mãi về sau mới được Lí Thánh Tông đặt ra.

Cân nhắc này, và một giải thích vững chắc về lí do viết tắt Đại Cồ Việt thành Đại Việt trên gạch khảo cổ Hoa Lư sẽ cho phép tái khẳng định: Thời Đinh, Lê và thời gian đầu tiên của thời Lí, nước ta phải có quốc hiệu Đại Cồ/Cù Việt.

Cuối cùng, ANCL cũng có một vài chi tiết lí thú nữa, điều khiến nghĩ, nước Việt xưa biết đâu có thể có một quốc hiệu/tên nữa mà từ trước đến nay nó không được biết đến:

Trừ "Văn Lang" và tên nước gây tranh cãi Nam Việt, Vạn Xuân là tên nước đầu tiên được ghi lại trong sử sách. Về chuyện này, ANCL nói rằng Lý Bí "làm phản, ... tiếm hiệu, đặt quan, dựng đài Vạn-Xuân mà ở." (Nhân Vật, quyển đệ thập ngũ). Một câu đầy ý nghĩa, kể cả ý tưởng nước Vạn Xuân trong ĐVSL và ĐVSKTT trở thành _đài_ Vạn Xuân!

Không hẳn sai lầm hơn nhưng ở điểm này tác giả ANCL có thể thiếu hiểu biết so với tác giả hai sử phẩm vừa kể, về những tư liệu trong nước khiến hai sử phẩm kia nói đến nước Van Xuân. Mặt khác, _đài Vạn Xuân_ có thể có thật, và lịch sử thế giới có ghi nhận một vài trường hợp (mà gôcLê quên mất rồi! :-( ) tên thành trì xưa cũng là tên nước.

Do đó, có thể nói đến khả năng một tên nước của Mai Hắc Đế, thành lập vài thể kỉ sau đó.

ANCL, Chỉnh thảo Vận Hướng, quyển đệ tứ, ghi rằng, "... vào năm 713-714 ... Soái-trưởng Giao-Châu là Mai-Thúc-Loan làm phản, hiệu xưng là Hắc-Đế, ngoài thì kết giao với quân của Lâm-Ấp và Chân-Lạp, tập họp được 30 vạn quân sĩ, chiếm cứ nước An-nam. ... " Có thể hiểu tác giả có ý nói, Mai Thúc loan chiếm cứ và lập nước ở vùng mà vào thời tác giả, là nước An Nam ...

Những hiểu biết mới nhất về việc khởi nghĩa, lập nước, và một ý niệm về sự bề thế của nước này được trình bày trong bài khảo cứu của Gs Phan Huy Lê, [www.diendan.org] Theo bài này, tư liệu Việt nam cho biết Mai Thúc Loan có đắp thành Vạn An như kinh đô.

Theo nhiều nghĩa, "thành Vạn An" làm liên tưởng đến "đài Vạn Xuân ". Và nếu có một quốc hiệu Vạn Xuân thì có lẽ có thể nói, vài thế kỉ sau đó Mai Thúc Loan đã đặt tên cho nước ông lập ra là Vạn An.

Hiển nhiên đây chỉ là sự suy đoán cho đến khi có chứng liệu văn tự. Điều có thể cũng đáng suy nghĩ là, cả ba cái tên Vạn Xuân, Vạn An và Đại Cồ Việt đều có cùng một ý nghĩa về mơ ước bình an lâu dài, trường cữu, tất nhiên nếu Cồ = Cồ-đàm :-)

gôcLê

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: bacle (Moderator)
Date: April 15, 2009 12:44PM
Quote:
gôcLê
Nếu cho quốc hiệu này là Đại Việt, như gợi ý từ các viên gạch khảo cổ Hoa Lư, thì dù đây là một khả năng vững chắc hiển nhiên, nhưng xét kĩ cũng không thật sự vững chắc. Lẽ nào Đinh Tiên Hoàng không biết đến nước Đại Việt ở Nam Trung hoa (như bác TrầnTD đã nêu trong chủ đề "ĐCV -Nước Phật giáo lớn" . Đặc biệt, do lí do tín ngưỡng, việc chọn quốc hiệu trùng với tên một nước _vừa bị diệt vong_ là điều khó xảy ra. Và, như ai cũng có thể nhanh chóng nhận ra, Đại Việt vốn là quốc
hiệu mà cả ĐVSKTT và Tống sử đều nói là mãi về sau mới được Lí Thánh Tông đặt ra.

Quote:
Trần Trọng Dương
Đinh Bộ Lĩnh không đặt tên nước là “Nam Việt quốc” để tránh trùng tên nước của Việt Đà. Ông cũng không đặt tên nước là Đại Việt vì nó cũng trùng với quốc hiệu của Lý Thánh Tông. Ông này vốn tên là Lưu Long- em của Thanh Hải quân Tiết độ sứ Lưu Ổn đời Đường mạt, sau khi Lưu Long kế thừa chức nghiệp của anh, đã xưng đế vào năm 917 tại Quảng Châu, định quốc hiệu là “Đại Việt”, sau đổi thành “Hán”, sử sách gọi là “Nam Hán”. Nhưng năm 972, Nam Hán bị Tống tiêu diệt. Cho nên, Đinh Bộ Lĩnh đã tránh dùng lại quốc hiệu cũ của nước láng giềng đã bị tiêu diệt, và đặt tên nước là Đại Cồ Việt .

- Nếu "Đinh Bộ Lĩnh đã tránh dùng lại quốc hiệu cũ của nước láng giềng đã bị tiêu diệt", và "Đặc biệt, do lí do tín ngưỡng, việc chọn quốc hiệu trùng với tên một nước _vừa bị diệt vong_ là điều khó xảy ra", vậy thì tại sao Lý Nhật Tôn (Lý Thánh Tông) không tránh khi đặt quốc hiệu năm 1054?

- Theo wiki: "It was not until Liu Yin’s death in 917 that his brother, Liu Yan, declared the founding of a new kingdom, which he initially called "Great Yue", or "Great Viet" (大越) 919, but he changed the name to Great Han (大漢) next year. It was because his surname Liu () is imperial surname of Han dynasty and he claimed himself the descendant of imperial Han. The kingdom is often referred as “Southern Han Dynasty" throughout china's history.".

Với cái tên "Đại Việt" chỉ sử dụng trong một thời gian ngắn ngủi như vậy (có lẽ chưa tới 1 năm), rất hợp lý khi "Đinh Tiên Hoàng không biết đến nước Đại Việt ở Nam Trung hoa", mà chỉ biết đến bọn "Hán".

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: bacle (Moderator)
Date: April 15, 2009 01:16PM
Quote:
gôcLê
Như từng nói, Đọc Đại Việt Sử Lược (Nguyễn Gia Tường dịch, 1972), ta
có thể thấy rằng, tác phẩm này (nhưng không chắc là chính tác giả của nó) nói chung có cái nhìn về nước ta rất hợp với nhãn quan "thiên triều". Hầu như nó chỉ đề cập đến nước ta như quận, huyện, và khi "nhà Tống gọi nước Việt ta là nước An Nam, vua là quốc vương (theo ĐVSL là năm 1174)", nó mới cho là "quốc hiệu được lập bắt đầu từ đó."

Cái điều lạ là ta thấy ĐVSL và ANCL đều có lối viết rất hợp với nhãn quan "thiên triều". ANCL thì ta biết rõ vì Lê Tắc đầu hàng theo nhà Nguyên và sau đó viết ANCL. Nhưng ĐVSL thì sao, không ai biết rõ tác giả? ĐVSL và ĐVSKTT đều dựa vào sử của Lê Văn Hưu nhưng tại sao lại có lối viết khác nhau? Chỉ có cách giải thích là phải chăng khi ĐVSL và ANCL được chép vào Tứ Khố Toàn Thư, bàn tay lông lá của sử quan "thiên triều" đã có "ngọ ngoạy" gì đó để sửa chữa nguyên tác?

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: bí bếp (198.238.52.---)
Date: April 15, 2009 02:05PM
Quote:
bacle

- Theo wiki: "It was not until Liu Yin’s death in 917 that his brother, Liu Yan, declared the founding of a new kingdom, which he initially called "Great Yue", or "Great Viet" (大越) 919, but he changed the name to Great Han (大漢) next year. It was because his surname Liu () is imperial surname of Han dynasty and he claimed himself the descendant of imperial Han. The kingdom is often referred as “Southern Han Dynasty" throughout china's history.".

Với cái tên "Đại Việt" chỉ sử dụng trong một thời gian ngắn ngủi như vậy (có lẽ chưa tới 1 năm), rất hợp lý khi "Đinh Tiên Hoàng không biết đến nước Đại Việt ở Nam Trung hoa", mà chỉ biết đến bọn "Hán".

Phần tiếng Anh bác trích từ Wiki đã được dịch sang tiếng Việt như sau:

"Lưu Ẩn mất năm 911, em trai là Lưu Nghiễm lên thay. Tới năm 917 Nghiễm tuyên bố thành lập một vương quốc mới, ban đầu gọi là Đại Việt (大越), nhưng chỉ qua năm sau đổi tên thành Đại Hán (大漢 - 918). Vì họ của ông là Lưu là họ của nhà Hán và ông tự tuyên bố là hậu duệ nhà Hán. Vương quốc này thường được sử Trung Hoa gọi là Nam Hán để phân biệt với nước Bắc Hán của Lưu Sùng (951-979) cũng trong thời Ngũ Đại."

Đây là một giai đoạn khá quan trọng trong việc nước Việt Nam được thành hình. Chúng ta đều biết Việt Nam thuộc nhà Đường qua tên gọi An Nam trước khi họ đổi tên thành Tĩnh Hải. Sau khi nhà Đường bị suy tàn, Trung Hoa đã chia năm, xẻ bảy và ở phía nam Lưu Nghiễm mới man quân sang đánh chiếm Tĩnh Hải vào năm 930. Dĩ nhiên sau đó Dương Đình Nghệ (một trong những sứ quân khởi binh từ Thanh Hoá) đánh đuổi được quân của thứ sử Tĩnh Hải là Lý Tiến và ổn định được khu vực cho đến năm 938 Ngô Quyền phá được quân Nam Hán do thái tử Hoằng Tháo (con của Lưu Cung) ở sông Bạch Đằng mà mở đầu cho giai đoạn độc lập của nước ta.

Điều đáng chú ý là ở xứ ta thời đó (Tĩnh Hải 905-938) đã có 5 Tiết Độ Sứ (Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, Lý Tiến, Dương Đình Nghệ, và Kiều Công Tiễn); Ngô Quyền dưới danh nghĩa khôi phục (trả thù) cho Dương Đình Nghệ mà trừ Kiều Công Tiễn (kẻ phản chúa), giữ được giải đất An Nam mà đặt tên nước là Đại Cồ Việt (大瞿越).

Sau khi Triệu Khuông Dẫn thống nhất được Trung Hoa, lập nhà Tống vào năm 960 thì việc chiếm lại các vùng đất cũ (gồm cả Giao Chỉ) vẫn là một trong những nổ lực trọng yếu của họ. Đến năm 980, vua Tống mới xuống chỉ phái Hầu Nhân Bảo kéo hai đạo quân thủy bộ sang tái chiếm nước ta lần thứ nhất. Ở Việt Nam, Lê Hoàn đã nắm quyền chỉ huy quân ta tập tích và giết được Hầu Nhân Bảo ở trận Bạch Đằng (lần thứ hai) vào tháng 4/981 sau đóvà kéo dài cho đến đời Lý thì biên giới Việt-Hoa đã được phân giải rõ ràng sau lần tấn công bất thành của quân Nam Tống từ năm năm 1076 (nhờ công của thống soái Lý Thường Kiệt).

Tóm tắc, tên Đại Cồ Việt (大瞿越) đã thế tên An Nam (Tĩnh Hải) từ thời nhà Đinh, tiền Lê, và sang nhà Lý cho đến đời Lý Thánh Tôn tên nước mới gọi tắc là Đại Việt. smiling smiley

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: bac le (63.81.51.---)
Date: April 15, 2009 03:00PM
Kính bác bí bếp,

Cái chủ đề này đầu tiên phát xuất từ bên diễn đàn Nôm, nay bác gôcLê bưng qua đây để thỉnh ý các bác nào không theo dõi diễn đàn "Nôm".

Một trong những vấn đề đã đưa ra là chuyện "cục gạch":

- Trong cuộc khai quật Hoa Lư 1997, các nhà khảo cổ đã tìm được nhiều viên gạch có chữ "Đại Việt Quốc Quân Thành Chuyên".

- Câu hỏi đưa ra là tại sao tên nước là "Đại Cồ Việt", mà vật chứng là cục gạch xây thành Hoa Lư lại chỉ có tên "Đại Việt". Phải chăng ngay từ thời Đinh, quốc hiệu nước vẫn là "Đại Việt", tên "Đại Cồ Việt" chỉ là do Ngô Sĩ Liên sau này đưa ra trong cuốn ĐVSKTT theo truyền khẩu dân gian (ý kiến của TS khảo cổ Nguyễn Thị Hậu).

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: gôcLê (---.onlinemartin.org)
Date: April 15, 2009 11:25PM
Quote:

Với cái tên "Đại Việt" chỉ sử dụng trong một thời gian ngắn ngủi như vậy (có lẽ chưa tới 1 năm), rất hợp lý khi "Đinh Tiên Hoàng không biết đến nước Đại Việt ở Nam Trung hoa", mà chỉ biết đến bọn "Hán".

Ơ.. ơ...
Tin lành đầu tiên và tin dữ cuối cùng được đẩy đi với vận tốc ánh sáng.
Tin giữa nủa ngô nửa khoai vô tai này ra tai kia, dzí lại các bác thợ IT lúc đó chắc cho nó đi như rùa, để sức máy tính làm chuyện khác. :-)

Mà thôi. Cho các viên gạch thêm .9kg nữa!

:-)

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: HưuVinh (---.itri.org.tw)
Date: April 16, 2009 06:24PM
Quote:
bacle
Nhưng ĐVSL thì sao,
không ai biết rõ tác giả? ĐVSL và ĐVSKTT
đều dựa vào sử của Lê Văn Hưu nhưng
tại sao lại có lối viết khác nhau?
Chỉ có cách giải thích là phải chăng
khi ĐVSL và ANCL được chép vào Tứ Khố
Toàn Thư, bàn tay lông lá của sử quan
"thiên triều" đã có "ngọ ngoạy" gì đó
để sửa chữa nguyên tác?
DVSL bị quân của Vương Thông, Trương Phụ ăn cướp đem về Tàu, cất ở Sơn Đông, và nằm ngủ yên ở đó mấy trăm năm, sau được dâng lên cho Càn Long để ở Tứ Khố Toàn Thư. Đầu thế kỷ 20, vua quan nhà Thanh, chính tay Tôn Sĩ Nghị cũng là một người làm việc gọi là "khảo đính" trưóoc khi đem quân xâm lược VN, cho đem xuất bản kiếm tiền. Khi làm việc khảo đi'nh này quan nhà Thanh ngạo mạn đã bỏ chữ Đại trước chữ Đại Việt thành "Việt Sử Lược" mà thôi. Sở dĩ bây giờ ở Viêtnam ta còn mang tên là Đai Việt Sử Luợc là do GS Chen Ching Ho (Trần Kinh Hoà) hieu đính,so sánh các dị bản, nghiên cứu và trả lại tên Đại Việt cho cuốn sách sử biên niên đầu tiên trong lịch sử VN. Ngoài chữ Đại bị các quan nhà Thanh bỏ (delete) đi, các chữ khác như Đế, Hoàng bị sửa thành Vương. Chữ Hoàng hậu bị sửa trở thành Vương hậu...
Sử về Vietnam hay là sử sách VN có thể nói là đã bị các quan Tàu méo mó theo nhãn quan của quan dân "thien triều" ca?. Điều này thấy rõ ràng trong bài tựa của sách ĐẠi Việt Sử Lược cho Chen ching Ho khảo đi'nh và xuất bản tại Tokyo, Japan, năm 1975

HưuVinh

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: Đinh Tuấn (123.22.77.---)
Date: April 16, 2009 06:45PM
Theo Tống sử và ĐVSKTT thì rõ ràng vào đời Lý Thánh Tông ( Nhật Tôn xưng đế )mới bắt đầu có quốc hiệu là " Đại Việt " nhưng oái ăm ở chỗ lại có viên gạch Hoa Lư cũng mang tên " Đại Việt " ! Giải thích sao đây mới thoả đáng ?
1- Gạch " Đại Việt " Hoa Lư không thuộc niên đại thời Đinh , Tiền Lê - Cuối thế kỷ X - Cần phải giám định lại niên đại chính xác - Nếu không phải thời Đinh thì quốc hiệu Đại Việt là của thời Lý , nếu đúng là thời Đinh , thì sự kiện đời Lý Thánh Tông có quốc hiệu Đại Việt cần phaỉ xét lại về giá trị sự thật lịch sử qua TS và ĐVSKTT , theo tôi suy luận có thể Thoát Thoát- soạn giả TS- chỉ làm cái việc khách quan ghi chép theo sử liệu Tống - Nguyên về Lý Nhật Tôn xưng đế ( Chứ không phải Lý Công Uẩn ) khởi nghiệp nhà Lý và lúc bấy giờ người Việt vẫn thường gọi tên nước là Đại Việt - chắc hẳn ông không hề biết thời Đinh, Tiền Lê từng gọi tên nước là Đại Việt như viên gạch Hoa Lư đã chứng minh - Đến Ngô Sĩ Liên - soạn giả ĐVSKTT - dựa vào TS để ghi chép Lý Thánh Tông đặt quốc hiệu là Đại Việt - ông cũng chẳng biết như Thoát Thoát : thời Đinh, Tiền Lê từng gọi tên nước là Đại Việt như viên gạch Hoa Lư đã chứng minh- Dĩ nhiên nếu các ông đã biết thì chăc hẳn không ghi chép thời Lý có quốc hiệu là Đại Việt .
2- Nếu thục sự thời Đinh đã từng dùng quốc hiệu là Đại Việt thì cũng là một chứng cứ quan trọng phủ nhận sự kiện trong ĐVSKTT khi viết nhà Đinh đặt quốc hiệu là ĐẠI CÙ VIỆT , cùng với các tài liệu khác đời Trần ( ĐVSL, ANCL, LNTQ, VĐUL , TUTA ) cũng không ghi chép gì về danh xưng nước Đại Cù Việt đã dẫn đến hệ luận : Ngô Sĩ Liên vâng ý lệnh Vua Lê Thánh Tông đã tạo ra một quốc hiệu đầu tiên của một triều đại chính thống đầu tiên trong bản kỷ là nhà Đinh như là một " tất yếu " dù trước đó trong sử liệu, truyền tích không hề ghi chép gì về quốc hiệu nhà Đinh !
3- Như vậy rất có khả năng : Từ Đinh, Tiền Lê, Lý , Trần, Lê không có một triều đại nào chính thức đặt tên nước là Đại Việt , khoảng thời kỳ này người Việt vẫn dùng các tên gọi nước nhà như " Việt " , " Cự Việt ", " Đại Việt " hay " Giao Chỉ", " An Nam "...trong đó danh xưng ĐẠI VIỆT chiếm ưu thế hơn vì thoả mãn tự tôn dân tộc, ngang hàng với ĐẠI TỐNG . Sự kiện nhà Đinh đặt quốc hiệu là Đại Cù Việt và nhà Lý đặt quốc hiệu là Đại Việt là một " Hư cấu " từ quan điểm viết sử của Ngô Sĩ Liên - theo lệnh vua Lê Thánh Tông -
Dĩ nhiên đây là một lập luận mang tính giả định, cần phải được tìm hiểu sâu rộng hơn để tiến đến một kết quả khoa học, giá trị lịch sử...

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: Tích Dã (123.18.138.---)
Date: April 16, 2009 11:45PM
旧唐书



地理


剑南道东西道九 岭南道五管十

剑南道

平道 汉封溪县地南齐置昌国县。《南越志》:交趾之地最为膏腴旧有君长曰雄王其佐曰雄侯后蜀王将兵三万讨雄王灭之蜀以其子为安阳王治交趾其国地在今平道县东其城九重周九里士庶蕃阜尉佗在番禺遣兵攻之王有神弩一发杀越军万人赵佗乃与之和仍以其子始为质安阳王以媚珠妻之子始得弩毁之越兵至乃杀安阳王兼其地武德四年于县置道州领平道昌国武平三县六年改为南道州又改为仙州贞观十年废仙州以昌国入平道属交州

峰州下 隋交趾郡之嘉宁县武德四年置峰州领嘉宁新昌安仁竹辂石堤封溪六县贞观元年废石堤封溪入嘉宁竹辂入新昌天宝元年改为承化郡乾元元年复为峰州也旧领县三户五千四百四十四口六千四百三十五天宝领县五户一千九百二十州在安南府西北至京师七千七百一十里

嘉宁 州所治汉赩泠县地属交趾郡古文朗夷之地秦属象郡吴分交趾置新兴郡晋改为新昌齐因之改为兴州隋初改为峰州炀帝废并入交趾武德复置峰州也


[www.guoxue.com]

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: HưuVinh (---.itri.org.tw)
Date: April 17, 2009 01:37AM
...嘉宁 州所治汉赩泠县地属交趾郡古文朗夷之地
Xin bác Tích Dã search xem trong Tống sử còn có chỗ nào nói đến nước Văn Lang

Xin Cám ơn

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: gôcLê (---.mathwizard.org)
Date: April 17, 2009 01:30PM
Quote:

Tại sao tên nước là "Đại Cồ Việt", mà vật chứng là cục gạch xây thành Hoa Lư lại chỉ có tên "Đại Việt". Phải chăng ngay từ thời Đinh, quốc hiệu nước vẫn là "Đại Việt", tên "Đại Cồ Việt" chỉ là do Ngô Sĩ Liên sau này đưa ra trong cuốn ĐVSKTT theo truyền khẩu dân gian (ý kiến của TS khảo cổ Nguyễn Thị Hậu)

gôcLê đang rối rắm đầu óc :-), nhưng ráng thử trình bày vấn đề đem đến từ các viên gạch DVQQTC Hoa Lư , mà theo đồng thuận hiện nay là thuộc thế kỉ X, để xem sự suy lí dẫn mình đến đâu. Xin các bác (nhất là "bác" Hậu, :-) Đinh Tuấn, hãy góp ý cho nếu thấy không đúng.

Thuyết "khảo cổ": các viên gạch ĐVQQTC Hoa Lư "chứng minh" (như bác ĐT nói) quốc hiệu từ thời Đinh& Lê là Đại Việt.

Vấn đề hiển nhiên là, theo Toàn Thư (TT) Đại Việt chỉ là quốc hiệu kể từ Lí Thánh Tông trở đi, còn trước đó là Đại Cồ Việt.

Câu trả lời là, (1.) TT ghi theo tên dân gian, với "Cồ" là chữ nôm, nghĩa là to lớn, giải nghĩa chữ Hán "Đại".
(2.) Quốc hiệu "Đại Việt" mà Lí Thánh Tông đặt ra thực chất chỉ là khẳng định lại quốc hiệu chính thức.

Câu trả lời này có sức mạnh hiển nhiên, và thoạt nhìn, do điểm (2), nó chỉ đòi hỏi nơi hiểu biết công ước một chút điều chỉnh.

Nhưng câu trả lời này gặp những vấn đề như sau.

1a. không có chứng cứ văn tự cho thấy có chữ Nôm cồ = lớn. (ĐT et al.)

1b. DVSKTT không có chú giải "Cồ" là tiếng Nôm, phương ngôn của Đại -khác với trường hợp vài phương ngôn khác (ĐT)

1c. Không tìm thấy một từ cổ tiền Việt-Mường có âm tương tự "Cồ" với nghĩa to, lớn (gôcLê). Điểm này không có gì chắc chắn, nhưng 1a và 1b hỗ trợ, làm gia tăng sức nặng cho nó.

2. Không có chứng liệu truyền khẩu hay thành văn nói đến quốc hiệu "nôm na hóa" Đại Cồ Việt, trừ TT.

Cái tên "nôm na" này hẳn phải trở nên cực kì quen thuộc với dân chúng trong một thời gian khá ngắn từ Đinh Tiên Hoàng đến Lí Thánh Tông, khiến ông vua này phải khẳng định lại quốc hiệu chính thức.

Nhưng nếu nó quen thuộc, gần gũi như thế, tại sao không còn lại dấu tích của nó trong truyền tụng dân gian v.v.?

Điểm (2) của thuyết "khảo cổ", như thế, không phải là không có vấn đề.

3. Cũng đáng lưu ý là câu trả lời của thuyết "khảo cổ" có thể hàm chứa một khả năng TT không biết đến bất kì tư liệu nào có nhắc đến quốc hiệu _chính thức_ Đại Việt thời Đinh-Lê. Nói chung sự thiếu vắng này có thể hiểu được ở truyện tích dân gian (và ĐVSL, ANCL). (* ) Nhưng không lẽ quốc hiệu có mà không được ghi lại trong một sử phẩm như Đại Việt Sử Kí ?

Theo đó không có nhiều khả năng tác giả TT không biết Đại Việt là quốc hiệu chính thức từ thời Đinh Lê. Nhưng nếu biết thế, tại sao ông sửa đổi lịch sử mà không làm một việc đơn giản hơn nhiều: rằng Đại Việt mới đúng, còn ĐCV chỉ là cái tên sai lạc, do dân chúng truyền tụng mà thôi?

-----
Theo trình bày như vậy, nếu thuyết "khảo cổ" không hoặc chưa trả lời được những vấn đề nêu trên, thì kết luận rõ ràng không đi đến mức phảiđặt vấn đề và suy đoán ở mức độ của bác Đinh Tuấn. :-)

Kết luận chỉ có thể là,các viên gạch Hoa Lư có ghi "Đại Việt quốc" chưa, hoặc không có đủ sức mạnh chứng minh rằng Đại Việt là quốc hiệu ngay từ thời Đinh Lê!

gôcLê

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: nguye^~n Cung Thông (---.static.dsl.dodo.com.au)
Date: April 17, 2009 04:44PM
Bác gôcLê kính
Rất thích cách suy nghĩ của bạn, xin được gợi ý và thêm vào email bên trên qua ít nhất 3 (ba) gốc độ

1. Quốc hiệu chính thức - chữ Hán là hệ thống chữ viết chính thức mà đa số dân chúng (Việt) không ai đọc được - trừ thiểu số Nho học. TQ luôn luôn có khuynh hướng không chấp nhận (điều này dễ hiểu và phản ánh qua sự vắng mặt trong các tài liệu phong phú bên TQ)(A). Vì là chính thức nên thường có văn bản (chữ viết, khuôn gạch ...)

2. Quốc hiệu bán chính thức - dùng trong nước (Việt) để 'giáo dục' quần chúng - hỗn hợp của chữ Hán và chư~/ngôn ngữ địa phương

3. Quốc hiệu dân dã - đa số dân trong nước dùng : đơn giản dễ hiểu. Nhiều khi dân lo làm ăn sinh sống và ít quan tâm đến tên nước (chỉ khi loạn lạc hay tranh chấp chủ quyền ...). Vì là dân dã nên thường là truyền khẩu và đa dạng (cool smiley

Từ 3 lăng kính này - có thể quốc hiệu chính thức của thời Đinh Lý là Đại Việt, bán chính thức là Đại Cồ Việt và dân dã là Cồ Việt, Cự Việt ...
Hiện nay tên chính thức là Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam so với các cách dùng khác như Việt Nam ... và đơn giản hơn là nước Việt

Vài ý mọn cùng đóng góp

(A) điều này giải thích lý do TT lại dùng Đại Cồ Việt, giải thích được cách dùng Cự Việt trên bia ...v.v...
(cool smiley Từ góc độ ngôn ngữ, nếu xem cách gọi tên nước chính thức là chính thống (chuẩn mực) thì các dạng khác hơn có thể được coi như là những triệu chứng tâm lý ngôn ngữ (hay tật, hội chứng) mà tôi đã có lần gọi là 'lỗi lầm Freud' (Freudian slip). Các dạng này đều cho nhiều thông tin lý thú về văn hoá, tư duy con người ... của thời đó

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: Đinh Tuấn (---.vnn.vn)
Date: April 17, 2009 07:02PM
Một chi tiết quan trọng là trong Toàn Thư, khi ghi chép quốc hiệu nhà Đinh là Đại Cù Việt 大瞿越, xét về Hán Văn , có thể hiểu theo ý nghĩa của Cù như là tên họ, danh xưng Cù Đàm, vũ khí cổ,( hay thông giả : con đường thông tứ phương) cũng khiến người biết Hán văn phải " Gãi đầu phân vân " không biết nên hiểu theo nghĩa nào và khi xét theo kết cấu : Hán+Nôm là " Đại Cồ " + Việt hay Nôm+ Hán là Đại+" Cồ Việt " là một sự bất thường trong toàn văn chữ Hán sẽ gây " sốc " và chắc chắn Ngô Sĩ Liên sẽ phải chú giải tường tận về chữ Nôm Cồ này , phương ngôn gọi là " Cồ " theo nghĩa là lớn như đã từng chú giải về chữ Vũ Cát ( Cát phương ngôn gọi là Cứt ) và nếu có sự đột biến xuất hiện chữ Nôm : Trên đại dưới cù ( Theo Nguyễn Anh Huy ) lại càng rất cần dến lời chú giải rõ ràng nhưng như ta đã biết, không hề có một chú giải nào về sự có mặt của chữ Nôm bất thường trong Hán văn điều này khẳng định 大瞿越 không có chữ Nôm nào dù là Hán giả tá " Cồ " hay hình thanh, hội ý . Đừng vội lấy cớ là Ngô sĩ liên sơ xuất không chú giải vì như vậy là nguỵ biện, NSL là một sử gia rất thận trọng hơn nữa vua Lê Thánh Tông không thể làm ngơ chuyện này đâu vì ông nổi tiếng về thơ Nôm ! Càng khẳng định, tôn vinh chữ Nôm Cồ có từ thời Đinh và buộc phải chú giải cho mọi người biết - Ngay Toàn Thư cũng đã ghi chép quốc âm chỉ có vào thời Nguyễn Thuyên thuộc nhà Trần - Do đó khi viện vào lý lẽ cho là Đại Cồ Việt là do dân gian đọc theo kiểu " giả cầy " là một sự phi lý, không có bằng chứng gì hết và cũng không thể tự ý sửa quốc hiệu " Đại Việt " vì chữ "Đại: lớn quá dễ hiểu với người biết chữ Hán " lõm bõm " chẳng bao giờ có chuyện ngớ ngẩn , giải thích một chữ " Đại " ai cũng biết để đọc là " Cồ " thành " Đại Cồ Việt " ! Xét tới xét lui, không có gì chứng minh thời nhà Đinh có quốc hiệu " giả cầy " là Đại Cồ Việt hay Cồ Việt .
Ngô Sĩ Liên có thể , qua sử sách, truyền tích không thấy ghi chép nhà Đinh từng đặt quốc hiệu gì ( kể cả viên gạch Hoa Lư ) nhưng với quan điểm sử học đại diện nhà Lê , khi đặt nhà Đinh vào kỷ dầu tiên của bản kỷ , xác nhận triều Đinh là một triều đại chính thống đầu tiên trong lịch sử dân tộc thì tất yếu phải có quốc hiệu và cuối cùng 大瞿越 ra đời theo ý muốn của vua quan nhà Lê , quốc hiệu sẽ chỉ mang ý nghĩa Hán văn, chính trị xã hội theo lý tưởng Nho giáo mà thôi - Xin nhấn mạnh : Không theo khuynh hướng Phật giáo, không có chữ Nôm " Cồ = lớn " xen kẽ -
Sự thật có thể là cả nhà Đinh đến Lý và sau đó , không có triều đại nào đặt quốc hiệu chính thức hết ( Đại Cù Việt , Đại Việt ) nhưng chỉ dùng lẫn lộn các tên gọi nước như Việt, Đại Việt, Cự Việt và trong dó " Đại Việt " được đa số đặc biệt thích dùng vì giống với nước " Đại Tống " . Nhưng nếu viên gạch Hoa Lư có chữ Đại Việt sau khi giám dịnh lại nó không thuộc thế kỷ nhà Đinh nhưng thuộc về nhà Lý, suy luận lại phải theo hướng khác: Nhà Lý Thánh Tông là tác giả của quốc hiệu Đại Việt chứ không phải nhà Đinh là tác giả, và không có bất cứ bằng chứng nào ( chữ viết từ sách, di vật khảo cổ ) cho biết nhà Đinh từng đặt quốc hiệu là Đại Việt hay Đại Cù Việt, do đó cuối cùng cũng dẫn đến hệ quả : Quốc hiệu 大瞿越 là sáng tạo của vua quan nhà Lê !

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: Tích Dã (---)
Date: April 17, 2009 07:04PM
通典

州郡


古南越

自岭而南当唐三代为蛮夷之国是百越之地亦谓之南越或云南越之君亦夏禹之后按瓯越闽越禹后少康之庶子所封之地即南越非其种也故舆地志云东南有二越其义详矣或曰自交趾至于会稽七八千里百越杂处各有种姓故不得尽云少康之后古谓之雕题谓雕题刻其额也礼记王制曰:“南方曰雕题。”非禹贡九州之域又非周礼职方之限晋书隋书并谓交广之地为禹贡扬州之域今稽其封略考其镇薮则禹贡职方皆不及此故列于九州之外在天文牵牛婺女则越之分野谓汉之苍梧郁林合浦交趾九 真南海日南皆其分也

峰州今理嘉宁县古文朗国有文朗水亦陆梁地秦属象郡二汉属交趾郡吴分置新兴郡晋武改为新昌郡宋齐因之陈兼置兴卅隋平陈郡废改为峰州炀帝初州废并入交趾郡大唐复置峰州或为承化郡领县五

嘉宁

承化

新昌并汉麊泠县地麊音麋

嵩山

珠绿

岭南蛮獠

极南之人雕题交趾其俗男女同川而浴额也雕谓刻其肌以丹青涅之也交趾谓足大趾开阔并立相交其西有啖人国生首子辄解而食之谓之宜弟味旨则以遗其君而赏其父娶妻妾美皆让其兄乌浒人是也乌浒地在今南海郡之西南安南府之北朗宁郡管

  交趾之南有越裳国周公居摄六年天下和平越裳以重译而献白雉周德既衰于是稍绝及楚子称霸朝贡百越

  秦始皇平天下开岭外置南海今南海始兴义宁海丰恩平南陵临贺高要感义晋康临封开阳高凉连城新兴铜陵怀德潮阳等郡地皆是桂林今始安平乐蒙山开江苍梧浔江临江郁林平琴安城贺水常林象郡龙城融水朗宁怀泽宁仁宁浦横山脩德龙池永定等郡地皆是象郡今招义南潘普宁陵水南昌定川宁越安南武峨龙水忻城九真福禄文阳日南承化玉山合浦安乐海康温水汤泉等郡皆是至胡亥时南海尉任嚣病且死召南海龙川令真定人赵佗语曰汉真定今常山郡汉龙川今海丰郡。 “中国扰乱未知所安番禺今南海郡负山险阻倚也南北东西数千里可以为国郡中长吏无足与言故召公告之。”即被佗书行南海尉事加也嚣死佗即绝秦所开新道聚兵自守秦已灭佗即击并桂林象郡自立为南越武王

  汉已定天下为中国劳苦故释佗不诛遣陆贾立佗为南越王高后时佗乃自称为南越武帝发兵攻长沙边邑败数县而去今长沙衡阳等郡以兵威财物赂遗闽越即今闽川西瓯骆越役属焉西瓯即骆越也言西者以别东瓯耳今南海郡西南怀泽等郡东西万余里南北数千里及孝文帝初立镇抚天下乃为佗亲在真定置守邑岁时奉祠召其从昆季尊官厚赐宠之诏陆贾使往谕之贾至南越王上书谢愿为藩臣奉职贡


_______________


Thông điển

Châu quận


Nam Việt cũ

Từ Lĩnh về phía nam, cùng thời Đường, Ngu, Tam Đại [Hạ, Thương, Chu] là nước Man Di, là đất Bách Việt, cũng nói là Nam Việt, hoặc nói là quân trưởng Nam Việt, cũng là hậu duệ của Hạ Vũ. Xét Âu Việt, Mân Việt, là đất phong của con thứ của Thiếu Khang cuối thời nhà Hạ. Tức Nam Việt, không giống chủng với họ [hậu duệ của Hạ Vũ] vậy. Cho nên Dư địa chí nói phía đông nam có hai nước Việt, việc này rõ rồi. Có người nói từ Giao Chỉ đến Hội Kê bảy, tám nghìn dặm, Bách Việt xen lẫn, đều có chủng họ, cho nên không phải hết thảy đều là hậu duệ của Thiếu Khang. Xưa nói là Điêu Đề, nói Điêu Đề là họ khắc trán vậy. Lễ kí Vương chế nói: "Phương nam gọi là Điêu Đề". Không thuộc đất của chín châu Vũ cống, lại không phải là nước chức phương ở chỗ giới hạn theo lễ của nhà Chu. Tấn thư, Tùy thư đều nói đất Giao Quảng là đất Dương Châu Vũ cống. Nay xem xét phong tục, địa vực đất này, hết thảy đất này xa xôi, thì Vũ cống, Chức phương đều không nói tới đây, cho nên xếp đất này ở ngoài chín châu. Tại thiên văn, Khiên Ngưu, Vụ Nữ thì chia đất Việt ở ngoài chỗ giới hạn, là Thương Ngô, Úc Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam thời Hán, đều là chia ra từ đất này vậy.

Phong Châu nay sửa lại huyện Gia Ninh. Nước Văn Lang xưa, có sông Văn Lang, cũng là đất Lục Lương [đất cao, gồ ghề, người ở đất này tính hùng hổ]. Thuộc Tượng Quận thời Tần. Thuộc quận Giao Chỉ thời hai nhà Hán [Tây Hán, Đông Hán]. Nhà Ngô chia đặt quận Tân Xương. Vũ Đế nhà Tấn đổi là quận Tân Xương, nhà Tống, nhà Tề theo đó. Nhà Trần gộp lại đặt Hưng Tạp. Nhà Tùy dẹp nhà Trần, bỏ quận, đổi là Phong Châu, đầu thời Dương Đế bỏ châu, gộp vào quận Giao Chỉ. Nhà Đại Đường trở lại đặt Phong Châu, hoặc là quận Thừa Hóa. Lĩnh năm huyện:

Gia Ninh

Thừa Hóa

Tân Xương lấy từ đất huyện Mi Linh thời Hán. Mi âm Mi.

Tung Sơn

Chu Lục

Man Lão ở Lĩnh Nam

Tần Thủy Hoàng dẹp yên thiên hạ, chiếm Lĩnh Ngoại, đặt Nam Hải,
... Đến thời Hồ Hợi, Nam Hải Úy Nhậm Hiêu bệnh sắp chết, gọi Nam Hải Long Xuyên Lệnh Triệu Đà bàn nói: Chân Định thời Hán nay là quận Thường Sơn, Long Xuyên thời Hán nay là quận Hải Phong. "Trung Quốc nhiễu loạn, chưa biết lúc nào yên. Phiên Ngu nay quận Nam Hải dựa vào núi hiểm trở, ... Nam bắc đông tây vài nghìn dặm, có thể làm nước. Trưởng lại trong quận không đủ cùng bàn bạc, cho nên gọi ông đến nói". Liền đưa sổ sách cho Đà, làm việc Nam Hải Úy... Hiêu chết, Đà liền cắt đứt con đường mới của nhà Tần, tụ binh tự giữ. Nhà Tần đã diệt, Đà liền chiếm cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.

Nhà Hán đã dẹp yên thiên hạ, vì Trung Quốc khổ sở, cho nên tha cho Đà không đánh, sai Lục Giả lập Đà làm Nam Việt Vương. Thời Cao Hậu, Đà bèn tự xưng Nam Việt Vũ Đế, phát binh đánh biên ấp Trường Sa, đánh bại vài huyện rồi bỏ đi. Nay quận Trường Sa, Hành Sơn. Đem binh uy, tiền của cấp cho Mân Việt, tức là Mân Châu ngày nay. Tây Âu Lạc Việt dịch thuộc, Tây Âu tức là Lạc Việt vậy, nói là Tây để phân biệt với Đông Âu vậy. Nay là các quận phía tây nam quận Nam Hải. Đông tây hơn vạn dặm, năm bắc vài nghìn dặm...


[mindifthesea.bokee.com]

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: Tích Dã (---)
Date: April 17, 2009 07:35PM
旧唐书



地理


剑南道东西道九 岭南道五管十

剑南道

平道 汉封溪县地南齐置昌国县。《南越志》:交趾之地最为膏腴旧有君长曰雄王其佐曰雄侯后蜀王将兵三万讨雄王灭之蜀以其子为安阳王治交趾其国地在今平道县东其城九重周九里士庶蕃阜尉佗在番禺遣兵攻之王有神弩一发杀越军万人赵佗乃与之和仍以其子始为质安阳王以媚珠妻之子始得弩毁之越兵至乃杀安阳王兼其地武德四年于县置道州领平道昌国武平三县六年改为南道州又改为仙州贞观十年废仙州以昌国入平道属交州

峰州下 隋交趾郡之嘉宁县武德四年置峰州领嘉宁新昌安仁竹辂石堤封溪六县贞观元年废石堤封溪入嘉宁竹辂入新昌天宝元年改为承化郡乾元元年复为峰州也旧领县三户五千四百四十四口六千四百三十五天宝领县五户一千九百二十州在安南府西北至京师七千七百一十里

嘉宁 州所治汉赩泠县地属交趾郡古文朗夷之地秦属象郡吴分交趾置新兴郡晋改为新昌齐因之改为兴州隋初改为峰州炀帝废并入交趾武德复置峰州也

__________________


Cựu Đường thư

Chí

Địa lí


Kiếm Nam Đạo

Bình Đạo, đất huyện Phong Khê thời Hán, nhà Nam Tề đặt huyện Xương Quốc. "Nam Việt chí": Đất Giao Chỉ, nhất là phì nhiêu. Ngày trước có quân trưởng gọi là Hùng Vương, phụ tá của ông ta gọi là Hùng Hầu. Sau Thục Vương đem binh ba vạn đánh Hùng Vương, diệt. Thục lấy con mình làm An Dương Vương, trị Giao Chỉ. Đất của nước này, nay ở phía đông huyện Bình Đạo. Thành này chín tầng, vòng quanh chín dặm, sĩ dân đông đúc. Úy Đà ở Phiên Ngu, sai binh đến đánh. Vương có nỏ thần, một phát giết quân Việt vạn người, Triệu Đà bèn cùng hòa giải, rồi lấy con mình là Thủy làm con tin. An Dương Vương lấy Mị Châu gả cho, Thủy lấy được nỏ, phá đi. Quân Việt đến, bèn giết An Dương Vương, chiếm lấy đất này. Năm thứ tư niên hiệu Vũ Đức đặt Đạo Châu, lĩnh ba huyện Bình Đạo, Xương Quốc, Vũ Bình. Năm thứ sáu, đổi làm Nam Đạo Châu, lại đổi làm Tiên Châu. Năm thứ mười niên hiệu Trinh Quán bỏ Tiên Châu, lấy Xương Quốc nhập vào Bình Đạo, thuộc Giao Châu.

Phong Châu Hạ, huyện Gia Ninh của quận Giao Chỉ thời Tùy. Năm thứ tư niên hiệu Vũ Đức, đặt Phong Châu, lĩnh sáu huyện Gia Ninh, Tân Xương, An Nhân, Trúc Lộ, Thạch Đê, Phong Khê. Năm đầu niên hiệu Trinh Quán, bỏ Thạch Đê, Phong Khê nhập vào Gia Ninh, Trúc Lộ nhập vào Tân Xương. Năm đầu niên hiệu Thiên Bảo, đổi làm quận Thừa Hóa. Năm đầu hiên hiệu Càn Nguyên, lại làm Phong Châu vậy. Ngày trước lĩnh ba huyện, năm nghìn bốn trăm bốn mươi bốn, sáu nghìn bốn trăm ba mươi lăm người. Niên hiệu Thiên Bảo lĩnh năm huyện, một nghìn chín trăm hai mươi hộ. Châu ở phía tây bắc An Nam Phủ, đến kinh sư bảy nghìn bảy trăm mười dặm.

Gia Ninh, sở trị của châu. Đất huyện Hách Linh thời Hán, thuộc quận Giao Chỉ. Đất Văn Lang Di xưa. Thuộc Tượng Quận thời Tần. Nhà Ngô chia Giao Chỉ đặt quận Tân Hưng. Nhà Tấn đổi là Tân Xương. Nhà Tống, nhà Tề theo đó, đổi là Hưng Châu. Đầu thời Tùy đổi là Phong Châu. Dương Đế đổi, nhập vào Giao Chỉ. Niên hiệu Vũ Đức lại đặt Phong Châu vậy.


[www.guoxue.com]

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: Tích Dã (---)
Date: April 17, 2009 08:56PM
越史略


國初沿革

昔黄帝既建萬國以交趾逺在百粤之表莫能統屬遂界於西南隅其部落十有五焉曰交趾越裳氏武寧軍寧嘉寧寧海陸海湯泉新昌平文文郎九真日南懐驤九德皆禹貢之所不及至周成王時越裳氏始獻白雉,《春秋謂之闕地,《戴記謂之雕題至周莊王時嘉寧部有異人焉能以幻術服諸部落自稱碓王都於文郎號文郎國以淳質爲俗結繩爲政傳十八世皆稱碓王越勾踐嘗遣使来諭碓王拒之周末爲蜀王子泮所逐而代之泮築城於越裳號安陽王竟不與周通秦末趙佗據欝林南海象郡以稱王都番禺國號越自稱武皇時安陽王有神人曰臯魯能造栁弩一張十放教軍萬人武皇知之乃遣其子始為質請通好焉後王遇臯魯稍薄臯魯去之王女媚珠又與始私焉始誘媚珠求看神弩因毁其機馳使報武皇武皇復興兵攻之軍至王又如初弩折衆皆潰散武皇遂破之王銜生犀入水水為之開國遂屬趙

趙紀

武帝

諱佗姓趙氏漢真定人秦始皇三十三年已併天下略定揚粤以任囂為南海尉佗為龍川令至二世時囂死以佗代囂秦滅佗并有桂林象郡之地自立為南越王漢髙祖既定天下遣陸賈奉璽綬往拜佗為南越王漢髙后五年王自即皇帝位發兵攻長沙招撫甌駱閩粤皆屬焉有地東西萬餘里御黄屋左纛漢文帝立復遣陸賈遺書問之賈至王慙請復為藩王長供貢職至漢武帝建元之年薨諡曰武帝在位十八年孫胡立是為文王

馬援

後漢光武建武十六年麊泠縣人徴側雒將之女也嫁為米鳶縣人詩索妻性甚雄勇所為不法太守蘇定繩之以法側怒乃與其妹貳起峰州兵攻陷郡縣九真日南皆應之略定漢南外六十五城自立為王都麊泠十七年漢拜馬援為伏波將軍以擊之十八年援縁海而進隨山刋道千有餘里至浪泊上與側戰側不能支退保禁溪十九年側益困遂走為援所殺追擊其餘黨至居風降之乃立銅柱為極界分其地為封溪望海二縣援又築為繭城其圎如繭二十一年秋援還漢

楊瞟

初州人阮賁反據龍編城自稱南越帝置百官改元天德國號萬春梁武帝拜瞟為交州刺史陳霸先為司馬以擊賁賁率衆三萬拒之敗於朱鳶又敗於蘇歴江口賁奔嘉寧城瞟進軍圍之賁奔入新昌獠中又率衆二萬出屯典澈湖大造船艦充塞湖中是夜江水暴漲霸先率所部兵隨流先進諸軍鼓譟以從賁不為備因大潰退保屈獠洞病卒餘黨畏霸先兵勢乃舉衆就降賁子天寳入九真霸先舉兵討平之以九真為愛州

劉方

隋文帝仁壽二年州帥阮佛子據越王城作亂兄子大權據龍編文帝以方為行軍總管以討佛子佛子懼請降焬帝大業中以林邑反帝改日南為驩州以方為驩州道行軍總管以討林邑方軍至闍梨江林邑兵皆騎巨象四面而至方乃多掘小坑草覆其上既戰偽北林邑逐之象多陷死因以鋭師繼之林邑大敗俘馘萬計方追之屢戰皆捷過馬援銅柱南八日至其國都林邑王梵志棄城遁方入城獲廟主十八皆鑄金為之方刻石紀功而還道病卒

呉紀

前呉王

諱權姓呉氏先府之子也事楊廷藝為將軍後晉髙祖天福三年冬十二月權自愛州舉兵攻公羨公羨使人求救於南漢劉龑以其子萬王洪操為靜海軍節度使將兵救公羨洪操舟師自白藤江入欲攻權而權已殺公羨矣權聞洪操至於海口潛植鐡頭大杙及漲潮使以小舟挑戰而佯北洪操追之潮退杙露洪操拒戰不暇而潮落甚急舟盡礙於杙内權奪擊大破之溺死過半殺洪操權始稱王以晉出帝開運元年王薨在治凡七年

_____________________


Việt sử lược


Biến đổi đầu tiên của nước

Xưa Hoàng Đế đã dựng nước phụ thuộc, vì Giao Chỉ xa ở ngoài đất Bách Việt, không thể thống thuộc, rồi giới hạn ở góc tây nam, có mười lăm bộ lạc ở đất này, gọi là Giao Chỉ, Việt Thường Thị, Vũ Ninh, Quân Ninh, Gia Ninh, Lục Hải, Dương Tuyền, Tân Xương, Bình Văn, Văn Lang, Cửu Chân, Nhật Nam, Hoài Tương, Cửu Đức, đều không đề cập trong Vũ cống. Đến thời Chu Thành Vương, Viêt Thường Thị lần đầu dâng chim trĩ trắng, "Xuân thu" nói là Khuyết Địa, "Đái kí" nói là Điêu Đề. Đến thời Chu Trang Vương, bộ Gia Ninh có người kì lạ, có thể lấy ảo thuật chinh phục các bộ lạc, tự xưng Hùng Vương, đô ở Văn Lang, hiệu nước Văn Lang. Lấy phong tục chất phác, thắt nút dây thừng làm chính sự, truyền mười tám đời, đều xưng Hùng Vương. Câu Tiễn của nước Việt từng sai sứ giả đến dụ, Hùng Vương chống lại. Cuối thời Chu, bị con của Thục Vương tên là Phán chiếm nước rồi kế tục. Phán đắp thành ở Việt Thường, hiệu An Dương Vương, không qua lại với nhà Chu...

Kỉ nhà Triệu

Vũ Đế

Tên húy là Đà, họ Triệu, người Chân Định đất Hán. Năm thứ ba mươi ba thời Tần Thủy Hoàng đã hợp lại thiên hạ, chiếm lất đất Dương Việt, lấy Nhậm Hiêu làm Nam Hải Úy, Đà làm Long Xuyên Lệnh, đến thời Nhị Thế, Hiêu chết, lấy Đà kế tục Hiêu. Nhà Tần diệt, Đà chiếm đất Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương. Cao Cổ nhà Hán đã dẹp yên thiên hạ, sai Lục Giả nhận ấn đến phong, ban cho Đà làm Nam Việt Vương. Năm thứ năm thời Cao Hậu nhà Hán, Vương tự lên ngôi vị Hoàng đế. Phát binh đánh Trường Sa, chiêu dụ Âu Lạc, Mân Việt, đều phụ thuộc. Có đất đông tây hơn vạn lí, cưỡi xe mui vàng cắm cờ tiết mao bên trái. Văn Đế nhà Hán lên ngôi vị, lại sai Lục Giả đem thư đến hỏi. Giả đến, Vương sợ, tạ lỗi, xin lại làm Phiên Vương, suốt đời làm cống chức. Đến niên hiệu Kiến Nguyên thời Vũ Đế nhà Hán, chết, thụy gọi là Vũ Đế. Ở ngôi vị mười tám năm, cháu là Hồ lập, là Văn Vương.

Mã Viện

Năm thứ mười sáu niên hiệu Kiến Vũ thời Quang Vũ nhà Hậu Hán, người huyện Mi Linh là Trưng Trắc, con gái của Lạc Tướng vậy, lấy chồng làm vợ của người huyện Mễ Diên là Thi Sách, tính rất hùng dũng, vốn không theo phép tắc, Thái thú Tô Định ràng buộc để giữ phép tắc, Trắc giận, bèn cùng em mình là Nhị dấy binh ở Phong Châu, đánh hãm quận huyện, Cửu Chân, Nhật Nam đều ứng theo, chiếm lấy đất ngoài ở phía nam nhà Hán sáu mươi lăm thành. Tự lập làm Vương, đô ở Mi Linh. Năm thứ mười bảy, nhà Hán phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân để đi đánh. Năm thứ mười tám, Viện theo biển mà tiến, bạt núi mở đường hơn nghìn dặm, đến trên hồ Lãng Bạc đánh với Trắc. Trắc không thể chống, rút về giữ Cấm Khê. Năm thứ mười chín, Trắc thêm khốn, rồi chạy, bị Viện giết. Đuổi đánh dư đảng của Trắc đến Cư Phong, bắt hàng, bèn lập cột đồng làm giới hạn tận cùng, chia đất này làm hai huyện Phong Khê, Vọng Hải, Viện lại xây Kiểm Thành, hình của thành này tròn như tổ kén. Mùa thu năm thứ hai mươi mốt, Viện trở về đất Hán.

Dương Phiếu

Người Sơ Châu. Nguyễn Bí làm phản, chiếm thành Long Biên, tự xưng Nam Việt Đế, đặt trăm quan, đổi niên hiệu Thiên Đức, hiệu nước Vạn Xuân. Lương Vũ Đế phong Phiếu làm Giao Châu Thứ sử, Trần Bá Tiên làm Tư mã, để đánh Bí. Bí đem quân ba vạn chống, thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch. Bí chạy đến thành Gia Ninh, Phiếu tiến quân bao vây. Bí chạy vào người chỗ của người Lão ở Tân Xương, lại đem quân hai vạn đi ra, đồn ở hồ Điển Triệt, tạo thuyền hạm, ngăn đầy giữa hồ. Buổi đêm nước sông chợt dâng lên, Bá Tiên đem quân bản bộ theo dòng tiến lên trước, các quân đánh trống để lên theo. Bí không phòng bị, do đó thua to, rút về giữ động Khuất Lão, bệnh chết. Dư đảng sợ quân của Bá Tiên, bèn đưa quân đến hàng. Con của Bí là Thiên Bảo vào Cửu Chân, Bá Tiên đem binh dẹp yên. Lấy Cửu Chân làm Ái Châu.

Lưu Phương

Năm thứ hai niên hiệu Nhân Thọ thời Tùy Văn Đế, Súy ở châu là Nguyễn Phật Tử chiếm thành Việt Vương làm loạn, con của anh là Đại Quyền giữ Long Biên. Văn Đế lấy Phương làm Hành quân Tổng quản, để đánh Phật Tử. Phật Tử sợ, xin hàng...


[www.guoxue123.com]

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: gôcLê (---.rev.stofanet.dk)
Date: April 17, 2009 11:20PM
Chào bác Tích Dã.

Cám ơn bác rất nhiều vì đã tìm đọc và chuyển dịch những đoạn Hán văn quan trọng ở trên -nếu bác còn nữa thì còn cám ơn nữa! :-)

Có một đoạn trong An Nam Chí Lược mà gôcLê thấy lời dịch có phần không rõ nghĩa, dễ khiên người đọc hiểu sao cũng được. Câu đó là

" ... Từ nhà Đinh trở về sau, mới chịu vương-tước của nhà Tống gia-phong. Nhưng ở trong nước _tự đặt danh-hiệu_, bắt chước việc cũ của Triệu-Đà, tự phong trong nước có vương, hầu; đặt quan có "chánh", có "tiếp", cũng giống như "phẩm" và "tòng" vậy." (Học Hiệu, quyển đệ thập tứ)

Nếu được, bác thử đọc và so sánh với bản ANCL của Tứ Khố Toàn Thư xem đoạn văn tương đương có sai biệt gì không. Cám ơn bác trước.

gôcLê

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: gôcLê (---.server4you.de)
Date: April 18, 2009 06:12AM
Quote:

Một chi tiết quan trọng là trong Toàn Thư, khi ghi chép quốc hiệu nhà Đinh là Đại Cù Việt 大瞿越, xét về Hán Văn , có thể hiểu theo ý nghĩa của Cù như là tên họ, danh xưng Cù Đàm, vũ khí cổ,( hay thông giả : con đường thông tứ phương) cũng khiến người biết Hán văn phải " Gãi đầu phân vân " không biết nên hiểu theo nghĩa nào và khi xét theo kết cấu : Hán+Nôm là " Đại Cồ " + Việt hay Nôm+ Hán là Đại+" Cồ Việt " là một sự bất thường trong toàn văn chữ Hán sẽ gây " sốc " và chắc chắn Ngô Sĩ Liên sẽ phải chú giải tường tận về chữ Nôm Cồ này , phương ngôn gọi là " Cồ " theo nghĩa là lớn như đã từng chú giải về chữ Vũ Cát ( Cát phương ngôn gọi là Cứt ) và nếu có sự đột biến xuất hiện chữ Nôm : Trên đại dưới cù ( Theo Nguyễn Anh Huy ) lại càng rất cần dến lời chú giải rõ ràng nhưng như ta đã biết, không hề có một chú giải nào về sự có mặt của chữ Nôm bất thường trong Hán văn điều này khẳng định 大瞿越 không có chữ Nôm nào dù là Hán giả tá " Cồ " hay hình thanh, hội ý . Đừng vội lấy cớ là Ngô sĩ liên sơ xuất không chú giải vì như vậy là nguỵ biện, NSL là một sử gia rất thận trọng hơn nữa vua Lê Thánh Tông không thể làm ngơ chuyện này đâu vì ông nổi tiếng về thơ Nôm ! Càng khẳng định, tôn vinh chữ Nôm Cồ có từ thời Đinh và buộc phải chú giải cho mọi người biết - Ngay Toàn Thư cũng đã ghi chép quốc âm chỉ có vào thời Nguyễn Thuyên thuộc nhà Trần - Do đó khi viện vào lý lẽ cho là Đại Cồ Việt là do dân gian đọc theo kiểu " giả cầy " là một sự phi lý, không có bằng chứng gì hết và cũng không thể tự ý sửa quốc hiệu " Đại Việt " vì chữ "Đại: lớn quá dễ hiểu với người biết chữ Hán " lõm bõm " chẳng bao giờ có chuyện ngớ ngẩn , giải thích một chữ " Đại " ai cũng biết để đọc là " Cồ " thành " Đại Cồ Việt " ! Xét tới xét lui, không có gì chứng minh thời nhà Đinh có quốc hiệu " giả cầy " là Đại Cồ Việt hay Cồ Việt .

Phân tích này gôcLê nghĩ nhiều người đã/sẽ đồng ý về giá trị của nó. Chỉ xin mạn phép nhấn mạnh một chỗ để không tạo ra một ... quantum leap -"bước nhảy lượng tử" khi nó chưa cần thiết :-) Chỗ đó là "không có gì chứng minh thời nhà Đinh có quốc hiệu "giả cầy" là Đại Cồ Việt - tức là quốc hiệu Đại Cồ Việt nếu có thì "Cồ" không thể hiểu là từ dân gian dùng kèm với chữ Hán [Đại] nhằm giải nghĩa chữ Hán này.

Bước kế tiếp là tạm để thuyết khảo cổ qua một bên, trở lại với hiểu biết công ước: Đại Cồ/Cù Việt là quốc hiệu chính thức và thăm dò xem, từ căn bản này có cách nào giải nỗi vấn đề đặt ra từ các viên gạch Hoa Lư hay không. Không làm thế thì dễ dàng đi đến chỗ nói về Ngô Sĩ Liên, Lê Thánh Tông giống như buộc tội (bị can) XYZ giết người _cố ý_ dù chưa xét kĩ xem XYZ có hay không can tội giết người.

Từ điểm này gôcLê muốn lập lại một ý: "Thuyết khảo cổ" xét ra đã có thể vô tình vấp vào lỗi buộc tội Ngô Sĩ Liên sửa đổi lịch sử một cách vô lí. Nếu quốc hiệu thời Đinh Lê là Đại Việt, có khả năng rất cao là nó phải được nhắc đến trong Đại Việt Sử Kí và các sử liệu nào đó mà Ngô Sĩ Liên dùng viết TT. Có như thế mà ông không viêt theo, trái lại dấu biệt rồi ném ra quốc hiệu "dân giả" Đại Cồ Việt! Không có lí do gì để nghĩ là điều này xảy ra.

Hợp lí hơn là giả định rằng quốc hiệu Đại Cồ/Cù Việt được nhắc đến trong ít nhất một sử liệu mà Ngô Sĩ Liên sử dụng để viết Toàn Thư. Giả định này có lẽ không thể chứng minh theo cách quen thuôc, do thiếu cứ liệu cụ thể. Nhưng theo gôcLê nó cũng không dễ bác bỏ. Nói vắn tắt, lí do chính là VSL, ANCL không đủ tư cách người chứng :-), và sự thiếu vắng tên Đại Cồ Việt trong LNCQ, VĐUL, vv. thì có thể giải thích được từ một kĩ thuật ngữ văn (?) đơn giản.

Theo đó, chưa cần thiết phải đặt vấn đề Ngô Sĩ Liên vâng lệnh Lê Thánh Tông để sáng tác ra một quốc hiệu cho nhà Đinh.

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: Tích Dã (---.hnpt.com.vn)
Date: April 18, 2009 06:57AM
岭外代答

外国门上

安南国

国初其部内乱有丁都领按宋史作部领”。与其子琏率众讨平之众立为帅三年而私命琏为节度使开宝六年琏遣使贡方物制以琏特进检校太师充静海军节度观察处置等使安南都护兼御史大夫上柱国济阴郡开国公仍赐推诚顺化功臣八年又封交址郡王琏死黎桓按原本作亘避钦宗讳今依宋史改正篡立太平兴国中桓以交州叛朝廷因以抚之桓死子至忠立大中祥符三年至忠卒有子才十岁李公蕴冒姓黎杀之自称留后造使请命授以黎氏官公蕴死子德政立来告哀自称留后天圣六年授安南都护交址郡王宝元初进南平王德政死子日尊立自称大越国李氏第三帝日尊死子干德立自号明王干德初立权移臣下大臣李上吉首建叛议而广西白州进士徐伯祥者有功于州不得官导以犯边陷邕廉三州朝廷遣郭逵致讨几覆其国乃以表乞降会王师大疫逵受表班师时熙宁八年也干德死有遗腹子在占城奉而立之曰天祚按宋史绍兴二年干德卒子阳焕嗣八年阳焕卒子天祚嗣此有误绍兴二十六年入贡干道癸巳朝旨符广西帅司下交址买驯象天祚因乞以象贡许之未入贡而天祚死嗣子龙不以闻而冒天祚名称贡封为安南国王既受封乃以天祚名乞国印及上天祚遗表朝廷命广西提刑廖蘧为使至钦州吊祭复立龙为安南国王

   其国僭伪自李日尊始伪谥其祖曰太祖神武自号曰大越国伪年曰天贶继以十八字尊号干德立乃犯边朝廷遣郭逵为招抚使赵卨副之进至湳定江干德奉表请降纳之

______________________________


Lĩnh Ngoại đại đáp


Ngoại Quốc môn

Nước An Nam

Nước lúc đầu, bộ của nước này loạn ở trong, có Đinh Đô Lĩnh xét trong Tống sử nói là "Bộ Lĩnh". Người này, cùng con mình là Liễn đem binh chúng đánh dẹp. Chúng lập làm Súy, ba năm thì ngầm ra lệnh Liễn làm Tiết độ sứ. Năm thứ sáu niên hiệu Khai Bảo, Liễn sai sứ giả cống đồ vật địa phương, ban chế lệnh lấy Liễn đặc tiến, Kiểm hiệu Thái sư thêm Tĩnh Hải Quân Tiết độ Quan sát xứ trí đẳng sứ, An Nam Đô hộ kiêm Ngự sử Đại phu Thượng trụ quốc Tế Âm Bộ Khai Quốc Công, ban Thôi Thành Thuận Hóa Công Thần. Năm thứ tám lại phong Giao Chỉ Quận Vương. Liễn chết, Lê Hoàn xét bản gốc viết là Tuyên, tránh tên húy của Khâm Tông. Nay dựa vào Tống sử đổi lại. Soán lập. Giữa niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, Hoàn dựa vào Giao Chỉ làm phản, triều đình theo đó phủ dụ. Hoàn chết, con là Chí Trung lập. Năm thứ ba niên hiệu Đại Trung Tường Phù, Chí Trung chết, có con mới mười tuổi, Lí Công Uẩn giả xưng họ Lê, giết đi, tự xưng Lưu Hậu, báo sứ giả xin mệnh lệnh, trao cho họ Lê chức quan. Công Uẩn chết, con là Đức Chính lập, đến báo tin buồn, tự xưng Lưu Hậu. Năm thứ sau niên hiệu Thiên Thánh, trao cho chức An Nam Đô hộ, Giao Chỉ Quận Vương. Đầu niên hiệu Bảo Nguyên, tiến phong Nam Bình Vương. Đức Chính chết, con là Nhật Tôn lập, tự xưng là Hoàng đế thứ ba của họ Lí nước Đại Việt. Nhật Tôn chết, con là Can Đức [Càn Đức] lập, tự hiệu Minh Vương. Càn Đức mới lập, quyền lực rơi vào quần thần, đại thần Lí Thượng Cát [Lí Thường Kiệt] đứng đầu bàn bạc làm phản [phản nhà Tống], rồi tiến sĩ Dư Bá Tường ở Bạch Châu, Quảng Tây, có công ở châu mà không được ban chức quan, dẫn đừng phạm vào biên cảnh, hãm ba châu Ung, Khâm, Liêm...

Nước này giả mạo bắt đầu từ Nhật Tôn. Mạo tôn tên thụy của tổ gọi là Thái Tổ Thần Vũ, tự hiệu gọi là nước Đại Việt, mạo niên hiệu Thiên Huống, tiếp sau mười tám chữ tôn hiệu. Can Đức lập bèn phạm vào biên cảnh. Triều Đình sai Quách Qùy làm Chiêu phủ sứ, Triệu Tiết làm phó. Đi đến sông Noãn Định, Can Đức dâng biểu xin hàng, hứa.

  
[www.ys2557.com]

Re: Vạn Xuân, Vạn An, và Đại Cồ Việt
Posted by: gôcLê (---.aof.su)
Date: April 18, 2009 08:51AM
Quote:
... Nhật Tôn lập, tự xưng là _Hoàng đế thứ ba_ của họ Lí nước Đại Việt. ...

Nước này giả mạo bắt đầu từ Nhật Tôn. Mạo tôn tên thụy của tổ gọi là Thái Tổ Thần Vũ, tự hiệu gọi là nước Đại Việt, mạo niên hiệu Thiên Huống, tiếp sau mười tám chữ tôn hiệu.

Xanh kiu lần nữa, mr Tích Dã :-)

gôcLê dốt đặc về sách Trung hoa xưa nên vừa mới lùng xục trên mạng để xem niên đại và khả năng _Lĩnh Ngoại Đại Đáp_ có bị ai táy máy sửa đổi, uốn nắn, thêm bớt gì không. Không thấy chi cả ngoài thông tin: do Chu Khứ Phi đời Tống soạn (1178).

Thế thì có thể nói chắc rằng anh vua Lí Nhật Tôn đã đường hoàng bắt loa nói thật lớn, rằng tui là hoàng đế, và không phải hoàng đế đầu tiên, mà ngay trong đám heheeh cha ông của tui cũng là là hoàng đế oai phong lẫm liệt, và rằng quốc hiệu của nước tui là Đại Việt, ai hong chịu thì vô đây mà nói chiệng! :-)

Một chỗ nữa trong tác phẩm dễ thương này :-) nói đến nước Đại Việt (nếu các bác dịch thuật đừng can thiệp thô bạo vào nguyên tác)

“Ở nước Đại Việt, dưới thời Lý, hàng năm, ngày mồng 7 tháng giêng, mỗi binh sĩ được chi 300 đồng tiền, lụa vải mỗi thứ một tấn. Ngày thường, hàng tháng mỗi binh sĩ được phát 10 bó lúa. Tết Nguyên đán, cho quân sĩ ăn xôi và khao quân bằng cá kho”.
[tiengiangdost.gov.vn]

Goto Page: 1234Next
Current Page: 1 of 4


Your Name: 
Your Email: 
Subject: 
Việt mode:     Off   Telex   VNI   VIQR   Combination
Powered by phpWebSite ©.       Theme design © Sharondippity